Tải bản đầy đủ (.docx) (81 trang)

Kltn nông nghiệp phát triển bền vững ở tỉnh xaynhabuly, cộng hoà dân chủ nhân dân lào

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (459.77 KB, 81 trang )

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND Lào) hiện là một quốc
gia nông nghiệp lạc hậu với hơn 80% dân số sống ở nông thôn, 79% lao
động nông nghiệp. Sản phẩm nông nghiệp trong những năm qua ở Lào
chiếm tỷ trọng 27% GDP, nên phát triển nông nghiệp nông thôn là một vấn
đề có tầm chiến lược trong đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội
của Đảng và nhà nước CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay.
XayNhaBuLy là một tỉnh lớn của nước CHDCND Lào chiếm 16.389
km2 diện tích quốc gia, đồng thời là một trong số ít tỉnh ở miền núi có tiềm
năng để phát triển nền kinh tế đa dạng với thế mạnh về nông nghiệp, công
nghiệp và dịch vụ. Chính sách mở cửa tăng cường hợp tác và giao lưu
quốc tế của Đảng và nhà nước Lào đã tạo đà phát triển và mở rộng cơ hội,
triển vọng phát triển kinh tế cho XayNhaBuLy, đặc biệt là lĩnh vực nông
nghiệp. Nhưng hiện nay nông nghiệp ở tỉnh XayNhaBuLy lại phát triển
chậm hơn so với một số tỉnh thành trong cả nước, mặc dù có tiềm năng
vượt trội. Việc sử dụng nguồn tài ngun vốn có trong nơng nghiệp như
đất đai, rừng đặc dụng, nguồn nước ở tỉnh XayNhaBuLy còn nhiều bất
cập, kém bền vững nổi bật là những vấn đề cụ thể như:
Diện tích đất hoang hố cịn nhiều, tình trạng độc canh cây lúa cịn
phổ biến, cây công nghiệp ngắn ngày, cây màu đã được trồng thí điểm,
nhưng chưa phát triển. Tình trạng thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt vẫn
diễn ra ở nhiều nơi trong tỉnh. Đời sống nhân dân vùng nơng thơn cịn
nhiều khó khăn, đời sống văn hố tinh thần, cơ sở y tế giáo dục cịn hết sức
thấp kém. Có thể khái quát rằng nông nghiệp ở tỉnh XayNhaBuLy phát
triển chậm song lại kém bền vững. Xuất phát từ tình hình nông nghiệp,
nông thôn ở XayNhaBuLy như vậy, nên vấn đề địi hỏi nơng nghiệp phát
triển bền vững ở tỉnh này trở nên cấp bách, đặc biệt cả về lý luận cũng như

1



thực tiễn. Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài “Nông nghiệp phát triển bền
vững ở tỉnh XayNhaBuLy, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào’’ là đề tài
nghiên cứu nhằm cung cấp những luận cứ khoa học cho việc định hướng
quy hoạch và phát triển nông nghiệp một cách bền vững, góp phần xố đói
giảm nghèo (XĐGN) ở tỉnh XayNhaBuLy, khắc phục dần sự cách biệt
giữa thành thị và nơng thơn, giảm thiểu ơ nhiễm mơi trường trong q
trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố, giảm đi những nguy cơ gây bất ổn cả
về kinh tế lẫn xã hội trong tương lai.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Để góp phần thực hiện đường lối cơng nghiệp hố, hiện đại hố
nơng nghiệp nơng thơn do Đảng nhân dân cách mạng (NDCM) Lào khởi
xướng và góp phần cung cấp luận cứ, luận chứng khoa học cho phát triển
nông nghiệp, nông thôn trong điều kiện mới mà nhiều tác giả Lào đã quan
tâm và nghiên cứu về chủ đề này. Nội bật có các cơng trình sau:
- Kham Phao Sy LiSouk (2007): Giải pháp nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước về phát triển kinh tế nhà nước theo hướng sản xuất hàng hố
tại tỉnh UĐơmXay CHDCND Lào), Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính
cơng (Học Viện Hành chính quốc gia), Hà Nội.
Cơng trình này đã phân tích và làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và
phương hướng giải pháp trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp. Luận văn này chỉ nghiên cứu
góc độ quản lý nhà nước đối với kinh tế nông nghiệp của tỉnh Uđômxay
trong khoảng thời từ năm 2000 đến 2007. Theo tác giả để cho sản xuất
nông nghiệp phát triển ổn định thì nhà nước phải có sự quản lý để làm cho
sự cân bằng giữa thị trường đầu vào và thị trường đầu ra. Vì vậy, nhà nước
cần phải xây dựng được một hệ thống các biện pháp chính sách đồng bộ,
hữu hiệu trong việc đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực, đặc biệt là ở
nông thôn. Và đặc biệt hồn thiện và chỉ đạo tốt một số chính sách kinh tế


