Tải bản đầy đủ (.pdf) (95 trang)

Thử việc theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (982.38 KB, 95 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN MỸ LINH

THỬ VIỆC THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
– THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2022


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN MỸ LINH

THỬ VIỆC THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
– THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số: 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TIẾN SĨ BÙI KIM HIẾU

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2022



i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn thạc sĩ: “Thử việc theo quy định của pháp luật lao
động Việt Nam - Thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh” là cơng trình nghiên
cứu của mình. Các dẫn chứng có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc và kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực chưa từng được ai công bố trước đây. Thể
thức trình bày theo đúng quy định chung của thể thức văn bản và thể thức theo yêu cầu
của cơ sở đào tạo.
Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về nghiên cứu của mình.
TP. HCM, ngày 8 tháng 8 năm 2022.
Học viên
Trần Mỹ Linh


ii

LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo - TS. GVC. Bùi Kim
Hiếu người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tơi trong suốt q trình thực hiện và
hồn thành Luận văn thạc sĩ.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo của Trường cùng
quý thầy cô giáo các Trường Đại học Ngân hàng Tp. Hồ Chí Minh đã giảng dạy, truyền
đạt cho tơi những kiến thức cả về lý luận và thực tiễn trong suốt q trình học tập và
thực hiện Luận văn.
Tơi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè đã giúp
đỡ tạo mọi điều kiện tốt nhất để tơi hồn thành Luận văn thạc sĩ này.



iii

TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài: THỬ VIỆC THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
- THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
 Lý do chọn đề tài nghiên cứu: Thử việc là một hoạt động quan trọng trong QHLĐ.
Tuy nhiên, thực trạng pháp lý, tình hình áp dụng các quy định pháp luật về thử việc
và cách thức giải quyết các tranh chấp thử việc hiện nay cịn nhiều vướng mắc và bất
cập. Vì vậy, tác giả quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Thử việc theo quy định của
pháp luật lao động Việt Nam - Thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh”.
 Mục tiêu nghiên cứu: tác giả phân tích các quy định pháp luật về thử việc, đồng
thời nghiên cứu các nội dung liên quan đến NLĐ và NSDLĐ khi giao kết thực hiện
thử việc của NLĐ và một số nội dung khác có liên quan. Từ đó đưa ra được các kiến
nghị nhằm góp phần vào việc nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật thử việc và hoàn
thiện các quy định pháp luật điều chỉnh về vấn đề này.
 Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp,
so sánh, hệ thống pháp luật, phân tích luật viết để làm rõ các quy định của pháp luật
hiện hành về thử việc. Phương pháp phân tích huống, vụ việc để khảo sát thực tiễn,
phương pháp phân tích, tổng hợp, RIA là các phương pháp khác được tác giả sử dụng
trong bài luận văn.
 Kết quả nghiên cứu: Tác giả đã phát hiện các bất cập trong quy định về thử việc,
nhận biết và liệt kê các nguyên nhân làm nảy sinh vướng mắc khi áp dụng pháp luật
về thử việc và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thử việc.
 Kết luận và hàm ý: Luận văn có ý nghĩa đáng kể trong việc chỉ ra những tồn tại
trong quy định thử việc và thực tiễn áp dụng pháp luật về thử việc. Thông qua nghiên
cứu, tác giả đưa ra các đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật về thử việc hướng
đến việc cân bằng lợi ích giữa NLĐ và NSDLĐ, đưa ra các phương hướng giải quyết
khi xảy ra tranh chấp giữa NLĐ và NSDLĐ, bảo vệ quyền và lợi ích cho NLĐ trong
QHLĐ.
Từ khóa: Thử việc, quy định về thử việc, thỏa thuận thử việc.



iv

THESIS’ ABSTRACT
Title: PROBATION REFERS TO VIETNAMESE’S LABOUR LAW –
PRACTICAL APPLICATION IN HO CHI MINH CITY
 Reason for writing: Probation is one of the most important activities in labor
relation. However, the current legal situation, application of legal provisions on
probation and methods of resolving probationary disputes currently have a number
of problems and inadequacies. Therefore, the author decided to choose the reseach
topic "Probation refers to Vietnamese Labor Law - Practical application in Ho Chi
Minh City".
 Problem: The author analyzes the legal provisions on probation, at the same time
studies the contents related to the employee and the employer when entering into the
probationary period of the employee and a number of other related contents. After
that, recommendations are made to contribute to improving the effectiveness of the
application of the probationary law and perfecting the governing legal provisions on
this issue.
 Methods: The author uses methods of analysis, synthesis, comparison, legal system,
analysis of written law to clarify the current legal provisions on probation. The
method of analyzing the case, the case to investigate the reality, the method of
analysis, synthesis, RIA are other methods used by the author in the thesis.
 Results: The author discoveres inadequacies in the regulations on probation,
identifies and lists the causes of problems when applying the law on probation, and
makes recommendations to improve the law on probation.
 Conclusion: The thesis has significant meaning in pointing out the shortcomings in
the probation regulations and practical application of the law on probation. Through
the research, the author makes suggestions to improve the legal provisions on
probation in order to balance the interests between employees and employers, and

provide solutions when disputes arise between employees and employers. , protect
the rights and interests of employees in labor relations.
Keywords: Probation, regulations on probation, probation agreement.


v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. BLLĐ

Bộ luật Lao động

2. BLDS

Bộ luật Dân sự

3. HĐLĐ

Hợp đồng lao động

4. QHLĐ

Quan hệ lao động

5. NLĐ

Người lao động

6. NSDLĐ


Người sử dụng lao động


vi

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ THỬ VIỆC............................................................. 8
1.1. Khái niệm thử việc ............................................................................................... 8
1.2. Đặc điểm thử việc .............................................................................................. 13
1.3. Ý nghĩa của thử việc .......................................................................................... 22
1.3.1. Đối với người sử dụng lao động ................................................................. 22
1.3.2. Đối với người lao động ............................................................................... 24
1.4. Các hình thức thỏa thuận của thử việc ............................................................... 25
1.5. Nội dung của thỏa thuận thử việc ...................................................................... 27
1.6. Nguyên tắc giao kết thỏa thuận thử việc............................................................ 29
Tiểu kết chương 1 ..................................................................................................... 30
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ
THỬ VIỆC .................................................................................................................. 32
2.1. Quy định về nguyên tắc thử việc ....................................................................... 32
2.2. Quy định về thỏa thuận thử việc ........................................................................ 36
2.3. Quy định về thời gian làm việc và thử việc ....................................................... 39
2.4. Quy định về tiền lương trong thời gian thử việc................................................ 47
2.5. Quy định về thông báo kết quả thử việc và hệ quả pháp lý ............................... 48
2.6. Quy định về hủy bỏ thỏa thuận thử việc ............................................................ 53
Tiểu kết chương 2 ..................................................................................................... 57
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT............................................. 58
VỀ THỬ VIỆC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .............................................. 58
VÀ GIẢI PHÁP GĨP PHẦN HỒN THIỆN PHÁP LUẬT ................................. 58
3.1. Kiến nghị hồn thiện pháp luật về nguyên tắc thử việc từ những hạn chế, bất

