MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước trong thời đại ngày nay,
vai trò nhân tố con người là yếu tố quan trọng nhất và là yếu tố chủ đạo quyết
định các nguồn lực khác.
Trong những thập kỷ vừa qua và hiện tại, cùng với sự phát triển nhảy
vọt của khoa học, kỹ thuật - công nghệ và xu thế tồn cầu hóa, hiện nay các
nước đang đẩy nhanh cơng nghiệp hóa, hiện đại hố gắn với sự phát triển kinh
tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế, những sản
phẩm đó được vật thể hóa của trí tuệ con người, thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, nền kinh tế thế giới, đồng thời diễn ra quá trình chuyển đối tượng khai
thác vào chính bản thân con người. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có
chương trình mang tính chất chiến lược về đầu tư và phát triển con người của
riêng mình, hướng theo một nguyên tắc chung là: Đặt con người vào trung tâm
của sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thừa nhận vai trò quan trọng và quyết định
của nhân tố con người trong phát triển kinh tế - xã hội vừa mang ý nghĩa bước
ngoặt của tư duy nhân loại, vừa mở ra một triển vọng mới cho tất cả các nước.
Sự thành bại của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi nước đang tuỳ
thuộc vào những bí quyết về đào tạo, sử dụng và phát huy nhân tố con người.
Con người là nguồn lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển xã hội, thiếu
nguồn lực con người xã hội không thể phát triển được. Nhưng sự phát triển
của kinh tế - xã hội sẽ khơng có ý nghĩa gì nếu khơng phải vì sự tồn tại và
phát triển của con người với tất cả nhu cầu, lợi ích thiết thực của nó.
Các nhà sáng tạo chủ nghĩa Mác xuất phát từ con người, đấu tranh vì tự
do của con người, lấy con người làm trung tâm sự phát triển xã hội. Các ơng
đã chỉ rõ tiến trình phát triển lịch sử nhân loại được quy định bởi sự phát triển
1
của lực lượng sản xuất xã hội mà cịn đóng vai trị là chủ thể hoạt động của
q trình lịch sử của chính mình, sự phát triển của lực lượng sản xuất vừa
thúc đẩy sự phát triển của xã hội, vừa thúc đẩy sự phát triển của chính bản
thân con người.
Nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào đang trên con đường đổi mới,
qua đó địi hỏi phải nắm vững sự vận động của quy luật kinh tế, phải tập hợp
được điều kiện cần thiết nhằm đưa lực lượng sản xuất lên một tầm cao mới,
qua đó cải thiện về căn bản năng suất lao động. Và cần phải biết đến vai trò
quyết định của nhân tố con người trong lực lượng sản xuất, do đó, để phát
triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, khơng có gì khác là
phát huy nhân tố con người.
Đổi mới nền kinh tế bao giờ cũng đứng trước hai sự lựa chọn: hoặc là
sáng tạo cái mới, hoặc là phá sản, thất bại. Muốn vượt qua cơn khủng hoảng,
phải có những con người có phẩm chất tài năng, dũng cảm,…thì mới có thể
đương đầu mọi sóng gió do các mâu thuẫn tự nhiên xã hội, con người tạo lên.
Điều này càng khẳng định sự cần thiết của việc phát huy nhân tố con người.
Đại hội lần thứ IX của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã khẳng định
rằng: “con người là yếu tố quyết định cho sự phát triển và coi con người là đối
tượng trung tâm của mọi sự phát triển. Phát triển đất nước có hiệu quả tốt hay
khơng, ít nhiều bao nhiêu thì ln phụ thuộc vào yếu tố con người”[17, tr.56].
Tỉnh Hủa Phăn là một tỉnh thuộc vùng miền núi phía Đơng Bắc của
nước Lào. Tỉnh ủy và các cấp ủy đảng luôn coi việc phát huy nhân tố con
người là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển mọi mặt của
tỉnh. Vì những lý do trên tác giả đã chọn vấn đề: “ Phát huy nhân tố con
người trong phát triển kinh tế – xã hội ở Tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND
Lào hiện nay”. Làm đề tài tốt nghiệp đại học chuyên ngành Triết học.
2
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nhân tố con người, phát huy nhân tố con người nói chung, nhân tố con
người trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội nói riêng đã được nhiều nhà
khoa học đi sâu nghiên cứu với những hình thức, mức độ khác nhau và có
nhiều cơng trình có giá trị thực tiễn cao, đã được công bố trên những phương
tiện thơng tin đại chúng, trên những tập trí chun ngành và trên những
chương sách chuyên khảo khác. Như luận án tiến sỹ triết học của Trần Thành
Đức (2002) với đề tài: “Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất với vấn
đề đạo tạo người lao động trong sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hóa ở
Việt Nam hiện nay (từ đồng bằng sông Cửu Long)”, Luận văn thạc sĩ triết học
của Trần Thị Tâm (2002) với đề tài: “Vai trị của chính sách xã hội trong việc
phát huy nhân tố con người ở nước ta hiện nay”, Luận án tiến sĩ triết học của
Xi Tha Lườn Khăm Phu Vông (2005) với đề tài: “Vai trị chính sách xã hội đối
với việc phát huy nhân tố con người ở Lào hiện nay”, Luận văn thạc sĩ khoa
học triết học của Nguyễn Văn Thiện (2001) với đề tài: “Phát huy nhân tố con
người trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hố nơng thơn (Qua thực tế ở
tỉnh Nghệ An)”, Luận văn thạc sĩ triết học của Vũ Tiến Dũng (2004) với đề tài:
“Phát huy nhân tố con người trong sự phát triển kinh tế ở Hà Nội hiện nay”.