2


chủ yếu sau như: Chính sách về ruộng đất, chính sách về thị trường, chính
sách về khoa học - cơng nghệ, chính sách về thuế, chính sách áp dụng tỷ
giá hối đối, chính sách trợ cấp và trợ giá nơng sản.
- Boun Homh Sen Kham (2007): Phát triển kinh tế nông nghiệp ở
tỉnh XayNhaBuLy(nước CHDCND Lào) đến năm 2010 thực trạng phương
hướng và giải pháp,Khoá luận tốt nghiệp đại học, Hà Nội.
Cơng trình này đã phân tích về những thành tựu và những tồn tại
trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Theo tác giả chuyển dịch cơ cấu
nội bộ ngành nơng nghiệp chậm. Tiềm năng nơng nghiệp cịn lớn nhưng
khai thác phát huy chưa đúng mức, sử dụng đất đai cịn lãng phí, hệ số sử
dụng đất thấp. Nơng nghiệp phát triển chưa toàn diện, chưa cân đối giữa
trồng trọt và chăn ni, cịn độc canh lúa, nơng nghiệp phát triển chưa
vững chắc, chưa đồng bộ, kinh tế nông thôn chủ yếu là thuần nông, đề xuất
một số phương hướng và các giải pháp phát triển nông nghiệp ở tỉnh
XayNhaBuLy, tuy nhiên các giải pháp cịn chưa tồn diện.
- Neng Yang Chay Vang Manh (2006): Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp ở tỉnh Viêng Chăn CHDCND Lào trong giai đoạn từ nay đến
2010,Khoá luận tốt nghiệp đại học, Hà Nội.
Trên cơ sở nhận thức vấn đề lý luận chung về cơ cấu kinh tế và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, khố luận đề xuất những phương
hướng và giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng
nghiệp nhằm phát triển tồn diện kinh tế - xã hội nông thôn tỉnh Viêng
Chăn trong thời gian tới.
Như vậy, đã có một số cơng trình nghiên cứu về chủ đề nông nghiệp,
nông thôn của một số địa phương của Lào, song các cơng trình đó hoặc là
tiếp cận dưới góc độ kinh tế quản lý hoặc chuyên ngành kinh tế nơng
nghiệp mà chưa có cơng trình nào nghiên cứu theo góc độ kinh tế chính trị.

Ngay cả cơng trình của tác giả BounHomh SenKham nghiên cứu về vấn đề

3


nơng nghiệp của tỉnh XayNhaBuLy thì mới chỉ phân tích một cách sơ lược
về thành công và hạn chế của lĩnh vực nơng nghiệp mà chưa nghiên cứu
một cách có hệ thống nông nghiệp theo hướng bền vững cả về phương diện
lực lượng sản xuất (LLSX), phương diện quan hệ sản xuất (QHSX), xã hội
và mơi trường. Vì vậy chưa có cơng trình nghiên cứu nào trùng tên và cách
tiếp cận như chủ đề nghiên cứu của khóa luận này.
3. Mục đích, nhiệm vụ của khóa luận
3.1. Mục đích
Trên cơ sở lý luận và những kinh nghiệm về nông nghiệp phát triển
bền vững để đánh giá

thực trạng phát triển nông nghiệp ở tỉnh

XayNhaBuLy và đưa ra giải pháp để thúc đẩy kinh tế nông nghiệp của tỉnh
XayNhaBuLy phát triển theo hướng bền vững trong những năm tới.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ một số khía cạnh lý luận và thực tiễn việc phát triển nông
nghiệp theo hướng bền vững.
- Đánh giá, phân tích tiềm năng, thực trạng sản xuất nơng nghiệp
trên địa bàn của tỉnh XayNhaBuLy theo các nội dung của phát triển bền
vững. Từ đó đề xuất giải pháp thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững ở
tỉnh XayNhaBuLy của đất nước Lào.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của khóa luận
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề chủ yếu về nông nghiệp và phát triển bền

vững ở tỉnh XayNhaBuLy theo góc độ kinh tế chính trị. Đó là về phương
diện LLSX, quan hệ sản xuất thể hiện các khía cạnh: Bền vững về kinh tế,
bền vững về xã hội, bền vững về môi trường.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Khóa luận nghiên cứu nơng nghiệp phát triển bền vững
ở tỉnh XayNhaBuLy giai đoạn 2006-2013 để làm cơ sở cho việc đề xuất

4


các giải pháp nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững ở Tỉnh
XayNhaBuLy trong giai đoạn 2013 -2020
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của khóa luận
5.1. Cơ sở lý luận
Khóa luận nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, quan điểm của Đảng NDCM Lào, các chủ trương, chính sách về
phát triển nông nghiệp của tỉnh XayNhaBuLy và tiếp thu có chọn lọc
những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đã được công bố về nông
nghiệp phát triển bền vững.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử làm cơ sở cho phương pháp luận trong nghiên cứu, tiếp cận và giải
quyết vấn đề. Luận văn cũng sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp,
thống kê, so sánh, để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu.
6. Những đóng góp về khoa học của khóa luận
- Thứ nhất: Góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về nơng
nghiệp phát triển bền vững, tiếp cận trên góc độ khoa học kinh tế chính trị.
- Thứ hai: Nêu bật những kết quả và hạn chế trong phát triển nông
nghiệp bền vững ở tỉnh XayNhaBuLy giai đoạn 2006 -2013.
- Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát
triển bền vững ở tỉnh XayNhaBuLy đến 2020.

Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho việc hoạch định kế hoạch,
giải pháp nông nghiệp phát triển bền vững tại XayNhaBuLy và những địa
phương có điều kiện tương tự của nước CHDCND Lào.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa
luận gồm 3 chương, 7 tiết:

5


Chương 1
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1. LÝ LUẬN VỀ NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