cập trong quy định và thực trạng áp dụng pháp luật ................................................. 58
3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận thử việc từ những hạn chế, bất cập
trong quy định và thực trạng áp dụng pháp luật ....................................................... 60
3.2.1 Thực trạng áp dụng pháp luật về thỏa thuận thử việc ................................. 60
3.2.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về thỏa thuận thử việc ............... 65
3.3. Kiến nghị hoàn pháp luật về thời gian làm việc và thử việc từ những hạn chế,
bất cập trong quy định và thực trạng áp dụng pháp luật ........................................... 66
3.4. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tiền lương trong thời gian thử việc từ những
hạn chế, bất cập trong quy định và thực trạng áp dụng pháp luật ............................ 67


vii
3.5. Kiến nghị hồn thiện pháp luật về thơng báo kết quả thử việc và hệ quả pháp lý
từ những hạn chế, bất cập trong quy định và thực trạng áp dụng pháp luật ............. 72
3.6. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hủy bỏ thỏa thuận thử việc từ những hạn chế,
bất cập trong quy định và thực trạng áp dụng pháp luật ........................................... 74
3.6.1. Thực trạng áp dụng về hủy bỏ thỏa thuận thử việc .................................... 74
3.6.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền hủy bỏ thỏa thuận
thử việc .................................................................................................................. 76
Tiểu kết chương 3 ..................................................................................................... 76
KẾT LUẬN ................................................................................................................. 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................... I
CÁC BẢN ÁN ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN ...................................... III


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển kinh tế tồn cầu hóa, lao động trở
thành nguồn lực quan trọng của bất kỳ quốc gia nào. Trong quá trình lao động, các yêu
cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao, lành nghề, có trình độ kỹ thuật và sáng tạo là

vấn đề tất yếu được đặt ra. Với tính cấp thiết đó, hoạt động “thử việc” trở thành yêu cầu
khách quan đối với người sử dụng lao động (NSDLĐ) và người lao động (NLĐ) trước
khi các bên thiết lập quan hệ lao động (QHLĐ) chính thức nhằm nâng cao kinh nghiệm,
năng lực chuyên môn của NLĐ và tạo điều kiện để NSDLĐ kiểm tra, giám sát, tuyển
dụng nguồn nhân lực đạt u cầu. Đó chính là động lực để thúc đẩy nền kinh tế Việt
Nam phát triển đồng thời thu hút NLĐ tham gia vào QHLĐ.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, trước những thách thức khi phải đối mặt
với nhiều bất ổn trên thế giới cũng như trong nước như dịch bệnh Covid 19, cuộc chiến
thương mại Mỹ - Trung hay khắc phục những hậu quả mà thiên tai, bão lũ ở miền Trung
gây ra… đồng thời đáp ứng với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
lấy phát triển kinh tế cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước làm nền tảng để hội nhập
kinh tế quốc tế thì một trong những vấn đề cần phải được chú trọng nhất không thể
không nhắc đến đó chính là giải quyết được vấn đề việc làm cho người lao động trong
nước. Với số lượng người lao động trẻ dồi dào, được trang bị đầy đủ các kiến thức
chuyên môn cao cùng các kỹ năng làm việc hiệu quả, dễ dàng nắm bắt được xu thế quốc
tế thì Việt Nam hồn tồn có khả năng để đạt được những mục tiêu kinh tế mà mình đã
đề ra. Thực tế tại sao có quá nhiều lao động mặc dù có khả năng thỏa mãn các yêu cầu
lao động đặt ra của nhà tuyển dụng lại cảm thấy thoải mái hơn khi làm việc một mình,
riêng lẽ và chọn các công việc như chạy xe công nghệ, bán hàng, lao động tự do,…khiến
cho sự cạnh tranh trong các ngành nghề này ngày một gia tăng, đó có phải khả năng chủ
quan là họ muốn thế hay vì một nguyên nhân khách quan nào khác về vấn đề tiền lương
không ổn thỏa hay môi trường làm việc, yêu cầu công việc chưa thực sự phù hợp của
các doanh nghiệp.
Từ khi có Bộ luật Lao động đến nay, các quy định về thử việc đã được ghi nhận
và dần hoàn thiện trong các văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên các quy định của
pháp luật nước ta chỉ dừng lại ở mức độ chung về quyền và nghĩa vụ của các bên trong