Mặc dù các chương trình và những bài viết nghiên cứu trên tuy đã nêu
ra một vài khía cạnh trong việc phát huy nhân tố con người, nhưng chưa có
một cơng trình nào nghiên cứu tập trung một hệ thống hoàn chỉnh, đặc biệt là
việc nghiên cứu nhân tố con người trong phát triển kinh tế - xã hội ở Tỉnh
Hủa Phăn dưới góc độ triết học. Vì vậy, tác giả mạnh dạn nghiên cứu vấn đề
này với lịng mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc luận giải cơ sở lý luận và
thực tiễn cho việc phát huy nhân tố con người trong phát triển kinh tế - xã hội
ở Tỉnh Hủa Phăn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích của đề tài
3
Trên cơ sở phân tích thực trạng phát huy nhân tố con người trong phát
triển kinh tế - xã hội ở Tỉnh Hủa Phăn, khóa luận đề xuất phương hướng và
một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy có hiệu quả nhân tố con người trong
phát triển kinh tế - xã hội ở Tỉnh Hủa Phăn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của đề tài
- Quan điểm của Đảng và nhà nước Lào về phát huy nhân tố con người
ở Lào trong điều kiện mới.
- Làm rõ quan niệm macxít về nhân tố con người, phát huy nhân tố
con người.
- Làm rõ tầm quan trọng và những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát
huy nhân tố con người ở Lào hiện nay.
- Đánh giá thực trạng việc phát huy nhân tố con người trong phát triển
kinh tế - xã hội ở Tỉnh Hủa Phăn hiện nay.
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy có
hiệu quả nhân tố con người trong phát triển kinh tế - xã hội ở Tỉnh Hủa Phăn
hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phát huy nhân tố con người trong
phát triển kinh tế - xã hội ở Tỉnh Hủa Phăn hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là trên địa bản Tỉnh Hủa Phăn.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1. Cơ sở lý luận
4
Khoá luận dựa trên nền tảng thế giới quan, phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí
Minh các quan điểm đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Cộng hoà
Dân chủ Nhân dân Lào về vấn đề con người, giải phóng con người, phát
triển con người.
Khố luận cịn được thực hiện trên cở sở kế thừa các thành tựu khoa
học ở một số cơng trình nghiên cứu có liên quan.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử. Phương pháp phân tích và tổng hợp, quy
nạp và diễn dịch, so sánh, lịch sử và lơgíc, điều tra xã hội học,…gắn lý luận
với thực tiễn được sử dụng để thực hiện đề tài.
6. Đóng góp mới và ý nghĩa của đề tài
6.1. Đóng góp mới của đề tài
Làm sáng tỏ đặc điểm, vai trò nhân tố con người trong phát triển kinh
tế - xã hội, đặc biệt là ở Tỉnh Hủa Phăn. Khóa luận đưa ra một phương hướng
có tính chất phương pháp luận nhằm phát huy hơn nữa vai trò của nhân tố con
người trong phát triển kinh tế - xã hội ở Tỉnh Hủa Phăn thời gian tới.
6.2. ý nghĩa của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của khóa luận cung cấp cơ sở phương pháp luận
khoa học cho hoạt động thực tiễn nhằm phát huy nhân tố con người trong phát
triển kinh tế - xã hội ở Tỉnh Hủa Phăn thời gian tới.
- Thông qua việc nghiên cứu thực trạng cũng như tổng kết thực tiễn
trong việc phát huy nhân tố con người trong phát triển kinh tế - xã hội ở Tỉnh
Hủa Phăn hiện nay, khóa luận có thể làm tư liệu tham khảo cho các cơ quan
chức năng ở các địa phương trên cả nước.
5
7. Kết cấu của khóa luận
Ngồi phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của khóa luận gồm 3 chương, 10 tiết.
6
Chương 1
NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở
LÀO HIỆN NAY
1.1. Nhân tố con người và phát huy nhân tố con người
1.1.1. Nhân tố con người
Nhân tố con người đóng vai trị vơ cùng quan trọng trong phát triển
kinh tế - xã hội. Trong lịch sử triết học vấn đề con người là một trong những vấn
đề được đề cập rất phổ biến. Ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, Protago (490 - 420
TCN) đã nhận định: "Con người là thước đo của mọi vạn vật", con người là giá
trị cao nhất của mọi giá trị, con người là nhân tố trung tâm của xã hội. Và lần
đầu tiên, ông đưa ra quan niệm về quyền bình đẳng giữa người với người,
khẳng định thường đế tạo ra mọi người đều là tự do, tự nhiên không ai biến
thành nô lệ cả, con người được tự do phát triển về mọi mặt. Aristot (384 - 322) đã
có tư tưởng nổi tiếng, coi con người như một động vật - chính trị. Đó là một
nhận thức tiến bộ, nó phản ánh trình độ phát triển của tri thức đã dần dần hình
thành tư tưởng về tầm quan trọng của tác động xã hội, của chính trị, của giáo
dục… nói chung là của chính trị xã hội đối với sự phát triển của con người.