1.1.1. Nhận thức chung về phát triển bền vững
Đời sống của con người bao gồm nhiều hoạt động như kinh tế, chính
trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật... Xã hội càng tiến bộ, thì các
hoạt động đó càng phong phú, đa dạng và phát triển ở trình độ cao hơn.
Để sinh tồn con người cần phải ăn, mặc, ở, phương tiện đi lại và các
điều kiện vật chất cần thiết khác. Những thứ này khơng có sẵn mà con
người phải lao động để tạo ra chúng, đó là quá trình sản xuất của cải vật
chất. Sản xuất vật chất là sự tác động của con người vào tự nhiên nhằm
biến đổi các vật thể của tự nhiên để tạo ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu
của mình. Trong quá trình sản xuất vật chất con người sử dụng sức lao
động của mình tác động vào đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động
để cải biến tự nhiên. Tuy nhiên, trong q trình sản xuất khơng phải đơn
thuần chỉ có quan hệ giữa con người với tự nhiên mà cịn phải có mối quan
hệ giữa con người với con người, phải có sự tác động qua lại giữa con
người với nhau trong sản xuất - mối quan hệ đó gọi là QHSX. Quan hệ sản

xuất biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa người với người trong q trình
sản xuất - đó là quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất (TLSX).
Lực lượng sản xuất, QHSX là hai mặt của một phương thức sản xuất
(PTSX). PTSX là phương thức khai thác những của cải vật chất (TLSX và tư
liệu sinh hoạt) cần thiết cho xã hội có thể tồn tại và phát triển.
Từ buổi sơ khai trong PTSX công xã nguyên thủy, nhu cầu vật chất
của con người được khai thác hoàn toàn từ tự nhiên bằng hái lượm và săn
bắt. Đến PTSX chiếm hữu nơ lệ, PTSX phong kiến trình độ của LLSX có
nhiều tiến bộ cùng với nó QHSX cũng biến đổi theo tạo nên một phương

6


thức sản xuất tiến bộ hơn. Đến chủ nghĩa Tư bản, LLSX có sự phát triển
vượt bậc, con người đã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ đã tạo ra
“một đống hàng hóa khổng lồ", đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú đa
dạng của con người nhưng PTSX này dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân
về TLSX, bóc lột lao động làm thuê nhằm thu được nhiều giá trị thặng dư
cho nhà tư bản cho nên nó kìm hãm sự phát triển, tất yếu sẽ bị thay thế.
Sản xuất ngày nay dù tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, đáp ứng
ngày càng tốt hơn nhu cầu của con người do ứng dụng thành tựu khoa
học - kỹ thuật với việc khai thác các yếu tố đầu vào của quá trình sản
xuất ngày càng hiệu quả. Nhưng cũng chính từ sự phát triển đó đã nảy
sinh nhiều thách thức mới, nhiều quốc gia đã quá tập trung cho tăng
trưởng kinh tế nên đã bỏ qua các yếu tố liên quan đến môi trường, thiếu
sự tôn trọng sự bền vững nuôi trường khi ứng dụng kỹ thuật mới cho nên
đã khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách quá mức, dẫn đến hệ sinh
thái bị mất cân đối nghiêm trọng, khí hậu thay đổi theo hướng bất lợi cho
sản xuất và cuộc sống, làm cho chất lượng cuộc sống của con người ngày
càng giảm sút, mất công bằng xã hội ngày càng sâu sắc.

Đã có rất nhiều bài học cho các nước quá coi trọng tăng trưởng
kinh tế nhanh, tạo được sự bứt phá lớn về kinh tế, nhưng phải trả giá đắt
về việc làm cạn kiệt và suy thối mơi trường. Trung Quốc là một ví dụ:
Trung Quốc hiện có 16 trong 20 đơ thị ơ nhiễm nhất thế giới. Mưa axít
rơi trên ¼ lãnh thổ Trung Quốc làm giảm năng suất mùa màng và xói
mịn các cơng trình xây dựng, đất đai cũng ơ nhiễm. Phá rừng song song
với khai thác quá mức đồng cỏ để chăn nuôi súc vật và canh tác đã biến
các vùng ở Đông bắc Trung Quốc thành sa mạc. Cục lâm vụ Trung Quốc
ước lượng là hiện tượng sa mạc hóa đã biến 400 triệu dân thành người tị
nạn môi sinh, phải tìm kiếm nơi ở mới. Đất đai bị ơ nhiễm cũng gây lo
ngại về an toàn thực phẩm.

7


Vào những năm cuối của thế kỷ XX, con người đã bắt đầu nhận ra
rằng chúng ta khơng thể có được một xã hội hay một nền kinh tế lành
mạnh trong một thế giới có quá nhiều sự thách thức và bất lợi: Nạn đói
nghèo sản xuất ngày càng khó khăn, tái sản xuất mở rộng có nhiều lực cản,
tình trạng ơ nhiễm mơi trường, xói mịn đất, nhiễm mặn, úng ngập, mất độ
màu mỡ của đất ngày càng tăng lên... Mặt khác, trên lĩnh vực xã hội cũng
có nhiều vấn đề như phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng, mất công bằng
xã hội... Đã làm cho sản xuất và cuộc sống nhân loại ngày càng gặp nhiều
khó khăn. Để giải quyết vấn nạn này đòi hỏi con người phải xem xét lại
hành vi của mình trong quá trình tồn tại và phát triển, phải tìm ra cách thức
phát triển kinh tế xã hội một cách hài hòa vừa đảm bảo cuộc sống hiện tại
vừa đảm bảo ổn định cho tương lai; vừa phát triển kinh tế nhanh, mạnh
nhưng vẫn phải đảm bảo tốt môi trường sinh thái, đảm bảo cơng bằng xã
hội. Từ đó vấn đề phát triển bền vững được nghiên cứu và trở thành định
hướng phát triển của nhân loại.