1



quan hệ thử việc. Thực tế, quá trình thử việc đã phát sinh nhiều vấn đề mà pháp luật lao
động chưa dự liệu hết. Điều này dẫn đến hệ quả, nhiều tranh chấp phát sinh nhưng chưa
được giải quyết thỏa đáng và không thống nhất, nhất quán về phương án xử lý giữa các
cơ quan, các cấp Tịa có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động. Vì vậy, ảnh hưởng
đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ thử việc.
Với những tồn tại kể trên, việc nghiên cứu về thử việc trong pháp luật lao động
Việt Nam là vấn đề mang tính cấp thiết. Bởi lẽ, hoạt động thử việc là nền tảng để tiến
đến một QHLĐ chính thức, lâu bền và ổn định. Tuy nhiên, NLĐ đã và đang gặp những
bất lợi khi tham gia vào quan hệ thử việc. Bởi hiện nay, nhiều đơn vị lao động chạy theo
lợi nhuận, năng suất kinh tế mà cố tình thiết lập các quan hệ thử việc trái với quy định
pháp luật. Mặt khác, dưới tác động quan hệ mua bán hàng hóa sức lao động, NLĐ có vị
thế yếu hơn so với NSDLĐ, do vậy họ dễ bị lạm dụng và bóc lột sức lao động. Đặc biệt,
hệ thống văn bản quy phạm pháp luật lao động về thử việc vẫn còn một số vướng mắc,
bất cập trong việc quy định về thử việc cũng như việc áp dụng quy định của pháp luật
này để giải quyết một số tranh chấp xảy ra đối với hợp đồng thử việc giữa NLĐ với
NSDLĐ.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế, một yêu cầu quan trọng được đặt ra là cần phải
nghiên cứu, hiểu, nhận thức đúng đắn cũng như nhận diện những bất cập về quy định
thử việc. Trên cơ sở đó, có thể đề xuất phương hướng, biện pháp giải quyết những vấn
đề phát sinh và hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh về vấn đề này, tác giả lựa
chọn đề tài: “Thử việc theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam - Thực tiễn áp
dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh” làm nội dung nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Thử việc hiện nay được quy định trong Bộ luật Lao động năm 2019 có hiệu lực
ngày 1/1/2021 cũng đã sửa đổi bổ sung một số nội dung về thử việc và các vấn đề liên
quan đến thử việc ở các văn bản quy phạm pháp luật liên quan và văn bản quy phạm
dưới luật. Trước thực tế đó, tác giả muốn tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích thử việc
một cách khái quát nhất trên cơ sở các quan điểm khác nhau và đi đến một kết luận
chung về khái niệm thử việc. Đồng thời, nghiên cứu, tìm hiểu các nội dung liên quan


2


đến NLĐ và NSDLĐ khi giao kết thực hiện thử việc của NLĐ và một số nội dung khác
có liên quan.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Phân tích những quy định của pháp luật lao động về thử việc, khai thác trên
nhiều phương diện lý luận, thực tiễn và những bất cập cịn vướng mắc, từ đó khẳng định
vai trị cũng như tầm quan trọng của thử việc.
- Với cách thức đối chiếu quy định tương ứng của một số quốc gia khác nhau,
phân tích và tìm hiểu cách thức xử lý của các cơ quan có thẩm quyền và chỉ ra mối liên
hệ giữa NLĐ và NSDLĐ trong quan hệ thử việc cũng như ưu và nhược điểm của các
quy định pháp luật qua lăng kính thực tiễn về thử việc.
- Tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến việc NLĐ gặp nhiều khó khăn khi bảo vệ
quyền và lợi ích của mình trong thời gian thử việc.
- Luận văn đưa ra các kiến nghị trên cơ sở học tập các quy định tiến bộ pháp luật
nước ngoài, hoàn thiện hệ thống pháp luật về thử việc nói riêng và pháp luật lao động
nói chung. Hướng đến việc bảo vệ quyền lợi cho cả NSDLĐ và NLĐ trong hoạt động
thử việc để đảm bảo được cơng bằng về lợi ích chung trong quan hệ lao động.
3. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quyền lợi của NLĐ và NSDLĐ đã và đang được thực hiện đúng với các quy
định của Bộ luật Lao động hiện hành và các văn bản dưới luật quy định chi tiết, hướng
dẫn thi hành. Việc quy định, lý giải và giải quyết các tranh chấp về hoạt động thử việc
nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu và khắc phục các thiếu sót, bất cập của quy
phạm pháp luật cũng như yêu cầu thực tiễn. Tuy nhiên, đây vẫn là vấn đề vẫn chưa nhận
được nhiều sự quan tâm trong QHLĐ nên những công trình nghiên cứu về đề tài này
khá ít, có đề cập nhưng chưa sâu sắc hoặc khơng cịn phù hợp với quy định pháp luật
hiện hành. Có thể kể đến một số đề tài nghiên cứu của các tác giả, điển hình có các cơng
trình nghiên cứu:

- Lê Thị Kim Nga (2009), Giải quyết tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động tại Tòa án thực trạng và giải pháp, luận văn thạc sĩ luật học, trường Đại
học Luật TP. Hồ Chí Minh;

3


- Trần Thị Thanh Hà (2013), “Bàn về một số vấn đề liên quan đến hợp đồng lao
động và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong quan hệ lao động theo Bộ Luật lao động
2012”, Tạp chí Tịa án nhân dân, (19);
- Nguyễn Hữu Chí, Ngơ Tuấn Dung, Phạm Thanh Vân (2005), Hoàn thiện, thực
thi pháp luật về lao động nữ ở doanh nghiệp ngoài nhà nước, NXB. Tư pháp;
- Đặng Văn Minh (2019), Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người lao động – Quan
thực tiễn các khu công nghiệp tại Thừa Thiên Huế, luận văn thạc sĩ luật học, Trường
Đại học Luật Đại học Huế.
Những đề tài trên không tập trung nghiên cứu chuyên sâu về quy định thử việc
trong pháp luật lao động Việt Nam mà chỉ bàn luận ở một khía cạnh nhỏ hẹp. Đa số các
đề tài chỉ dành một dung lượng rất ít để bàn luận và nghiên cứu về vấn đề này ở một
khía cạnh riêng lẻ.
- Lường Minh Sơn (2017), “Một số vấn đề về quy định thử việc trong pháp luật
lao động Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (06);
- Trần Văn Từ (2022), Bàn về quy định thử việc đối với người lao động. Bài viết
tập trung phân tích và bàn luận một số điểm mới giữa Bộ luật Lao động 2012 với Bộ
luật Lao động 2019 về quy định thử việc đối với người lao động. Bài viết còn chỉ ra một
số vướng mắc khi áp dụng quy định về thử việc của người lao động và từ đó đề xuất
một số giải pháp khắc phục.
Các cơng trình nghiên cứu về thử việc trong pháp luật lao động Việt Nam trong
nước đa phần sơ lược, chưa có một đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện hoàn chỉnh,
hầu hết chỉ phân tích một khía cạnh nhỏ như: khái niệm, tính chất, chưa đào sâu vào
mối liên hệ thực tiễn. Có đề tài chỉ tìm hiểu về nội dung có hay khơng đơn phương chấm

dứt HĐLĐ trong thời gian thử việc, có đề tài chỉ bàn luận về vấn đề thử việc đối với lao
động nữ theo quy định của Bộ luật Lao động năm 1994. Trong những bài nghiên cứu
trên, có thể kể đến bài viết “Một số vấn đề về quy định thử việc trong pháp luật lao động
Việt Nam” của tác giả Lường Minh Sơn. Có thể nói đây là bài nghiên cứu khái quát
nhất về vấn đề thử việc trong pháp luật lao động Việt Nam, tác giả đã bàn luận và phân
tích hầu hết các quy định pháp luật và đưa ra các đề xuất bảo vệ quyền lợi của NLĐ
trong quá trình thử việc khá chi tiết, rõ ràng. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu với dung
lượng một bài tạp chí khoa học nên phạm vi nghiên cứu còn nhỏ hẹp, chỉ xoáy quanh