Ở Trung Quốc, chữ "Nhân" là một đặc trưng đặc biệt của bản tính chính
của con người. Theo Hàn Dũ (765 - 824), "nhân tố con người" là khái niệm
một mặt chỉ những đặc tính chỉ có ở con người, mặt khác là chỉ mức độ biểu
hiện "nhân tố con người" trong các sự vật, trong đó chỉ có con người là thể
hiện ở mức độ cao nhất và bổn phận của con người phải có trách nhiệm đối
với các sự vật. Ơng là người đầu tiên đề xuất luận điểm: con người là chủ
trong tất cả cái gì tồn tại và nguyên tố người là tình thương đối với tất cả. Nhà
triết học Chu Đôn Di (1017-1073) cho rằng: "Nhân là lực lượng sinh ra mọi
vật". Trình Hạo (1032-1085) coi "tình cảm, nghĩa, lễ, trí, tín - cũng như nhân"
7
tức là "nguyên tố người có sẵn cho mọi vật", mọi vật và con người đều có linh
hồn, tuy rằng con người là linh thiêng nhất.
Các nhà triết học trước Mác đã đề cập đến vấn đề nhân tố con người, đã
khai thác vấn đề nhân tố con người ở nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng nhìn
chung những tư tưởng của họ vẫn còn nhiều hạn chế, hạn chế lớn nhất là họ
không xuất phát từ con người hiện thực, cụ thể, cảm tính, con người hoạt
động thực tiễn. Đó là nguyên nhân cơ bản dẫn các nhà triết học trước Mác rơi
vào lập trường duy tâm, thần bí, siêu hình trong các quan điểm về con người.
Các nhà triết học trước Mác, mặc dù vẫn còn hạn chế, chưa thống nhất và
chưa đưa ra được một khái niệm hoàn chỉnh về nhân tố con người nhưng họ
đã có cơng trong việc đi sâu nghiên cứu từng khía cạnh của nhân tố con
người: mặt hoạt động, vai trò của đạo đức, tinh thần, ý chí… coi con người là
giá trị cao nhất, là thước đo của mọi giá trị và là chủ thể duy nhất sáng tạo ra
tất cả, làm tiền đề cho các nhà nghiên cứu sau này.
Do xuất phát từ con người hiện thực, C Mác nhận định, phương thức tồn
tại của con người chính là hoạt động của họ, cái quy định hành vi lịch sử đầu
tiên và cũng là động lực thúc đẩy con người hoạt động chính là nhu cầu và lợi
ích. Ơng chỉ ra rằng: Tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ
nhiên là sự tồn tại của cá nhân con người sống. Vì vậy, điều đầu tiên cần phải
xác định là tổ chức cơ thể của những cá nhân ấy và mối quan hệ mà tổ chức
cơ thể ấy tạo ra giữa họ với phần còn lại của tự nhiên. Luận điểm nổi tiếng
của C Mác: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa
những quan hệ xã hội" [5, tr. 21]. Như vậy, bản chất của con người không
phải là trừu tượng mà là hiện thực. Khi đó trong tính hiện thực cái bản chất
không phải là tự nhiên mà là lịch sử, không phải là cái cố hữu trong mỗi cá
nhân riêng biệt mà là tổng hịa tồn bộ các mối quan hệ xã hội. Chỉ trong hoạt
động thực tiễn, hoạt động riêng của con người, con người mới khẳng định
mình với tư cách là một cá nhân và mới tạo nên bản chất xã hội của mình.
8
Con người là sản phẩm của hoàn cảnh và ngược lại con người cũng chính là
chủ thể sáng tạo lại hoàn cảnh. C Mác và Ph Ăngghen chỉ ra rằng:
Nếu như con người là do hồn cảnh tạo nên thì phải tạo ra hồn cảnh
hợp tính người. "Nếu như con người, bẩm sinh ra đã có tính xã hội thì do đó
chỉ có trong xã hội, con người mới có thể phát triển bản tính thực sự của mình
và lực lượng của bản tính con người phải được đánh giá không căn cứ vào lực
lượng của cá nhân riêng lẻ mà căn cứ vào lực lượng của xã hội" [5, tr. 74].
Hai ông cho rằng, con người là một thực thể thống nhất giữa yếu tố
sinh vật và yếu tố xã hội. Con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của lịch
sử. Quần chúng nhân dân có vai trò quyết định đối với lịch sử ở chỗ họ đề ra
nhiệm vụ cho lịch sử. Những quan điểm đó đã đặt con người vào vị trí trung
tâm của lịch sử, là chủ thể tích cực, sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần,
mọi nền văn minh trên thế giới. Ph. Ăngghen cho rằng: "Lịch sử chẳng qua chỉ
là hoạt động của con người theo đuổi mục đích của bản thân mình" [4, tr.
141]. Sự khác nhau căn bản giữa sự phát triển của xã hội và sự tiến hóa của tự
nhiên là: "Trong lịch sử của xã hội, nhân tố hoạt động hoàn toàn chỉ là những
con người có ý thức, hành động có suy nghĩ, hay có nhiệt tình theo đuổi những
mục đích nhất định, thì khơng có gì xảy ra mà lại khơng có ý định tự giác,
khơng có mục đích mong muốn" [6, tr. 435].