Phát triển bền vững là một khái niệm, xuất hiện trên cơ sở đúc rút
kinh nghiệm phát triển của các quốc gia trên thế giới từ trước đến nay, phản
ánh xu thế của thời đại và định hướng tương lai của lồi người. Nó xuất
hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới
do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên thế giới (IUCN)
công bố với nội dung rất đơn giản: "sự phát triển của nhân loại không thể
chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất
yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" [9, tr.16].
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở
Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về
phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm
2002 đã xác định: phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp
chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt phát triển gồm phát triển kinh tế
(nhất là tăng trưởng kinh tế); phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ,
8


công bằng xã hội, XĐGN và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường
(nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi
trường, phòng chống cháy và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng
tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên). Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền
vững là: sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng
xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên tiết kiệm; bảo vệ
và nâng cao được chất lượng mơi trường sống.
Từ đó có thể hiểu phát triển bền vững là kiểu phát triển vừa đáp ứng
được nhu cầu của các thế hệ hiện tại, vừa không ảnh hưởng xấu đến khả
năng phát triển của các thế hệ tương lai; là sự phát triển kết hợp hài hòa
giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và môi trường sinh thái nhằm
làm cho cuộc sống của con người tốt đẹp hơn.
Sự phát triển hài hòa trong phát triển bền vững thể hiện: kinh tế có

tốc độ tăng trưởng cao ổn định trong thời gian dài tất yếu kéo theo chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Đến lượt chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích
cực sẽ dẫn đến cơ cấu ngành nghề thay đổi (xuất hiện ngành nghề mới, làm
việc mới) thay đổi kết cấu dân cư…Bản thân phát triển bền vững về kinh tế
đã bao hàm cả phát triển bền vững xã hội.
Như vậy, phát triển bền vững là sự phát triển hài hịa về kinh tế, văn
hóa, xã hội và mơi trường, nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại mà
không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. Theo
đó, phát triển bền vững gồm 3 nội dung cơ bản sau:
Một là, phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi đảm bảo kết hợp hài hòa,
hợp lý giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu phát triển văn hóa - xã
hội trong đó xác lập được sự cân đối giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc
sử dụng các nguồn lực con người, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công
nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ thân thiện với môi trường.
Hai là, phát triển bền vững về xã hội là sự phát triển trong đó trước

9


mắt xã hội có nền kinh tế tăng trưởng và ổn định gắn liền với xây dựng chế
độ dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội, sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế
và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi đối
tượng trong toàn xã hội.
Ba là, phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường là sự phát
triển trong đó các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo được sử dụng
trong phạm vi cho phép và có khả năng khôi phục được cả về số lượng
và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo được phải sử dụng tiết
kiệm và hợp lý nhất.
1.1.2. Khái niệm và nội dung về nông nghiệp phát triển bền vững
- Khái niệm:

Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng. Trồng trọt
và chăn ni tạo ra sản phẩm nơng nghiệp cịn bao gồm cả một số loại việc
sơ chế sản phẩm của ngành trồng trọt và chăn nuôi (nếu như những công
việc này không tách ra thành những ngành công nghiệp độc lập) ở một số
nước nơng nghiệp cịn bao gồm cả lâm nghiệp.
Nông nghiệp sản xuất thực phẩm cho người, nguyên liệu cho rất
nhiều ngành công nghiệp (thực phẩm, thức ăn gia súc tổng hợp, dệt, dược
liệu, hương liệu v.v..) tái sản xuất sức kéo (ni ngựa, ni bị v.v..).
Trong nơng nghiệp có các ngành trồng trọt (trồng lúa, trồng rau, trồng hoa
quả v.v..) ngành chăn nuôi. Sự kết hợp đúng đắn giữa 2 ngành này sẽ bảo
đảm sử dụng hợp lý các nguồn vật tư và lao động.
Tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp là đất đai và những đặc
điểm của đất đai đã tạo ra những hình thức đặc thù của sự tập trung hóa và
chun mơn hóa trong sản xuất nơng nghiệp.
Nơng nghiệp phát triển bền vững là quá trình chuyển dịch cơ cấu,
tăng trường kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp đi liền với thúc đẩy tiến
bộ xã hội nông thôn trong khi không xâm hại vào sự cân bằng tự nhiên

10


mơi trường.
- Nội dung:
Theo nghĩa đó, nơng nghiệp phát triển bền vững là sự thống nhất của
ba nội dung kinh tế, xã hội và môi trường. Xét trên phương diện nền sản
xuất thì ba nội dung phản ánh sự bền vững trong phát triển LLSX, QHSX
và sự bền vững môi trường sinh thái.
+ Nội dung kinh tế của nông nghiệp phát triển bền vững là: sự phát
triển duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn ngành cao ổn định, gắn
với chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, theo chiều hướng tiến bộ;

chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng tiến bộ nghĩa là chuyển
dần từ sản xuất tự cấp, tự túc, quảng canh theo hướng sản xuất hàng hóa,
chuyên canh, tạo sản lượng tập trung có thể đem lại nguồn lợi với cho
nơng dân, phản ánh lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái của địa phương,
việc ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới vào sản xuất đem
lại năng suất, bảo đảm chất lượng, có giá trị kinh tế cao; sử dụng các
nguồn lực vốn, đất đai, nguồn nước, khoa học - cơng nghệ, lao động, tiết
kiệm, có hiệu quả; LLSX và QHSX luôn được củng cố và phát triển.
+ Nội dung xã hội của nông nghiệp phát triển bền vững, trước hết
thể hiện sự phân phối công bằng các nguồn lực giữa nông nghiệp với các
lĩnh vực khác; Nhà nước có chính sách trong việc đảm bảo an ninh lương
thực XĐGN, nâng dần mức sống của dân cư nông nghiệp đi đơi với phát
triển văn hóa, giáo dục, y tế, xây dựng cơ sở hạ tầng kĩ thuật (đường,
điện, trường, trạm…), phát triển dịch vụ xã hội và tạo cho người dân
được tiếp cận bình đẳng đối với loại dịch vụ này, thực hiện dân số kế
hoạch hóa gia đình v.v…
+ Nội dung bảo đảm môi trường cho nông nghiệp phát triển bền
vững là khả năng bảo vệ, tái tạo độ màu mỡ của đất nông nghiệp; bảo vệ
môi trường nước, mơi trường khơng khí, bảo vệ rừng; mức độ sử dụng
11


thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, thức ăn gia súc, các sản phẩm sinh học
phải chú ý tới bảo vệ môi trường và sức khỏe của con người.
1.1.3. Vai trị của nơng nghiệp phát triển bền vững
- Nơng nghiệp là khu vực kinh tế truyền thống, nó chịu ảnh hưởng to
lớn của điều kiện đất đai, khí hậu và là khu vực duy nhất sản xuất ra lương
thực thực phẩm, nơng nghiệp có vai trị hết sức quan trọng đối với sự phát
triển của toàn bộ nền kinh tế, đồng thời bản thân nó chịu ảnh hưởng to lớn
của q trình phát triển.

- Phát triển kinh tế nơng nghiệp tạo ra những tiền đề kinh tế quan
trọng và không thể thiếu để đảm bảo thắng lợi cho tiến trình cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
- Phát triển kinh tế nơng nghiệp một cách mạnh mẽ và ổn định tạo
cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhất là cho công nghiệp một cơ sở vững
chắc về nhiều phương diện, trước hết là lương thực thực phẩm. Dù cho nền
kinh tế của nước CHDCND Lào nói chung, tỉnh XayNhaBuly nói riêng
phát triển đến đâu và tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm xuống do năng suất
lao động làm trong nông nghiệp tăng lên đến mức nào đi chăng nữa thì
nơng nghiệp bao giờ cũng đóng một vai trị quan trọng vì nó thỏa mãn nhu
cầu hàng đầu của con người về ăn, góp phần ổn định về chính trị, kinh tế,
quốc phịng và an ninh.
- Kinh tế nơng nghiệp có vị trí chiến lược quan trọng trong việc phát
triển kinh tế nói chung đối với nước CHDCND Lào, bởi đại bộ phận dân
chúng vẫn sống bằng nghề nơng. Vì vậy kinh tế nơng nghiệp phát triển nó
sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế xã hội đất nước, góp phần đáng
kể vào q trình tích lũy cho nền kinh tế quốc dân.
- Nơng nghiệp có vai trị quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố
đầu vào cho công nghiệp, và khu vực thành thị.

12


Trong giai đoạn đầu của sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
phần lớn dân cư sống bằng nghề nơng thì nơng nghiệp thực sự là nguồn
cung quan trọng, nguồn dự trữ dồi dào cho công nghiệp và khu vực thành
thị. Khu vực kinh tế nông nghiệp không chỉ sản xuất ra sản phẩm tiêu dùng
trực tiếp cho con người mà còn cung cấp nguồn nguyên liệu quý cho nhiều
ngành công nghiệp như, công nghiệp chế biến, công nghiệp nhẹ, tiểu thủ
công nghiệp…

- Phát triển kinh tế nông nghiệp sẽ thực hiện được q trình cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa tại chỗ, gắn bó tại chỗ giữa cơng nghiệp và nơng
nghiệp, vấn đề đơ thị hóa sẽ được giải quyết theo phương thức đơ thị hóa
tại chỗ.
- Kinh tế nơng nghiệp phát triển sẽ đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ
lớn các loại sản phẩm nông - lâm - thủy sản dễ dàng gia nhập thị trường thế
giới hơn so với các hàng hóa cơng nghiệp vì vậy đối với nước đang phát
triển như nước Lào thì nền kinh tế nơng nghiệp phát triển, phát triển nguồn
xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm, thủy sản.
- Kinh tế nông nghiệp phát triển tạo ra cơ sở vật chất cho sự phát
triển văn hóa ở nông thôn, việc phát triển kinh tế nông nghiệp sẽ tạo điều
kiện để giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa xã hộ tốt đẹp, bài trừ văn
hóa lạc hậu và tổ chức tốt đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân.
- Phát triển kinh tế nông nghiệp có vai trị lớn, là cơ sở vật chất cho
sự phát triển bền vững của môi trường, trong nông nghiệp sử dụng nhiều
hóa chất như phân bón, thuốc trừ sâu nên làm ô nhiễm đất và nguồn nước,
mặt khác khi canh tác dễ gây sói mịn ở vùng đất rốc, hiện tượng chặt phá
rừng… sẽ tạo ra một số yếu tố làm nóng bầu khí quyển, vì vậy trong q
trình sản xuất nơng nghiệp cần có những giải pháp để duy trì và điều đó sẽ
tạo ra sự bền vững của môi trường.