4


các quy định pháp luật, chưa có sự tham khảo, so sánh với pháp luật nước ngoài, thiếu
minh chứng thực tiễn từ các vụ việc tranh chấp trên thực tế.
Như vậy, nhìn chung các cơng trình nghiên cứu về thử việc trong pháp luật lao
động còn khá hạn chế, chưa có nhiều cơng trình đưa ra các giải pháp cụ thể, bước đầu
nghiên cứu các tác giả chỉ dừng lại phân tích một vài nội dung trong thử việc mà không
cụ thể sửa đổi, bổ sung điều luật nào, lý giải và so sánh với pháp luật nước ngoài. Số
liệu và thực tiễn cịn khá hạn chế, nên các cơng trình chỉ nghiên cứu lý luận và chưa
dành nhiều sự đầu tư, quan tâm. Vì những lẽ ấy, cần có một cơng trình nghiên cứu
chun biệt nhằm làm rõ các quy định pháp luật cũng như đối chiếu với pháp luật nước
ngồi, bình luận các vụ việc thực tiễn, từ đó đi đến đề những đề xuất cần thiết, phù hợp
nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động nước ta.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong từng chương tác giả sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích được tác giả sử dụng trong toàn bộ 03 chương của luận
văn. Tại chương 1 tác giả sử dụng phương pháp này để phân tích những khái niệm, đặc
trưng pháp lý của thử việc và phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về thử

việc ở chương 2. Trong chương 3 khi nghiên cứu về thực trạng áp dụng pháp luật về
thử việc, tác giả sử dụng phương pháp phân tích để làm rõ hơn những vướng mắc này
từ đó kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm hoàn thiện hơn quy định của
pháp luật về vấn đề này.
- Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng để so sánh quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành về thử việc ở Bộ luật Lao động năm 2012 và Bộ luật Lao động năm
2019. Phương pháp này còn được sử dụng để so sánh quy định của pháp luật Việt Nam
và pháp luật một số nước khác trên thế giới về thử việc hiện nay.
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong toàn bộ luận văn, trên cơ sở các tài
liệu đã phân tích, so sánh, tác giả sử dụng phương pháp này để tổng hợp, khái quát lại
những vấn đề đã nêu ra, làm cơ sở đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thử
việc.
5. Phạm vi nghiên cứu

5


- Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu vấn đề lý luận về thử việc trên cơ cở Bộ
Bộ luật Lao động năm 2019 và các văn bản pháp lý liên quan về vấn đề này, tìm hiểu
thực trạng áp dụng các quy định về thử việc, phân tích những điểm còn vướng mắc, bất
cập của pháp luật hiện hành về thử việc và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
các quy định của pháp luật về thử việc. Các vụ án liên quan đến đề tài vẫn xử dụng
những án được giải quyết theo BLLĐ năm 2012 do thực tiễn giải quyết tranh chấp về
thử việc theo quy định định của BLLĐ năm 2019 hầu như khơng có.
Bên cạnh đó, tham khảo các cơng trình, đề tài đã nghiên cứu trước đó, tránh mắc
phải các khuyết điểm, đảm bảo được sự hồn thiện và tính mới đề tài.
Ngoài ra, tác giả liên hệ với pháp luật các nước: Trung Quốc, Nam Phi, Pháp.
Đây là những quốc gia đại diện cho những nền kinh tế phát triển của các châu lục khác
nhau: châu Á, châu Âu, châu Phi. Trong đó, Trung Quốc và Việt Nam là quốc gia nhiều
điểm tương đồng về điều kiện văn hóa, xã hội, hệ tư tưởng; Việt Nam, Pháp có hệ thống

pháp luật gần gũi với nhau (cùng theo hệ thống Civil Law). Mục đích việc liên hệ pháp
luật các quốc gia trên nhằm đối chiếu, đánh giá, làm cơ sở và nền tảng cho những đề
xuất trong quy định thử việc tại Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu vấn đề lý luận về thử việc trên cơ cở
Bộ luật Lao động năm 2019. Thu thập, tìm hiểu và phân tích cách thức xử lý các vụ
việc thực tiễn điển hình ở Thành phố Hồ Chí Minh liên quan đến thử việc và nội dung
đề tài về tranh chấp thử việc tại Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về
thử việc trên cơ cở Bộ luật Lao động năm 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành cho
đến nay.
6. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
6.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chỉ đề cập và phân tích thử việc theo quy định pháp luật lao động bao
gồm: Cơ sở lý luận của thử việc, thực trạng pháp lý về các quy định thử việc và thực
tiễn về xử lý, giải quyết các tranh chấp trong quan hệ thử việc để thấy được những
vướng mắc, bất cập nhằm đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật.
6.2. Phạm vi khảo sát

6


Đề tài khảo sát một số tranh chấp điển hình liên quan đến thử việc của NLĐ và
NSDLĐ tại Tp. Hồ Chí Minh để phân tích một số quy định pháp luật và thực tiễn áp
dụng về thử việc làm cơ sở đề xuất kiến nghị, giải pháp của đề tài.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn này là một cơng trình nghiên cứu góp phần làm phong phú thêm cơ sở
lý luận và thực tiễn về vấn đề pháp lý hợp đồng thử việc, từ đó chỉ ra bất cập và thiếu
sót trong các quy định của pháp luật về vấn đề này tại Việt Nam hiện nay.
Lợi ích thực tiễn của luận văn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu trong hoạt động
học tập và nghiên cứu cho sinh viên, giảng viên, những người nghiên cứu khoa học

quan tâm đến vấn đề này. Ngồi ra nó mang tính định hướng cho các nhà làm luật để
sửa đổi các quy định của pháp luật về hợp đồng thử việc nhằm phù hợp với thực tiễn
hiện nay và sự vận động phát triển của xã hội.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần danh mục từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phần mở đầu và
kết luận, nội dung của đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về thử việc.
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thử việc
Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật về thử việc từ thực tiễn Thành phố Hồ
Chí Minh và kiến nghị hồn thiện pháp luật