Quan điểm mác xít về con người và bản chất của con người đã đem lại
phương pháp tiếp cận mới trong việc giáo dục, xây dựng con người, giải
phóng con người và phát huy nhân tố con người. Nhận thức đúng đắn về khái
niệm nhân tố con người chính là sự phát triển sáng tạo quan điểm Mác Lênin về con người với tư cách là con người có ý thức sáng tạo và là chủ thể
của lịch sử.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về nhân tố con người. Hồ Chí Minh khơng
có một tác phẩm bàn riêng về con người hay về nhân tố con người, nhưng
trong hệ thống tư tưởng của Người vấn đề con người vẫn là vấn đề lớn, được
9
đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm được thể hiện xuyên suốt và đa dạng
trong toàn bộ nội dung tư tưởng của người. Hồ Chí Minh thường dùng từ như:
"sức dân", "sức người", "tài dân", "tin ở dân", "người bản xứ", "người nô lệ",
"người cùng khổ", "lao động chân tay", "lao động trí óc"… Như vậy, cách
tiếp cận của Hồ Chí Minh trong việc nhìn nhận con người là đặt con người
vào trong các mối quan hệ với cộng đồng xã hội. Điều này thể hiện rõ tính
giai cấp, tính lịch sử xã hội của quan niệm con người. Đây là phương pháp tư
duy biện chứng của Hồ Chí Minh. Quan niệm của Người vừa trung thành với
quan điểm mácxít, vừa có tính sáng tạo. Thực chất trong tư tưởng của người
ln đề cao vai trị nhân tố con người.
Vấn đề nhân tố con người được nhiều người quan tâm nghiên cứu, một
số cơng trình nghiên cứu xem xét nhân tố con người trong một chỉnh thể
thống nhất toàn vẹn bao quát những đặc trưng bản chất nói lên con người vừa
là chủ thể hoạt động, chủ thể mang đặc trưng về phẩm chất, năng lực, đồng
thời là chủ thể tiếp thu sáng tạo giá trị xã hội. Do kế thừa những quan điểm
của các tác giả, có thể đưa ra một quan điểm tổng quát như sau: "Nhân tố con
người là sự thống nhất hữu cơ các mối quan hệ giữa các mặt trong hoạt động
với các yếu tố như năng lực, phẩm chất xã hội của con người đặt trong quá
trình hoạt động lao động cũng như sáng tạo ra toàn bộ đời sống hiện thực."
Mối quan hệ biện chứng giữa các mặt hoạt động (hoạt động thực tiễn
và hoạt động nhận thức), các đặc trưng về phẩm chất, năng lực tạo thành nhân
tố con người như một chỉnh thể thống nhất. Mặt khác, chính sự tác động qua
lại giữa các mặt, các đặc trưng về năng lực, phẩm chất của con người làm cho
nhân tố con người luôn luôn vận động, phát triển không ngừng trong tiến trình
lịch sử. Qua đó phản ánh q trình con người sáng tạo ra thế giới thì cũng
sáng tạo ra chính bản thân mình. Nhân tố con người biểu hiện ra với tư cách
là chủ thể hoạt động sáng tạo ra thế giới, đồng thời là đối tượng (khách thể)
10
của q trình đó. Cũng với ý nghĩa này, con người trở thành "vừa là động lực,
vừa là mục tiêu của phát triển kinh tế - xã hội".
Nhân tố con người là khái niệm không chỉ để phân biệt nhân tố "người"
với các yếu tố khác như: kinh tế, chính trị, xã hộ… trong đời sống xã hội mà
quan trọng hơn là để khẳng định vai trò của của nhân tố "người" đối với các
yếu tố đó. Tức là khơng có khái niệm nhân tố con người tách khỏi hoạt động,
dù đó là hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội…
Con người là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Nhân tố con người là nhân tố cơ bản trong nhân tố hợp thành xã hội, đóng vai
trị hạt nhân động lực và là chủ thể của sự phát triển xã hội. Nâng cao tính tích
cực xã hội của con người là nội dung cơ bản của việc phát huy vai trò nhân tố
con người trong phát triển kinh tế - xã hội.
Khái niệm nhân tố con người có mối quan hệ mật thiết với khái niệm
con người, là sự cụ thể hóa của khái niệm con người. Khái niệm con người có
ý nghĩa rộng, nó bao hàm cả khái niệm nhân tố con người, là đối tượng
nghiên cứu của các ngành khoa học tự nhiên, xã hội. Trong khi đó, khái niệm
nhân tố con người chủ yếu được xem xét trong mối quan hệ giữa con người
với nhân tố tự nhiên, kỹ thuật máy móc, mơi trường lao động, trong hoạt động
và phát triển. Khái niệm nhân tố con người khác với khái niệm con người ở
một số phương diện sau:
Không phải là tất cả những gì thuộc về con người đều nằm trong khái
niệm nhân tố con người mà chỉ có những phẩm chất nào có liên quan đến
hoạt động của con người nhằm tạo nên những giá trị xã hội, giá trị làm
người, thúc đẩy sự phát triển, hoàn thiện của cá nhân và sự tiến bộ, phát
triển của xã hội. Khái niệm nhân tố con người nhấn mạnh đến mặt chủ thể
của hoạt động của các mối quan hệ hoạt động của con người. Nhân tố con
người là sự tổng hòa các lực lượng bản chất của con người nhằm đảm bảo
cho con người tồn tại với tư cách là chủ thể của đời sống xã hội, là một thực
11
thể hoạt động hiện thực, là một trong những động lực cơ bản làm gia tăng sự
phát triển kinh tế - xã hội.