13


Hệ sinh thái của CHDCND Lào phụ thuộc rất lớn vào nền sản xuất
nông nghiệp. Trong sản xuất nông nghiệp sử dụng một lượng hóa chất rất
lớn, gồm hàng triệu tấn phân bón, hàng chục tấn thuốc trừ sâu, diệt cỏ.
Hoạt động kinh tế nông nghiệp diễn ra trên hầu hết, trải rộng trên khắp
lãnh thổ tác động mạnh mẽ tới sự hình thành hệ sinh thái từ nguồn nước,
khơng khí, thảm thực vật tới đất đai. Vì vậy giải quyết vấn đề sinh thái

phải gắn liền với chính sách nơng nghiệp.
Ổn định chính trị - xã hội là nhân tố quan trọng bậc nhất đối với sự
phát triển. Song, bản thân những vấn đề này lại phụ thuộc vào những yếu
tố khác, trong đó có vấn đề nơng nghiệp. Là ngành duy nhất cung cấp
lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu cơ bản nhất và lớn nhất của tiêu
dùng xã hội, nông nghiệp tác động trực tiếp nhất tới trạng thái chính trị xã hội. Mặt khác nó là khu vực kinh tế cung cấp 50% toàn bộ thu nhập
quốc dân, và thu nhập của 80% dân số nước CHDCND Lào phụ thuộc
vào nơng nghiệp. Chính vì vậy sự thịnh, suy của kinh tế nông nghiệp tác
động mạnh mẽ tới tâm trạng chính trị của đa số dân cư. Đẩy mạnh sản
xuất nơng nghiệp để nó có thể cung cấp lương thực - thực phẩm để nó có
thể ni sống tồn bộ dân cư, đồng thời có sản phẩm thặng dư để xuất
khẩu là một giải pháp có ý nghĩa to lớn cả về chính trị, kinh tế, xã hội
thực tế ở nước CHDCND Lào.
Khi nói về vai trị của nơng nghiệp đối với sự phát triển kinh tế xã
hội Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng nhân dân cách mạng
Lào cũng khẳng định: “Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công
nghiệp chế biến, phát triển tồn diện kinh tế nơng thơn và xây dựng nông
thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế xã
hội”. Song phải thấy rằng đề cao tuyệt đối cũng sai lầm cũng như coi nhẹ
nông nghiệp và đều làm suy yếu nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp và
dịch vụ đều có thể tạo nên sự phát triển mạnh và mức tăng trưởng cao

14


song, điều cần khẳng định ở đây là trong tình trạng lạc hậu hiện nay cả
nước CHDCND Lào phải biết dựa vào nông nghiệp để xác lập những điều
kiện ban đầu cho sự phát triển.
1.1.4 Đặc trưng của nông nghiệp phát triển bền vững và các nhân
tố ảnh hưởng tới nông nghiệp phát triển bền vững.

1.1.4.1. Đặc trưng của nông nghiệp phát triển bền vững
* Tăng trưởng kinh tế nông nghiệp đi liền với cải thiện đời sống
nhân dân, không đẩy nhanh tốc độ phân hóa giàu nghèo trong nơng thôn
- Tăng trưởng là một yếu tố không thể thiếu trong phát triển bền vững
nói chung, trong thực hiện phát triển nơng nghiệp bền vững nói riêng. Nơng
nghiệp có tăng trưởng cao mới tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu thiết
yếu của cuộc sống, cung cấp nguyên liệu cho các ngành khác và cho xuất
khẩu. Nhưng tăng trưởng trong bền vững không phải dựa trên việc tăng khai
thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn lực một cách quá mức mà
phải dựa vào việc ứng dụng các thành tựu mới về công nghệ sinh học, bảo
quản và chế biến, bảo vệ thực vật, phát triển nông nghiệp sinh thái… Muốn
vậy phải đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) trong sản
xuất nơng nghiệp để có năng suất, chất lượng, hiệu quả mà vẫn đảm bảo
nuôi dưỡng, tái tạo, phát triển các nguồn lực cho sự phát triển lâu dài.
- Nông nghiệp phát triển bền vững là nền sản xuất trong đó hoạt
động của con người phù hợp với các quy luật phát triển của tự nhiên, khai
thác và bồi dưỡng được tự nhiên được thực hiện trong cùng một q trình,
nhờ đó duy trì được môi trường tự nhiên cho đời sống trường tồn của mọi
thế hệ. Các hoạt động của con người không thể đi ngược các quy luật của
tự nhiên, mà phải nhận thức đúng quy luật của thiên nhiên để sử dụng
chúng vào phục vụ đời sống của con người. Nguyên tắc hoạt động trong
nền nông nghiệp phát triển bền vững là các chủ trương chính sách của nhà
nước, của cơ quan có thẩm quyền phải được xây dựng trên cơ sở tơn trọng
các quy luật vốn có của thiên nhiên. Phải xem xét toàn bộ trong sự vận
15


động của nó, khơng tách rời từng bộ phận; phải suy nghĩ đến lợi ích tồn
cục, khơng vì lợi ích của bộ phận mà làm hại đến toàn cục. Tấn cơng vào
thiên nhiên, hủy hoại mơi trường thiên nhiên vì những lợi ích ngắn hạn

trước mắt… là tự tấn cơng vào chính sự sống của hơm nay và mai sau của
mình và cộng đồng. Như vậy, nơng nghiệp phát triển bền vững không thu
hẹp trong phạm vi nông nghiệp, mà còn tham gia vào giải quyết những vấn
đề lớn mang tính tồn cầu.
- Nơng nghiệp phát triển bền vững là nền nơng nghiệp sử dụng tiết
kiệm, có hiệu quả các nguồn lực nhưng vẫn đảm bảo sự tăng trưởng. Các
nguồn lực chủ yếu cho phát triển nông nghiệp bền vững bao gồm: vốn, sức
lao động, đất đai, khoa học công nghệ. Sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả
nguồn vốn thể hiện trước tiên ở chính sách đầu tư đúng hướng, tập trung,
không dàn trải nhưng vẫn đảm bảo tốc độ tăng trưởng.
- Nông nghiệp phát triển bền vững là nền nông nghiệp bảo đảm được
công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, tạo được cơ sở vật
chất cho phát triển nông thôn mới. Đây là đặc trưng rất quan trọng trong
nơng nghiệp phát triển bền vững, vì nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều
lao động, nhưng lao động nơng nghiệp lại có tính chất thời vụ, thu nhập
thấp, điều kiện sinh sống ở nông thôn gặp nhiều khó khăn, cho nên hiện
tượng bỏ nghề nơng đi tìm một cơng việc khác có thu nhập cao hơn là một
xu thế trong sự phát triển của xã hội, nhất là thời kì phát triển cơng nghiệp.
Vì thế, một đặc trưng rất quan trọng và cũng là yêu cầu để nông nghiệp
phát triển bền vững: vừa đảm bảo việc làm cho người lao động nơng
nghiệp có mức sống khơng được chênh lệch thấp quá so với mức sống
trung bình của cư dân đô thị và thường xuyên được cải thiện; vừa phải
quan tâm đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - kĩ thuật (điện, đường,
trường trạm…), kết cấu hạ tầng văn hóa xã hội, (các thiết chế văn hóa, các
điểm hoạt động văn hóa, thể thao, các loại hình dịch vụ…) ở nơng thơn
cũng phải quan tâm tốt hơn, không quá chênh lệch với đô thị.
16


