I) PHÂN TÍCH NGÀNH DƯỢC VIỆT NAM
1) Một số yếu tố đặc thù tác động lên ngành:
a) Yếu tố kinh tế:
Dược là một trong những ngành công nghiệp ít chịu ảnh hưởng của khủng
hoảng kinh tế nhất. Lí do là vì đây là một ngành có sản phẩn thiết yếu đối
với người dân do vậy, dù khủng hoảng kinh tế toàn cầu ảnh hưởng đến Việt
Nam rất lớn, lạm phát tăng cao, người dân thận trọng hơn trong đầu tư và
tiêu dùng. Tuy nhiên ngành dược vẫn có mức tăng trưởng ít bị tác động
nhiều trong giai đoạn khó khăn này.
b) Yếu tố văn hóa xã hội:
Phần lớn người Việt sống tại vùng nông thôn.
Đơn vị: nghìn người
Năm
Tổng số
Phân theo thành thị, nông
thôn
Tỷ lệ
Thành thị
Nông
thôn
Thành
thị
Nông
thôn
2010 848.616 128.444 720.172 15,14% 84,86%
2011 853.401 129.369 724.032 15,16% 84,84%
2012 857.924 130.255 727.669 15,18% 84,82%
Nguồn tổng cục thống kê
Người dân ở đây thường có mức sống thấp, nhu cầu cáo các lạo thuốc có giá rẻ,
đây là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp dược Việt Nam mở rộng thì
trường. Mặt khác, thu nhập người Việt ngày càng được gia tăng do vậy người ta
quan tâm hơn đến sức khỏe ngày một nhiều hơn. Đây là một điều kiện thuận lợi để
phát triển ngành dược Việt Nam.
c) Chính sách của Nhà nước:
Ngành dược là một trong những ngành chịu ảnh hưởng lớn bởi sự quản lí của
nhà nước. Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để quản lí ngành bao
gồm các văn bản liên quan đến các vấn đề như Chính sách nhà nước về lĩnh vực
dược, quản lý của nhà nước về giá thuốc, điều kiện kinh doanh thuốc, quản lý
thuốc thuộc danh mục phải kiểm soát đặc biệt, tiêu chuẩn chất lượng thuốc, cơ sở
kiểm nghiệm thuốc
2) Tốc độ tăng trưởng của ngành
a) Đánh giá chung tốc độ tăng trưởng ngành
Trong khi tốc độ tăng trường ngành dược thế giới có xu hưởng chậm dần về mức
5-7%/năm, ngành dược trong nước vẫn duy trì tốt ờ mức 2 con số trong suốt 10
năm qua. Tuy nhiên tốc độ tăng trường đã có dấu hiểu giảm dần sau khi tăng
trường rất mạnh trong năm 2008 với tổng giá trị tiền thuốc sử dụng lên đến 1,43 ty
USD, tăng 25% so với 2007. Tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong năm 2009 và
2010 lần lượt đạt 1,69 và 1,91 tỷ USD, tăng 18,9% và chỉ 12.8% so với cùng kỳ
năm trước.
b) Các yếu tố tác động đến tốc độ tăng trưởng ngành dược:
- Yếu tố dân cư:
Yếu tố nhân khẩu học được đánh giá là quan trọng thứ 2 có thể tác động đến tốc
độ tăng trưởng ngành dược nói chung.Việt Nam là nước có cơ cấu dân số trẻ,
khoảng 68% tổng dân số dưới độ tuổi 40. Tuổi thọ trung bình ngày càng được cải
thiện.Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong những nước có dân số lớn, với gần 93
triệu dân trong năm 2012.Tỷ lệ tăng trưởng dân số sẽ tiếp tục duy trì hơn 1%/năm
trong những năm tới , đạt xấp xỉ khoảng 1 triệu người/năm , nhờ đó mà nhu cầu sử
dụng thuốc cũng có thể nâng lên đáng kể
- Chi tiêu bình quân đầu người:
Một trong những yếu tố quan trọng tác động đến tốc độ tăng trường ngành dược
Việt Nam là mức chi tiêu thuốc bình quân đầu người vẫn ở mức thấp. Theo thống
kê Hiệp hội các Doanh nghiệp Dược Việt Nam, chi tiêu thuốc bình quân đầu người
Việt Nam đã nâng gần 4 lần, kể từ 6 USD/người trong năm 2001 lên đến 22,5
USD/người trong năm 2010. Tuy tốc độ tăng trường luôn duy trì ở mức khá cao
nhưng nhìn chung mức chi tiêu này vẫn còn khá thấp so với mức chi tiêu thuốc
bình quân đầu người của các nước lân cận( 40 USD/người/năm).