7


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ THỬ VIỆC
1.1. Khái niệm thử việc
Từ xưa đến nay, lao động và việc làm luôn có mối quan hệ mật thiết, gắn kết song hành
với nhau. Vậy làm thế nào để có thể biến hoạt động lao động của một cá nhân trở thành
một việc làm có tính ổn định và tạo ra thu nhập đáp ứng cho cuộc sống của mỗi người?
Vâng, để có thể đáp ứng được nhu cầu đó, mỗi cá nhân có nhu cầu về việc làm có thể
tự tạo cho mình việc làm nhưng để có thể phát triển và đạt được thành cơng, có được
những thành tựu như hiện nay của con người, thì như thế là khơng đủ mà cịn cần có sự
sáng tạo, hợp tác của nhiều người lại với nhau, tạo sự liên kết giữa cá nhân, tổ chức,
tồn xã hội. Do đó, vấn đề việc làm khơn chỉ mang tính chất cá nhân mà cịn mang tính
chất của tập thể, xã hội. Cũng chính vì lẽ đó mà hàng loạt doanh nghiệp được mọc lên
với đủ các loại hình và quy mơ khác nhau để phục vụ cho sự phát triền kinh tế mang
tính đồng bộ hóa và nhiều thành phần. Để có được việc làm trong các tổ chức kinh tế
doanh nghiệp này, thì điều đầu tiên mà cá nhân hay người lao động cần phải xác lập
một hợp đồng lao động với tổ chức, người sử dụng lao động. Ngày nay, cùng với sự


8


phát triển của khoa học, kĩ thuật, văn hóa doanh nghiệp mà tính chất cơng việc ngày
càng được nâng cao thì việc địi hỏi khả năng làm việc, kỹ năng lao động, thích ứng với
mơi trường ln được các nhà tuyển dụng chú trọng và có quyền được xem xét đối với
mỗi ứng viên. Do đó, việc yêu cầu, thỏa thuận các ứng viên của mình trải qua q trính
thử việc trước khi giao kết hợp đồng lao động và bắt đầu làm việc chính thức là vơ cùng
hợp lý và hồn tồn có cơ sở. Vậy thử việc là gì và hiểu sao cho đúng, phù hợp với các
quy định của pháp luật?
Lao động là hoạt động chủ yếu, quan trọng nhất của con người, là nhân tố quyết
định sự tồn tại và phát triển của đất nước cũng như nhân loại. Hoạt động này đóng vai
trị then chốt trong việc nâng cao năng suất tổng hợp, chất lượng tăng trưởng và năng
lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường mở cửa và hội
nhập, yêu cầu được đặt ra là phải phát triển một thị trường lao động đa dạng, linh hoạt,
nguồn nhân lực chất lượng cao, lành nghề và giàu kỹ năng. Với tính cấp thiết đó, hoạt
động “thử việc” trở thành yêu cầu khách quan đối với NSDLĐ và NLĐ trước khi các
bên thiết lập QHLĐ chính thức nhằm nâng cao kinh nghiệm, năng lực chuyên môn của
NLĐ và tạo điều kiện để NSDLĐ tìm kiếm, chọn lọc được nguồn nhân lực đạt yêu cầu.
Thử việc hình thành từ các nước phương Tây, Hy Lạp và Italy là hai quốc gia tiên phong
trong việc dùng pháp luật điều chỉnh mối quan hệ này1. Pháp luật Italy đã ghi nhận vấn
đề thử việc rất sớm, từ việc quy định tại Nghị định Hoàng gia 1825/1924 2 đến Bộ luật
Dân sự năm 19423. Theo đó, thử việc là thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ, đồng ý thiết
lập một khoảng thời gian làm thử khi các bên chưa giao kết HĐLĐ chính thức. Mặc dù,
là hai quốc gia đi đầu trong việc ghi nhận quy định thử việc, tuy nhiên hệ thống pháp
luật của Italy và Hy Lạp vẫn chưa định nghĩa về mặt pháp lý một cách rõ ràng thuật ngữ
“thử việc”. Hiện nay, các quốc gia trên thế giới phần lớn chỉ dừng lại ở việc ghi nhận
quan hệ thử việc và các quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ này.
Nghiên cứu pháp luật một số quốc gia, tác giả nhận thấy tại Pháp, Bộ luật Lao
động (cải cách năm 2018) chỉ đề cập đến thời gian thử việc, theo đó thời gian thử việc


1

Mariya Aleksynska, Alexandra Schmidt (2014), A chronology of employment protection legislation in
some selected European countries, Geneva, tr. 2.
2
Điều 4 Nghị định hoàng gia 1825/1924 [ />3
Điều 2096 Bộ Luật Dân sự Italya 1942 [ />
9


là thời gian cho phép NSDLĐ đánh giá kỹ năng của NLĐ trong công việc, đặc biệt là
kinh nghiệm, tạo điều kiện để NLĐ xem xét, cân nhắc vị trí cơng việc có phù hợp với
họ khơng4. Trên cơ sở đó, các nhà nghiên cứu Pháp đưa ra khái niệm: thử việc là giai
đoạn đầu tiên của HĐLĐ; không mang tính chất bắt buộc và được quy định trong HĐLĐ
hoặc thư cam kết; có thời hạn thử việc tối đa do Bộ luật Lao động, các thoả ước tập thể
hoặc HĐLĐ quy định; áp dụng các quy tắc cụ thể và được phá vỡ một cách tự do nhưng
phải tuân thủ thời hạn thông báo, ngoại trừ trường hợp bị lạm dụng.
Khác với các quy định pháp luật lao động Pháp, Luật hợp đồng lao động Trung
Quốc 2008 (sửa đổi, bổ sung 2012) không đề cập đến khái niệm thử việc. Một số nhà
nghiên cứu Trung Quốc như Virginia Harper Ho, Huang Qiaoyan có quan điểm cho
rằng thử việc là một trong những hình thức làm việc phi tiêu chuẩn, là biện pháp bảo vệ
mới theo Bộ luật Lao động Trung Quốc5.
Ở nước ta, thử việc được quy định lần đầu tiên trong Pháp lệnh Hợp đồng lao
động của Hội đồng nhà nước ngày 30/08/1990. Từ sau đó, qua các lần sửa đổi và bổ
sung, đến nay các quy định về thử việc đã được cụ thể và hoàn thiện hơn trong Bộ luật
Lao động 2012 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Tuy nhiên, cũng như pháp
luật các quốc gia khác trên thế giới, pháp luật lao động Việt Nam khơng có một quy
định pháp lý về khái niệm thử việc. Dưới góc độ ngơn ngữ học, “thử” là làm gì để xem
kết quả ra sao và xem xét có đúng hay khơng6. “Việc” là cái phải làm, nói về mặt cơng