Khái niệm nhân tố con người nhấn mạnh đến mặt xã hội, đến tính tự
giác, tích cực chủ động sáng tạo của cộng đồng hay các thế hệ người trong xã
hội mà mỗi cá nhân đóng vai trị là một đơn vị hay tế bào. Khi xem xét nhân
tố con người chúng ta phải gắn nó trong các mối quan hệ giữa con người với
các nhân tố tự nhiên, nhân tố kỹ thuật, máy móc, mơi trường, điều kiện lịch sử
cụ thể cũng như các hoạt động phát triển xã hội và phát triển con người.
Khái niệm nhân tố con người có ý nghĩa hẹp hơn khái niệm yếu tố con
người. Vì khái niệm yếu tố con người nó in dấu ấn và được coi trọng với tư
cách không chỉ là thành tố xã hội, tinh thần và thành tố trong cấu trúc tổ chức
xã hội của con người mà còn là thành tố tự nhiên - vật chất đối với sự phát
triển của lịch sử. Nhân tố con người chỉ là những đặc trưng xã hội trong yếu
tố con người.
Xem xét giữa khái niệm "Nhân tố con người" với "Nguồn lực con người"
hay "Nguồn nhân lực".
Hiện nay khái niệm "nguồn nhân lực" dùng cùng nghĩa với "nguồn lực
con người". Khái niệm nguồn lực con người theo quan niệm hệ thống phải đặt
nó trong mối quan hệ với các nguồn lực khác (tài nguyên, vật lực…), và
nguồn lực con người hay nguồn nhân lực còn để so sánh với các nguồn lực
khác mà xã hội đầu tư cho sự phát triển như: nguồn lực tự nhiên, tài chính, kỹ
thuật… Và khi nói đến nguồn lực con người là thường nói tới mặt số lượng và
chất lượng. Nguồn lực con người là tổng thể số lượng và chất lượng con
người với tổng hịa các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức
- tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã ; đang và sẽ
huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.
Nhân tố con người và "nguồn lực con người" có cùng nghĩa như nhau
khi đặt trong quan hệ với các nhân tố khác, nguồn lực khác (nguồn lực vật
12
chất) ở chỗ chúng đều biểu hiện những đặc trưng, thuộc tính cơ bản của con
người như: là nhân tố hoạt động, sống, khả năng tái sinh, tiềm năng vô tận của
trí tuệ, tinh thần con người. Do đó, phát huy nhân tố con người có thể hiểu
như là phát huy nguồn lực con người, khi con người trở thành một điều kiện,
một tiềm năng cần phát huy để tạo ra động lực phát triển của một quá trình xã
hội.
Điểm khác nhau giữa hai khái niệm này: "Nguồn lực con người được
coi là khái niệm công cụ cơ bản để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội, theo quan điểm hệ thống phải đặt nó trong mối quan hệ với các nguồn lực
khác. Nó biểu hiện khả năng và phẩm chất của lực lượng lao động cả về mặt
số lượng và chất lượng. Còn "nhân tố con người" là cái cốt lõi, đặc trưng xã
hội, giữ vị trí trung tâm trong tiềm năng của nguồn lực con người, phản ánh
bản chất xã hội, mặt chất lượng của nguồn lực con người, nhấn mạnh tính
chất tích cực, tự giác, sáng tạo của nguồn lực con người trong quan hệ với thể
lực, kinh nghiệm, thói quen của chủ thể. Thực chất của việc phát huy nhân tố
con người là hướng mỗi cá nhân, đề cao tính độc lập, tự chủ, sáng tạo của cá
nhân hoặc đặt con người vào đúng vị trí của nó để con người có cơ hội bộc lộ
mình cống hiến cho sự phát triển. Nhưng chúng ta chỉ hiểu được khái niệm
nhân tố con người khi đặt nó trong hoạt động thực tiễn. Vì vậy, khi nhấn
mạnh hệ thống các chỉ số về chất lượng lao động thì khái niệm nguồn lực con
người là sự cụ thể hóa của khái niệm nhân tố con người. Tuy nhiên, "phát huy
nguồn lực con người" xét theo quan điểm đầu tư cho sự phát triển kinh tế - xã
hội bao hàm nghĩa rộng hơn "phát huy nhân tố con người".
Như vậy, nói đến nhân tố con người chính là nói đến con người với tính
cách là một thực thể hoạt động, là chủ thể cải tạo thế giới xung quanh và cải
tạo các mối quan hệ xã hội. Ở đây khi xem xét nhân tố con người cần chú ý
hai vấn đề sau:
13
Thứ nhất, xem xét nhân tố con người trong tính hiện thực cụ thể của nó,
trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Có nghĩa là xem xét con
người với tư cách là cá nhân, cụ thể sinh động. Mặt khác, còn khảo sát nhân
tố con người ở những tập thể cộng đồng, và khơng thể có khái niệm con
người tách rời hoạt động thực tiễn, chỉ có thơng qua hoạt động, con người mới
thể hiện như một động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ hai, vấn đề nhân tố con người phải được xem xét một cách toàn
diện, nhưng biểu hiện tập trung nhất vẫn là năng lực hoạt động sản xuất vật
chất, tức là xem xét nhân tố con người phải gắn với sản xuất và phát triển lực
lượng sản xuất.