Nhận xét:
Trong giai đoạn 2001-2011, công nghiệp bào chế thuốc trong nước đã liên tục
tăng trưởng với tốc độ khá cao. Mặc dù, gần 90% nguyên liệu dược phải được
nhập khẩu, giá trị thuốc sản xuất trong nước đã tăng đáng kế, cụ thể, đạt hơn 919
triệu USD trong năm 2010, tăng gần 11% so với năm trước. Tuy nhiên với nhu cầu
sử dụng thuốc ngày càng tăng và đa dạng
:
thuốc sản xuất trong nước chỉ đáp ứng
được 50% tổng nhu cầu thuốc sử dụng. Điều này mang đến nhiều tiềm năng tăng
trưởng cho ngành dược nội địa trong tương lai.
3) Nguồn lực và năng lực sản xuất của ngành:
a) Các mô hình kinh doanh:
Các công ty trong ngành hoạt động theo 2 phương hướng chính là sản xuất và
phân phối. Trong hoạt động sản xuất sản phẩm, chủ yếu nguồn nguyên liệu được
nhập khẩu, nguồn nguyên liệu trong nước chỉ đủ cung cấp một phần cho hoạt động
sản xuất đông dược. Về hoạt động phân phối, các công ty sản xuất trong nước cũng
tham giá khá nhiều vào hoạt động phân phối hàng hóa nhập khẩu, tuy nhiên hoạt
động này có hợi nhuận biên thấp hơn nhiều so với việc sản xuất thông thường.
Khái quát mô hình kinh doanh của các công ty trong ngành:
b) Khả năng cung cấp và phân phối:
- Tân dược: 90% nguồn nguyên liệu phải nhập khẩu.
Công nghệ hóa dược ở Việt Nam vẫn còn kém nên để bù đắp cho nhu cầu
nguyên liệu để sản xuất thuốc tân dược vẫn phải nhập khẩu trong đó chủ yếu là các
nước Châu Á. Sự phụ thuộc nguyên liệu dầu vào này là một thách thức cực lớn đối
với việc sản xuất thuốc nội địa, do các yếu tố như : giá nguyên liệu không ổn định,
lạm phát, và tỷ giá hối đoái ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp sản xuất.
Hiện nay chúng ta vẫn chủ yếu nhập nguyên liệu từ các quốc gia châu Á, trong
đó nhập khẩu từ hai quốc gia Ấn Độ và Trung Quốc là nhiều nhất với tỷ trọng
tương ứng là 21% và 25% ( số liệu năm 2008)
- Đông dược: mặc dù có nguồn dược liệu phong phú nhưng phần lớn nhu cầu
nguyên liệu sản xuất vẫn phải nhập khẩu.
Các công ty đông dược thường sử dụng khoảng 500 loại dược liệu khác nhau
vào sản suất với sản lượng tiêu thụ bình quân đạt 40-60 nghìn tấn mỗi năm. Nguồn
tài nguyên nước ta rất phong phúc với hơn 4000 loại thực vật có thể làm thuốc.
Tuy nhiên, công nghệ nuôi trồng, thu hái và chế biến vẫn còn lạc hậu, chưa tương
xứng với tiềm năng hiện có. Đầu tư mới chỉ mang tính chất tự phát, nhỏ lẻ.