sức phải bỏ ra hoặc cái làm hằng ngày theo nghề và được trả công7. Như vậy, thử việc
trong đời sống xã hội là việc một cá nhân thực hiện một công việc cụ thể và xem xét
kết quả cơng việc có tương thích với dự đốn của bản thân trước đó. Áp vào QHLĐ,
thử việc được hiểu là sự thỏa thuận giữa các chủ thể trong quan hệ thử việc về việc tiến
hành làm thử, nhằm mục đích giúp NLĐ trực tiếp thực hiện cơng việc, xem xét có phù
hợp với bản thân và tạo cơ hội để NSDLĐ đánh giá năng lực chuyên mơn, kinh nghiệm
của NLĐ. Bên cạnh đó, từ điển Oxford Advanced Learner’s Dictionary định nghĩa
“probation” là khoảng thời gian đào tạo và thử nghiệm khi NLĐ bắt đầu một công việc

Điều L1221 – 20 Bộ Luật Lao động Pháp 2018
Yu-Fu Chen, Michael funke (2009), China's new Labour Contract Law: No harm to employment?
6
Nguyễn Lân (1998), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 1782.
7
Hồng Phê (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB. Đà Nẵng, tr. 1115.
4
5

10


mới và xem xét họ có phù hợp với cơng việc đó hay khơng8. Từ điển Luật học lại có
cách lý giải hẹp hơn: “Thử việc là một dạng của chế độ giao kết HĐLĐ trước khi HĐLĐ
chính thức có hiệu lực. Nội dung, thời gian, quyền và nghĩa vụ của các bên trong thời
gian thử việc do các bên ký kết hợp đồng thỏa thuận”9.
Thử việc về bản chất là sự thỏa thuận tự nguyện của hai bên. Đây là quá trình
các bên làm thử trong một thời gian nhất định nhằm đánh giá năng lực, trình độ, ý thức,
điều kiện lao động, điều kiện sử dụng lao động…. trước khi quyết định ký kết hợp đồng
lao động chính thức10.
Hiện nay, ở Việt Nam, thử việc và khái niệm thử việc là những vấn đề bước đầu

nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của các học giả. Theo giáo trình Luật lao động
trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, thử việc là giai đoạn các bên thực hiện
thử QHLĐ, trừ mục đích “thử” ra thì các vấn đề khác trong giai đoạn thử việc cũng
giống như một QHLĐ chính thức11. Như vậy, đây là khái niệm thể hiện các đặc điểm
tương đồng và khác biệt giữa quan hệ thử việc so với QHLĐ chính thức. Ngồi ra, có
quan điểm cho rằng thử việc là một giai đoạn thiết yếu và phổ biến trong quá trình tuyển
dụng của các doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự phù hợp về kĩ năng, kinh nghiệm cũng
như cách làm việc của NLĐ với mơi trường làm việc mới12. Thử việc cịn được hiểu là
một dạng quan hệ tiền QHLĐ được hình thành trên cơ sở thỏa thuận của các bên chủ
thể. Hoạt động này nhằm mục đích mang lại lợi ích cho tất cả các bên, tạo tiền đề vững
chắc cho QHLĐ chính thức sau này được hài hịa, ổn định và lâu dài13.
Có thể hiểu thử việc được xem như là một “khế ước” được xác lập giữa NDSLĐ
với NLĐ nhằm xác lập các điều kiện liên quan đến việc làm. Thử việc thông thường
được thỏa thuận, xác lập trong một thời gian ngắn, được xem như là khoảng thời gian
“thử” một số điều kiện, tiêu chuẩn làm việc giữa NSDLĐ với NLĐ để tiến tới ký kết
hợp đồng lao động. Thử việc được ghi nhận ở tổ chức lao động quốc tế (ILO) cũng như

Joanna Turnbull (2014), Oxford Advanced Learner’s Dictionary, NXB. Đại học Oxford, Anh, tr. 1350.
Viện khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) (1999), Từ điển Luật học, NXB. Từ điển Bách khoa, , tr. 486.
10
Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Văn Bình (2021), Bình luận khoa học Bộ luật Lao động 2019, Nxb.Tư pháp, Hà Nội,
tr.813, 85.
11
Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2020), Giáo trình Lao động, NXB. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt
Nam, tr.187
12
(truy cập ngày 15/3/2022)
13
Lường Minh Sơn (2017), “Một số vấn đề về quy định thử việc trong pháp luật lao động Việt Nam”,
Tạp chí Khoa học pháp lý, (06)

8
9

11


kể từ khi có BLLĐ 1994. Trước khi giao kết HĐLĐ, NSDLĐ và NLĐ có thể thỏa thuận
về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Đây là giai đoạn
quyết định khả năng được tuyển dụng chính thức của NLĐ và quyết định sự hợp tác,
gắn bó lâu dài giữa NLĐ với NSDLĐ. Thực tế cho thấy, trong QHLĐ, người lao động
thường “yếu thế” hơn NSDLĐ bởi NSDLĐ có quyền chi phối lao động một cách mạnh
mẽ trong khi người lao động đang cần việc làm, tiền lương nên thường lo sợ không
được nhận vào làm việc hoặc sợ mất việc dẫn đến một số quyền lợi hợp pháp, chính
đáng của NLĐ trong thời gian thử việc bị NSDLĐ xâm phạm. Pháp luật lao động đưa
ra định nghĩa thử việc tại điều 26 BLLĐ 2012: “NSDLĐ và NLĐ có thể thoả thuận về
việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thoả thuận
về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc”.
Cũng giống như Bộ luật Lao động 2012, Bộ luật Lao động 2019 không đưa ra
khái niệm cụ thể về thử việc mà chỉ cung cấp định nghĩa về hợp đồng thử việc: “Người
sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp
đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hợp đồng thử việc” 14.
BLLĐ 2019 đã quy định một cách rõ ràng và cụ thể hơn so với BLLĐ 2012, cụ thể
BLLĐ 2012 khơng có ghi nhận “nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động” mà
chỉ ghi nhận “thỏa thuận thử việc bằng việc giao kết hợp đồng thử việc” nhưng BLLĐ
2019 đã ghi nhận rõ hơn về vấn đề này. Từ đó, có thể thấy rằng thử việc khơng mang
tính bắt buộc áp dụng đối với người lao động mà do các bên tự nguyện thỏa thuận, mặc
khác việc ghi nhận thử việc đầy đủ và rõ ràng tại BLLĐ 2019 sẽ là cơ sở giúp cho các
bên thuận lợi trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của mình khi giao kết hợp đồng
thử việc hoặc trực tiếp giao kết trong hợp đồng. Song, dựa vào định nghĩa trên, thử việc
có thể được hiểu là thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động thực hiện