1.1.2. Phát huy nhân tố con người
Tư tưởng phát huy nhân tố con người là chiến lược phát triển con
người, trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; Coi con người là yếu
tố quyết định và con người là đối tượng ưu tiên của sự phát triển. Tư tưởng ấy
thể hiện nhận thức và quan điểm coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu
của mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Động lực là cái thúc đẩy, còn mục tiêu là cái
phải đạt tới. Nói cách khác chính con người là chủ thể thúc đẩy kinh tế - xã hội
và chính con người là đối tưởng hướng tới của mọi hoạt động kinh tế - xã hội.
Do đó, việc nhận thức một cách toàn diện những nội dung của quan niệm
nhân tố con người có liên quan đến việc xác định một tổng hợp những điều
kiện, biện pháp thực tiễn mà quá trình quản lý kinh tế - xã hội phải thực hiện
nhằm phát huy trò nhân tố con người. Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa
tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm.
Phát huy nhân tố con người chính là sự chăm lo, tạo ra những điều kiện
cần thiết để mỗi người, mỗi cộng đồng thể hiện tối đa năng lực của mình trong
lao động, trong hoạt động sáng tạo nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội vì
hành phúc của mỗi con người. Đây cũng chính là quá trình làm cho mỗi con
người trở thành chủ thể có ý thức trong sáng tạo lịch sử và cải tạo thế giới.
14
Phát huy nhân tố con người về thực chất, cơ bản là nâng cao tính tích
cực xã hội của người lao động, bởi vì, tính tích cực xã hội là đặc tính năng lực
bản chất của con người, là tính chủ động lịng hăng hái nhiệt tình của con
người trong hoạt động nhận thức và thực tiễn. Những hoạt động đó có ý nghĩa
và tác dụng thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của xã hội. Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X viết:
Tích cực hóa nhân tố con người trên cơ sở không ngừng nâng cao chất
lượng nhân tố con người. "Tích cực hóa nhân tố con người là q trình phát
hiện, bồi dưỡng, kích thích phát triển, đồng thời phát huy và sử dụng có hiệu
quả tính tích cực, tự giác, sáng tạo của con người, tạo động lực phát triển xã
hội" [11, tr. 126-127].
Phát huy nhân tố con người là hướng vào mỗi cá nhân, để cao tính độc
lập tự chủ, đoàn kết, sáng tạo hoặc đặt con người vào đúng vị trí của nó để
con người có cơ hội bộc lộ mình ở nhiều vị trí khác nhau, để nhận được sự
cống hiến tối đa. Tóm lại, cái thôi thúc và tác dụng thúc đẩy con người hoạt
động một cách tích cực đó là nhu cầu và lợi ích... C. Mác từng nhấn mạnh tất
cả những gì mà con người đấu tranh để giành lấy đều dính liền với lợi ích của
họ. Nhu cầu xuất hiện sẽ thúc đẩy chủ thể hoạt động để thỏa mãn nhu cầu. Vì
nhu cầu là những địi hỏi của con người đối với điều kiện khách quan nhất
định nhằm đảm bảo sự tồn tại và sự phát triển của mình. Quan hệ lợi ích nẩy
sinh trước hết trên cơ sở nhu cầu, lợi ích chính là cơ sở, động lực trực tiếp của
tính tích cực xã hội của con người. Việc tạo điều kiện cho người lao động
đem hết tài năng, trí lực, sự sáng tạo của mình tích cực tham gia vào mọi hoạt
động kinh tế - xã hội, trước hết là để đảm bảo lợi ích thiết thân, thỏa mãn nhu
cầu của chính bản thân họ, đó là vấn đề cơ bản, đó là vấn đề mấu chốt để phát
huy tính tích cực xã hội của người lao động. Một khi con người đã nhận thức
được lợi ích, sẽ chuyển lợi ích thành động cơ và mục đích cho hoạt động của
mình. Cần phải biết khuyến khích lợi ích cá nhân, phải coi trọng lợi ích cá
15
nhân, nếu khơng thì sẽ rơi vào căn bệnh chủ quan, duy ý chí, làm hạn chế nỗ
lực cá nhân. Nhưng lợi ích cá nhân ở đây phải là lợi ích chân chính, cần có sự
thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Nhu cầu và lợi ích là một tất
yếu đối với cuộc sống của mỗi con người.
Sự phát triển của xã hội ngày càng nhanh chóng thì cũng ngày càng
phải phát huy vai trị nhân tố chủ quan của con người. Điều này đã được
chứng minh trong quá trình phát triển lịch sử xã hội, cả trong đời sống vật
chất và đời sống tinh thần. Trước đây sản xuất chỉ dựa vào kinh nghiệm. Đến
khi khoa học ra đời thì sản xuất phát triển nhanh chóng, đem lại năng suất lao
động cao, và khi đó khoa học đóng vai trị quan trọng trong sản xuất. Song
ngày nay, nhân tố quan trọng nhất trong sản xuất không phải là kỹ thuật, mà
là công nghệ hiện đại. Sự tiến bộ của khoa học - công nghệ đã ảnh hưởng và
có sự tác động to lớn đối với con người, nó khơng chỉ thúc đẩy sự tăng trưởng
về số lượng và chất lượng sản phẩm mà còn ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực, mọi
công việc trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và trở thành nguyên nhân
tạo ra nhiều sự biến đổi như: có sự thay đổi về phương thức sản xuất, sự thay
đổi về lực lượng sản xuất, sự thay đổi của đời sống và sự tiến bộ của xã hội.