- Nông nghiệp phát triển bền vững là nền nông nghiệp, trong đó địi

hỏi trình độ học vấn và chun mơn của người lao động ngày càng cao . Do
đó, muốn nông nghiệp phát triển bền vững, người lao động phải có trình
độ khoa học kĩ thuật, kiến thức chính trị - xã hội, kiến thức bảo vệ môi
trường nhất định. Những kiến thức đó giúp cho họ ứng dụng vào trong sản
xuất để nông nghiệp phát triển bền vững. Đến lượt nó, sự phát triển của
nơng nghiệp bền vững lại đặt ra yêu cầu đòi hỏi của người lao động có
trình độ cao hơn.
Một đặc trưng rất quan trọng và cũng là yêu cầu để xây dựng nông
nghiệp phát triển bền vững là: vừa phải đảm bảo việc làm cho người lao
động nông nghiệp, vừa đảm bảo mức sống khơng q thấp so mức sống
trung bình của cư dân đô thị và thường xuyên được cải thiện; vừa phải
quan tâm đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật (điện, đường,
trường, trạm,…), kết cấu hạ tầng văn hóa - xã hội (các thiết chế văn hóa,
các điểm hoạt động văn hóa thể thao, các loại hình dịch vụ,…) ở nông thôn
cũng như phải quan tâm tốt hơn, không quá chênh lệch với thành thị.
* Chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng
hóa lớn nhưng khơng làm phân hóa mạnh mẽ thu nhập của nơng dân
Nói đến cơ cấu kinh tế trong nơng nghiệp là nói đến cơ cấu giữa trồng
trọt và chăn nuôi. Trong trồng trọt lại phân ra cơ cấu giữa cây lương thực,
cây công nghiệp, cây rau màu… Trong chăn ni có cơ cấu giữa chăn ni
gia súc, gia cầm, thủy sản… Cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý là cơ cấu
đảm bảo tỷ trọng phù hợp giữa chăn nuôi và trồng trọt, giữa các loại cây
trồng, giữa các loại con… trên cơ sở lợi thế cạnh tranh và sự cân đối trong
phát triển nông nghiệp từng vùng, từng địa phương.Việc chuyển dịch cơ cấu
cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa lớn sẽ chịu động của quy
luật giá trị, các quy luật của nền kinh tế hàng hóa, do đó có thể gây ra phân
hóa về thu nhập, từ đó có thể gây ra phân hố xã hội trong nơng thơn. Nếu
sự phân hóa q mức sẽ gây bất ổn định xã hội, từ đó phát triển sẽ kém bền
17



vững. Do đó, nơng nghiệp phát triển theo hướng bền vững thể hiện yêu cầu
chuyền dịch theo hướng tiến bộ khơng gây sự phân hóa q mức trong nơng
thơn mà tạo sự thịnh vượng cho nơng thơn, nơng nghiệp.
* Có sự tăng trưởng sản lượng nông nghiệp nhưng không làm cạn
kiệt, suy thối mơi trường
Mơi trường tự nhiên cung cấp nguyên liệu và không gian cho sản
xuất xã hội. Con người sống trên Trái đất cần có khơng khí để hít thở,
nước và thực phẩm để ni dưỡng cơ thể, đất đai để xây dựng nhà cửa,
trồng cây, chăn nuôi và tiến hành các hoạt động sản xuất… Môi trường tự
nhiên gắn liền với sự tồn tại của con người và là cơ sở để con người sống
và phát triển.
Đồng thời con người cải tạo môi trường tự nhiên thông qua việc cải tạo
đất, nguồn nước, trồng cây xanh, trồng rừng, bảo vệ các loài động thực vật
quý hiếm và nếu chúng ta biết bảo vệ khai thác đúng cách, thì mơi trường sẽ
là bạn tốt của mình, giúp chúng ta có thể khắc phục được sự khó khăn, phát
triển cơ sở kinh tế trong hộ gia đình. Tuy nhiên phần lớn hoạt động của con
người điều mang lại tác động tiêu cực cho môi trường tự nhiên.
1.1.4.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới nông nghiệp phát triển bền vững
* Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
- Điều kiện đất đai:
Đất đai là một nhân tố cực kỳ quan trọng trong quá trình sản xuất của
cải vật chất của xã hội. Đây chính là tiền đề ban đầu cho mọi q trình sản
xuất như sản xuất nơng nghiệp, sự tác động của yếu tố đất đai rất rõ ràng.
- Địa hình:
Đi đơi với yếu tố đất đai thì yếu tố địa hình cũng có sự tác động đến
sự phát triển nơng nghiệp theo hướng bền vững. Nếu địa hình thuận lợi tức
là không bị chia cắt xé nhỏ và phức tạp sẽ thuận lợi cho sản xuất, cho việc
trao đổi hàng hố và ngược lại nếu địa hình bị chia cắt nó cản trở việc mở
rộng quy mơ đầu tư, sản xuất và giao lưu giữa các vùng, cản trở việc đầu