một quá trình thực hiện công việc nhằm đi đến sự thống nhất ký kết hợp đồng lao động
chính thức. Ở đó, quan hệ lao động về thử việc giữa các chủ thể tham gia được xem là
một quan hệ dân sự thông thường với sự xác lập quyền và nghĩa vụ của từng bên có liên
qua dựa trên ngun tắc bình đẳng thỏa thuận.

14

Khoản 1 Điều 24 Bộ luật Lao động 2019

12


Như vậy, thử việc được hiểu là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ trên cơ sở
hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng về ý chí và có nội dung khơng trái với quy định pháp
luật và đạo đức xã hội. Theo đó, các chủ thể hồn tồn tơn trọng lẫn nhau và thực hiện
các cam kết theo thỏa thuận. Tuy nhiên, nhìn chung về mặt lí luận, các quan điểm thử
việc đã đưa ra có nhiều điểm tương đồng, cụ thể:
(i) Thử việc là quan hệ tiền lao động;
(ii)Thử việc là thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ;
(iii)Thử việc nhằm mục đích bảo vệ quyền và nghĩa vụ cho tất cả các bên trong
quan hệ thử việc.
Từ những phân tích trên, tác giả xin đưa ra quan điểm của mình về khái niệm
thử việc trong QHLĐ như sau: “Thử việc là sự thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ được
thực hiện trước khi các bên thiết lập QHLĐ chính thức, diễn ra trong một khoảng
thời gian nhất định theo quy định của pháp luật, nhằm giúp NSDLĐ đánh giá năng
lực chuyên môn, đạo đức, ý thức,… của NLĐ trước khi tuyển dụng chính thức, đồng
thời tạo điều kiện cho NLĐ xem xét cơng việc, vị trí, mơi trường làm việc có phù hợp
với bản thân hay không”
1.2. Đặc điểm thử việc
Thông qua khái niệm cũng như các quy định của Bộ luật Lao động 2019, có thể

nhận thấy thử việc bao gồm các đặc điểm sau:
Thứ nhất, thử việc mang bản chất “thử”
Một trong những đặc điểm quan trọng và đặc trưng nhất của quan hệ thử việc
chính là bản chất thử. Đặc điểm này được thể hiện trong chính nội tại ngôn ngữ của
quan hệ thử việc, do vậy dễ dàng nhận thấy “thử” chính là đặc điểm then chốt giúp phân
biệt quan hệ thử việc với các QHLĐ khác. Trong QHLĐ, không thể đánh giá năng lực,
chuyên môn của NLĐ nếu các bên khơng chuyển hóa hàng hóa sức lao động vào QHLĐ
thực tế. Theo đó, NSDLĐ và NLĐ sẽ tiến hành thỏa thuận thử việc, công việc làm thử
và thời gian làm thử nhưng không xác lập trên cơ sở một HĐLĐ chính thức. Trong thời
gian thử thách, NLĐ sẽ thực hiện công việc theo yêu cầu chuyên môn, mục tiêu do
NSDLĐ đề ra và chịu sự giám sát của NSDLĐ. Điều đặc biệt trong quan hệ thử việc,
tuy mang bản chất làm thử, nhưng NLĐ vẫn trực tiếp tham gia vào các công việc cụ thể
đã được thỏa thuận trước đó, điều này khơng có sự khác biệt so với một QHLĐ chính

13


thức. Tuy nhiên, sau khi kết thúc thời gian thử việc, các chủ thể mới đi đến kết luận có
tiến tới một QHLĐ lâu bền hay khơng. Việc có giao kết một HĐLĐ sau thử việc, dựa
trên căn cứ đánh giá từ NSDLĐ và NLĐ thơng qua q trình họ tham gia lao động và
giám sát. Như vậy, thử ở đây chính là tham gia q q trình sản xuất trực tiếp và đưa
ra quyết định có hay khơng giao kết một QHLĐ chính thức sau thời gian làm thử.
Thứ hai, thử việc là quyền của cả người sử dụng lao động và người lao động
Đặc điểm thứ hai mà tác giả muốn đề cập chính là thử việc là quyền của cả NSDLĐ và
NLĐ15. Hay nói cách khác, thử việc được hình thành khi NSDLĐ và NLĐ cùng nhau
thỏa thuận, đồng ý tiến hành thử việc. Điều đó dựa trên nguyên tắc tôn trọng sự tự do
và lựa chọn của các bên trong pháp luật lao động.
Theo từ điển Tiếng Việt: “Thỏa thuận là đồng ý với nhau về điều nào đó có quan
hệ đến các bên sau khi đã bàn bạc”16. Trong QHLĐ, thỏa thuận thử việc chính là việc
NSDLĐ và NLĐ tiến hành thương lượng, thỏa thuận việc làm thử và thời gian thử việc.

Việc có làm thử hay khơng là quyền của hai bên, do đó giao kết thử việc phải là ý chí
thống nhất của các chủ thể, không bị ép buộc, cưỡng bức. Thỏa thuận thử việc hợp pháp
phải là những thỏa thuận hoàn tồn bình đẳng, tự nguyện, trên cơ sở tương quan lao
động và điều kiện thực tế, không trái pháp luật và các giá trị xã hội khác. Lúc này, tư
cách pháp lý của NSDLĐ và NLĐ ngang bằng nhau về quyền quyết định có hay khơng
việc thử việc. Điều này giúp NLĐ tránh được hành vi lạm dụng từ NSDLĐ trong thời
gian thử việc và có thể thỏa thuận các điều khoản nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi chính
đáng của họ. NLĐ cũng có quyền quyết định khơng đồng ý thử việc nếu cảm thấy vị trí
cơng việc hoặc các điều kiện lao động không phù hợp. Thêm vào đó, đặc điểm này cũng
tạo điều kiện cho NSDLĐ chủ động hơn trong việc lựa chọn được NLĐ phù hợp với vị
trí cơng việc.
Thứ ba, Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ
phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và đảm
bảo các điều kiện sau đây: Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý
doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà

Đại học Kinh tế - Luật (2016), Luật lao động, NXB. Đại học quốc gia Hồ Chí Minh, tr.199.
ngơn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB. Đà Nẵng, Tr. 946.