Điều đó càng nói lên vai trị to lớn của con người, của nhân tố con người
trong phát triển sản xuất cũng như phát triển kinh tế - xã hội.
Cho nên, phát huy nhân tố con người trong phát triển kinh tế - xã hội
chúng ta cần phải làm thế nào để người lao động tham gia tích cực vào việc
phát triển lực lượng sản xuất xã hội và tự hồn thiện chính bạn thân mình với
tư cách là một bộ phận của lực lượng sản xuất. Đó chính là sự hăng say cải
tiến, chế tạo công cụ lao động, đổi mới quy trình cơng nghệ, nâng cao trình độ
chun mơn trình độ khoa học - kỹ thuật tích cực, tìm kiếm những đối tưởng
lao động mới, hoàn thiện hơn quan hệ sản xuất - với tư cách là chủ thể của
những quan hệ sản xuất. Tất cả là để đáp ứng nhu cầu và lợi ích của chính
mình cũng như đáp ứng nhu cầu và lợi ích của xã hội. Nên phải tạo ra được sự
16
hứng thú, sự quan tâm vật chất của mỗi con người đối với kết quả lao động
của mỗi cá nhân họ, của tập thể và của toàn xã hội, nếu quyền lợi vật chất và
tinh thần của người lao động khơng được đảm bảo đầy đủ thì sẽ triệt tiêu động
lực của con người và không thể động viên được quần chúng tham gia phong
trào cách mạng sôi nổi.
Đổi mới đã tạo điều kiện thuận lợi để mỗi cá nhân, mỗi thành viên
được phát triển tài năng và sự sáng tạo của mình, nó khơi dậy trong con người
những lịng tự hào, niềm tin, ý chí và lịng nhiệt tình cách mạng. Đảng và nhà
nước nhận thức rõ vai trò quyết định của con người đối với sự tồn tại, thịnh
vượng và sự phát triển của đất nước, phát triển thành quả cách mạng, thúc đẩy
sự nghiệp đổi mới vươn lên một cách vững chắc và hiệu quả. "Nguồn nhân
lực là yếu tố thứ nhất trong sự quyết định vận mệnh của đất nước và cái
quyết định đối với sứ mệnh lịch sử của một dân tộc.
Phát huy nhân tố con người là sự biểu hiện ra của chất lượng nguồn lực
con người, sức mạnh con người Lào phải được thể hiện thành sức mạnh của
đội ngũ nhân lực, trong đó có bộ phận nhân tài, trên nền sức mạnh dân trí với
cốt lõi là nhân cách, nhân phẩm đậm đà bản sắc dân tộc.
1.2. Quan điểm của Đảng nhân dân cách mạng Lào về nhân tố con
người trong phát triển kinh tế - xã hội ở Lào hiện nay
1.2.1. Tầm quan trọng của việc phát huy nhân tố con người trong
phát triển kinh tế - xã hội ở Lào hiện nay
Khi nói đến các nguồn lực cơ bản của sự phát triển, người ta thường nói
tới hai nguồn lực là nguồn lực tự nhiên và nguồn nhân lực con người nhưng
nguồn lực tự nhiên có hàm lượng tương đối ổn định, trong khi đó nguồn lực
con người lại mang tính vơ hạn và khơng mất đi trong q trình khai thác,
ngược lại nó có khả năng sinh sản, đổi mới và phát triển không ngừng nếu
biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý. Ngày nay, ở hầu hết các quốc gia
trên thế giới, người ta luôn quan tâm đến vai trò của con người, của nguồn
17
nhân lực. Trong quá trình xây dựng đất nước ở Lào, cần phải dựa vào thế
mạnh và năng lực của chính con người Lào, phải phát huy cao độ những trí
tuệ và tiềm năng chất xám của con người Lào. Phát huy nhân tố con người ở
Lào hiện nay vừa là vấn đề cấp bách, vừa là vấn đề chiến lược của cơng cuộc
đổi mới. Khẳng định điều đó là do:
Thứ nhất, nhân tố con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công
cuộc đổi mới.
Công cuộc đổi mới đã đem lại những điều mong muốn cho con người,
đồng thời khơi dậy ở con người niềm tự hào, lịng tin, ý chí và nhiệt tình cách
mạng để con người tự mình làm nên tất cả và tạo điều kiện thuận lợi để mỗi
cá nhân, mỗi thành viên trong xã hội phát triển tài năng sáng tạo của mình.