tư cho giáo dục, y tế cũng như việc bảo vệ an ninh quốc phòng.
18


- Thời tiết:
Nhân tố này cũng có sự tác động lớn đến q trình sản xuất, đến tình
hình nghèo đói của các vùng miền hay của quốc gia. Nếu khí hậu, thời tiết
thuận lợi sẽ tác động tích cực đến sản xuất, đời sống, nhất là trong nông
nghiệp, sẽ làm cho việc trồng trọt, chăn ni có năng suất cao hơn, ngoài
ra sẽ là cho việc đầu tư cho các ngành kinh tế được mở rộng. Việc trao đổi
mua bán sản phẩm giữa các vùng miền được mở rộng. Ngược lại, nếu khí
hậu, thời tiết diễn biến phức tạp như nắng lắm, mưa nhiều, biên độ nóng
hay lạnh quá lớn, hoặc xảy ra động đất, núi lửa, bão lụt, hạn hán… thì sẽ
làm tổn thất về người, tài sản và mơi trường bị huỷ hoại… nó dễ dẫn đến
sự nghèo đói đây là vấn đề khó tránh khỏi.
Vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi có thể phát triển những ngành
có lợi thế hơn so với những ngành khác và ngược lại. Đó là cơ sở tự nhiên
để phát triển, khai thác các lợi thế so sánh của vùng. Nếu không căn cứ vào
điều kiện tự nhiên để xây dựng chiến lược phát triển nơng nghiệp thì nơng
nghiệp sẽ phát triển khơng bền vững.
* Nhóm nhân tố về tổ chức kỹ thuật, quản lý
Các nhân tố tổ chức - kỹ thuật bao gồm: các hình thức tổ chức sản
xuất trong nông nghiệp, sự phát triển của khoa học - công nghệ và việc áp
dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất. Do đó, các hình thức tổ chức sản
xuất trong nông nghiệp là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng
tới phát triển bền vững nông nghiệp.
Ngày nay khoa học công nghệ trở thành LLSX trực tiếp, sự phát triển
của khoa học - công nghệ và ứng dụng nó vào sản xuất đã trở thành động lực
mạnh mẽ để phát triển xã hội nói chung, nơng nghiệp nói riêng. Vì tiến bộ
khoa học - cơng nghệ và ứng dụng của nó vào sản xuất một mặt làm xuất

hiện nhiều loại nhu cầu mới, tác động đến sự thay đổi về số lượng, tăng mức
nhu cầu, làm thay đổi tốc độ phát triển của các ngành. Mặt khác, nó tạo khả
năng mở rộng sản xuất, chun mơn hóa cao và phát triển những ngành nghề

19


địi hỏi trình độ cao, tốn ít ngun nhiên vật liệu và giảm ơ nhiễm hơn.
* Nhóm các nhân tố kinh tế - xã hội
- Cơ chế chính sách của nhà nước về kinh tế đây là một tiền đề quan
trọng trong cơng cuộc xố đói giảm nghèo. Nếu có đồng bộ các chính sách
phù hợp với điều kiện, khả năng thực tế từng các vùng miền thì nó sẽ thúc
đẩy nền kinh tế phát triển một cách đồng bộ, hạn chế việc chỉ thiên về mặt
kinh tế hoặc chỉ thiên về mặt xã hội thì khó có giải pháp xố đói giảm nghèo
một cách tồn diện, bền vững hoặc có xố đói giảm nghèo thì chỉ được cho
một vài bộ phận, mang tính khơng bền vững khả năng tái nghèo khá cao.
- Dân số cũng là nhân tố thường xuyên liên quan đến nghèo đói của
các vùng miền đến lĩnh vực nơng nghiệp. Vì dân số vừa là chủ thể vừa là
đối tượng của nghèo đói, nó có tác động tích cực và tiêu cực đến q trình
phát triển kinh tế xã hội. Nếu dân số hài hoà hợp lý nó sẽ tác dụng kích
thích sản xuất có sự phát triển, giải quyết được những nhu cầu cần thiết
của con người. Ngược lại nếu dân số bất hợp lý nó sẽ cản trở sản xuất, phát
triển kinh tế làm nảy sinh và hình thành nghèo đói trong xã hội. Vậy, sự
bất hợp lý đó là dân số quá cao so với các yếu tố liên quan đến đời sống,
đến việc sản xuất như đất đai, nhà cửa, mức sinh hoạt, trường học, y tế và
các yếu tố cơ sở vật chất khác; hay tỷ lệ lao động thấp so với dân số do
khơng có chương trình hạn chế sinh đẻ hay có hiện tượng lão hố…
- Quốc gia đa dân tộc sẽ có nhiều phong tục tập quán khác nhau và
trình độ dân trí cũng khác nhau. Do đó, nó cũng là yếu tố vừa tích cực và
vừa tiêu cực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong phát triển

nơng nghiệp, nơng thơn. Nó vừa đa dạng phong phú về kinh nghiệm, về
các sản phẩm của các vùng miền tạo ra nhưng do lối sống và tín ngưỡng
khác nhau, chính vì vậy sự nhận thức, sự hiểu biết của người dân sẽ khác
nhau, làm cho khó khăn cho việc hình thành các chính sách phát triển nông
nghiệp, XĐGN cho phù hợp với các vùng miền khác nhau.

20



×