15Trường
16Viện

14


nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nhiệp; Khơng q 60 ngày đối với cơng
việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chun mơn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;
Không quá 30 ngày đối với cơng việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên
môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ; Không quá 06 ngày
làm việc đối với cơng việc khác17. Nhìn chung, pháp luật các nước đều có quy định hạn

chế thời gian thử việc, cũng như hạn chế việc kéo dài thêm thời gian thử việc.
Ví dụ như ở Pháp, chỉ khi trong thỏa ước lao động tập thể hoặc hợp đồng lao
động có quy định rõ thì thời gian thử việc mới có thể thể được gia hạn, nếu như sau thời
gian hợp đồng thử việc kể cả là người lao động đồng ý thì thời gian thử việc cũng không
được phép kéo dài thêm. Thời gian thử việc kết thúc, nếu người lao động thử việc đạt
kết quả thì người sử dụng lao động phải ký hợp đồng làm việc chính thức với người lao
động, trường hợp sau thời gian thử việc người sử dụng lao động không giao kết hợp
đồng lao động với người lao động mà khơng có lý do chính đáng thì ở Nhật Bản (án lệ),
Hàn Quốc (án lệ), Anh (án lệ), Đức (các điều 134, 242 Luật Dân sự) sẽ được coi là sa
thải khơng chính đáng18. Để bảo vệ quyền lợi của người lao động, pháp luật lao động
Việt Nam đã quy định về số lần thử việc sẽ không vượt quá 01 lần đối với một công
việc (doanh nghiệp vi phạm sẽ bị phạt tiền từ hai đến năm triệu đồng đối với người sử
dụng lao động)19 và ấn định một khoảng thời gian cụ thể cho việc thử việc nhằm tránh
việc người sử dụng lao động tự ý kéo dài thêm thời gian thử việc nhưng vẫn đảm bảo
phù hợp với yêu cầu của từng loại công việc khác nhau tương ứng với thời gian thử việc
cũng khác nhau. Các công việc của người quản lý doanh nghiệp (được bổ sung so với
Bộ luật Lao động năm 2012) hay các cơng việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ
chun mơn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên sẽ có thời gian thử việc khá lâu, có thể kéo
dài trong nhiều tháng, điều này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng lao động
có thể xem xét được người lao động có phù hợp với công việc hay không cũng như đánh
giá được mức độ hồn thành cơng việc của người lao động. Có thể nói thời gian thử

Điều 25 Bộ luật Lao động 2019.
Xem Trường đại học Luật (2020), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân,
tr.184
19
Xem điểm a Khoản 2 Điều 10 Nghị định 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi
phạm hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng.
17

18

15


việc có giới hạn đủ để các bên hiểu nhau, đưa ra quyết định của mình mà khơng q
ảnh hưởng đến đôi bên và không cảm thấy bị lợi dụng. Dẫu vậy, trong thơi gian thử
việc, mỗi bên đều có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng đã giao kết mà
không cần báo trước và cũng không phải bồi thường20 nếu cảm thấy cơng việc khơng
cịn phù hợp nữa, ứng viên khơng phù hợp với vị trí tuyển dụng nữa, hoặc thậm chí có
thể là một lý do cá nhân nào khác.
Thứ tư, người lao động phải tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong thời
gian thử việc
NLĐ tham gia thử việc trong QHLĐ với mục đích tìm kiếm cơ hội việc làm lâu
dài và ổn định. NSDLĐ thơng qua q trình thử việc lại mong muốn trực tiếp xem xét,
đánh giá toàn diện NLĐ nhằm mục đích tìm được nguồn nhân lực phù hợp. Do vậy,
trong q trình tuyển dụng, nếu NLĐ khơng có năng lực lao động tốt thì NSDLĐ khơng
thể thực hiện được mục tiêu chương trình, kế hoạch đã đề ra 21. Chính vì vậy, đặc điểm
NLĐ tiến hành hồn thiện cơng việc bằng sức lực, kĩ năng của chính mình và không
chuyển giao cho người khác sẽ là cách duy nhất để cả hai bên đạt được các mục đích
trên. Đây cũng chính là điều kiện để xây dựng một QHLĐ lâu dài và bền vững khi các
bên trong hoạt động thử việc đã hiểu kỹ về năng lực, cách thức làm việc của nhau.
Từ những phân tích trên cho thấy, trong quá trình thử việc NLĐ sẽ là chủ thể
thực hiện chính. Họ phải hồn thành cơng việc và các yêu cầu đã được giao kết trong
HĐTV hoặc HĐLĐ có điều khoản thử việc. NSDLĐ là chủ thể giám sát các hoạt động
của NLĐ để kết luận có đi đến ký kết HĐLĐ chính thức hay khơng. Do vậy, nếu lựa
chọn được chủ thể phù hợp ngay từ thời gian thử việc sẽ là cơ sở tạo điều kiện cho cả
NLĐ và NSDLĐ hướng đến một QHLĐ dài lâu.
Mặt khác, thử việc là hoạt động không bắt buộc trong QHLĐ, nghĩa là không
phải NLĐ nào cũng phải trải qua giai đoạn này. Tuy nhiên, khơng vì thế mà thử việc

không được quan tâm và coi trọng, đặc biệt là chủ thể của quan hệ này. Để trở thành
chủ thể của hoạt động thử việc trong QHLĐ, NLĐ phải có năng lực pháp luật lao động
và năng lực hành vi lao động. NLĐ phải là cá nhân, có mong muốn và có thỏa thuận về

20
21

Khoản 2 Điều 27 Bộ luật Lao động năm 2019.
Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình luật Lao động Việt Nam, NXB. Cơng an nhân dân, tr. 96.

16


×