Phát huy nhân tố con người có ý nghĩa cực kỳ quan trọng vì chính nó sẽ tạo ra
sức mạnh để giúp chúng ta vượt qua những thử thách gay go, phức tạp của
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và có thể khắc phục những tác hại làm
ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội. Trong quá trình vận động và phát
triển đất nước, cách nhìn nhận về con người không ngừng bổ sung và phát
triển. Từ Đại hội IV đến nay, Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã nhấn mạnh
việc phát huy nhân tố con người. Nhận thức về vai trị, vị trí của con người
trong quá trình phát triển của lịch sử là khẳng định vai trò của quần chúng
nhân dân lao động trong sự nghiệp phát triển đất nước, đặc biệt là trong sự
nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Lào là một nước được xếp vào trong những nhóm nước lạc hậu (xếp do
Liên hợp quốc), sự đói nghèo và sự lạc hậu đang đe dọa đời sống của nhân
dân, hiện nay trong cả nước có 47 huyện nghèo nhất. Đảng và Nhà nước đang
tập trung thực hiện chiến lược xóa đói giảm nghèo, Đại hội Đảng lần thứ IX
của Đảng Nhân dân cách mạng Lào vẫn tiếp tục khẳng định mục tiêu mà Đại
hội khóa trước đã đề ra đến năm 2020 phải đưa đất nước thoát khỏi sự lạc
hậu. Nhân dân có cuộc sống tốt hơn bây giờ gấp 3 lần và nền kinh tế quốc dân
18
ổn định, Đại hội nhấn mạnh tầm quan trọng và sự ưu tiên đối với sự nghiệp
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. "Để thực hiện mục tiêu trên Đảng,
nhà nước đã kiên tri lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, khai thác sáng tạo sức mạnh
tổng hợp và tận dụng những cơ hội để tạo các bước đột phá trong 4 lĩnh vực,
cụ thể là: Bước đột phá về mặt tư duy; Đột phá về mặt đào tạo nguồn nhân
lực; Đột phá trong việc giải quyết các quy chế, cơ chế hành chính - quản lý và
bước đột phá trong việc giải quyết đói nghèo cho nhân dân, phấn đấu làm cho
đất nước vững mạnh, dân giàu, xã hội dân chủ cơng bằng và có sự hài
hồ."[17, tr. 69; 70]. Trong bài báo cáo thực trạng tổ chức thực hiện mục tiêu
phát triển thiên niên kỷ ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã định nghĩa về sự
nghèo rằng:
Nghèo là sự thiếu thốn những yếu tố cần thiết cơ bản trong sinh hoạt
hàng ngày như: sự thiếu lương thực (có lương thực ăn dưới 2100 kcl /1
người/1ngày), thiếu đồ mặc, khơng có chỗ ở ổn định, khơng có tiền chi trong
lúc ốm đau, khơng có khoản chi tiêu cho giáo dục, cho các thành viên trong
gia đình và khơng có điều kiện thuận lợi trong sự đi lại.
Từ đó ta thấy được sự thách thức, khó khăn đang gặp phải trong quá
trình phấn đấu phát triển đất nước. Do vậy, việc đầu tư đúng lúc đúng nơi
càng cần thiết, đặc biệt là trong bối cảnh của công cuộc đổi mới, để phát huy
nguồn lực phục vụ và tạo điều kiện cho sự phát triển.
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Do vậy, cần phải có chính sách đúng đắn đầu tư cho giáo
dục đào tạo, vì nâng cao chất lượng nhân tố con người phải thông qua giáo
dục đào tạo để tạo nên những con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng
về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đào đức là động lực của sự
nghiệp xây dựng xã hội mới tức là phát triển nguồn nhân lực phải hướng vào
việc xây dựng những đội ngũ người lao động có phẩm chất đạo đức tốt và
năng lực nghề nghiệp ngày càng cao cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất
19
nước. Đồng thời cùng coi trọng việc phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng và tôn
vinh nhân tài, phát triển nguồn nhân lực phải đi đơi với sử dụng có hiệu quả
nguồn lực đó. Đào tạo nguồn nhân lực cần được thực hiện kết hợp với xây
dựng cuộc sống hạnh phúc, dân chủ, cơng bằng, văn minh và có tính cộng
đồng cao.
Trong thời gian qua, từ thời chiến tranh cho đến hịa bình Đảng Nhân
dân cách mạng Lào ln thấy được vai trị, vị trí của con người nói chung và
của nhân dân Lào nói riêng trong tiến trình phát triển lịch sử, nhân dân Lào
mang tính cách mạng rất cao, chịu đựng biết bao hi sinh gian khổ luôn luôn
nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng lao động cần cù, chiến đấu dũng cảm
vì độc lập tự do của Tổ quốc và vì chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin
đã chỉ ra rằng: "Muốn làm cách mạng thành công đảng của giai cấp công nhân
phải tuyệt đối dựa vào nhân dân" [7, tr. 49]. Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng
đã lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước. Với sự
đa dạng hóa hình thức sở hữu của kinh tế nhiều thành phần thực sự khai thác
được mọi năng lực sản xuất của con người và khai thác mọi tiềm năng của xã
hội. Ngày nay, việc phát triển sản xuất hàng hóa là yêu cầu tất yếu của phát
triển xã hội và đã được Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào đặt ra
như là một trong những chủ trương lớn để phát triển kinh tế và đã được các
cấp, các ngành quan tâm triển khai thực hiện, và chính cái đó đã tạo điều kiện
cho sự phát huy tính chủ động sáng tạo của con người, tạo ra mối quan hệ sở
hữu có chủ thể chịu trách nhiệm, có động lực nội tại cho cá nhân hoạt động
sáng tạo. Từ đó, có thể khẳng định rằng, tất cả những đường lối chủ trương
chính sách của Đảng đều xuất phát từ con người, do con người, vì con người.
Và, phát huy nhân tố con người là yêu cầu cấp bách trong công cuộc đổi mới ở
Lào hiện nay.
20