Một số công ty lớn trong nước như Traphaco, OPC mặc dù đã phát triển nguồn
dược liệu khá ổn định trong nước bằng cách hợp tác dài hạn với nông dân nhưng
phần lớn các đơn vị tham gia sản xuất đông dược khác có qui mô nhỏ nên vẫn phải
dựa vào nguồn nguyên liệu nhập từ Trung Quốc, gần 90% nhu cầu sản xuất phải
nhập khẩu.
Nguồn: Tạp chí thương mại
c) Quy mô sản xuất và trình độ công nghệ:
Tính đến năm 2012 nước ta có 98 doanh nghiệp sản xuất tân dược và 80 doanh
nghiệp sản xuất thuốc đông dược và gần 300 hộ cá thể sản xuất các sản phẩm đông
dược( bao gồm các tổ hợp, hợp tác xã hoặc hộ kinh doanh cá thể tham gia).
Bên cạnh đó, tính đến hết tháng 6- 2011 nước ta có 103 nhà mày sản xuất đạt
chuẩn GMP-WHO sản xuất 919 triệu USD dược phẩm ( số liệu đến hết thắng 12-
2010) trong đó có 39 dự án FDI đóng góp 29% doanh số.
Tuy nhiên, ngành dược Việt Nam còn rất nhiều điểm hạn chế. Các công ty
trong nước sản xuất trùng lắp các loại thuốc có dược tính giống nhau. Tính đến hết
năm 2009, có 10.692 số đăng kí thuốc trong nước là chế phẩm của 503 hoạt chất
(trung bình 21 SĐK/hoạt chất). Do vậy, chỉ đáp ứng được 30% danh mục thuốc
chữa bệnh của Bộ Y Tê. Trong khi đó, tổng SĐK thuốc nước ngoài còn hiệu lực là
11.923 và có tới 927 hoạt chất (trung bình 13 SĐK/ hoạt chất) đáp ứng phần lớn
nhu cầu điều trị.
Ngoài ra, các công ty trong nước chủ yếu sản xuất các loại thuốc có giá trị thấp,
phần lớn nằm ở các nhóm thuốc chữa các loại bệnh thông thường, không có giá trị
cao và để mất phân khúc thuốc chuyên khoa có giá trị cao cho các lọa thuốc nước
ngoài.
4) Hệ thống phân phối:
Ngành dược Việt Nam có 3 kênh hệ thống phân phối chính: hệ thống điều trị,
hệ thống chi nhánh- đại lí của công ty, và các công ty chuyên phân phối.
Hệ thống điều trị là kênh phân phối chính của khá nhiều công ty trong và ngoài
nước với tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong hệ thống bệnh viện năm 2009 là 10,8
nghìn tỷ đồng, chếm 40% giá trị tổng tiền thuốc sử dụng. Đây là kênh phân phối
ổn định với hơn 1.100 bệnh viện tuy nhiên điểm bất thuận lợi là thanh toán chậm
nên chiếm dụng vốn của các công ty khá lâu.
Các công ty trong nước cũng đang cố gắng thiết lập hệ thống chi nhánh- đại lí ở
các tỉnh để dễ dàng quản lí hệ thống phân phối. Các đại lí này sẽ phân phối hàng
của công ty vào hệ thống điều trị và các nhà thuốc, điểm bán lẻ trong khu vực quản
lí. Mặc dù việc thiết lập mạng lưới chi nhánh sẽ cắt giảm được hoa hồng bán hàng
nhưng sẽ gây khó khăn về vốn đầu tư ban đầu cũng như quản lí nhân sự.
Cuối cùng, sản phẩm của các công ty trong và ngoài nước cũng được phân phối
thông qua các công ty chuyên phân phối. Các công ty này sẽ hưởng chiết khấu cà
phân phối lại sản phẩm trong hệ thống cảu mình bao giồm các bệnh viện và chi
nhánh-đại lí. Một số công ty phân phối lớn điển hình trên thị trường như
Vimedimex và Codupha có hệ thống trải rộng trên cả nước.
Hiện tại mạng lưới cung ứng thuốc mặc dù có sự tập trung ở Hà Nội và Tp. Hồ
Chí Minh nhưng đã phủ gần như toàn bộ các địa bàn trên toàn quốc với gần 1.700
doanh nghiệp và 41.000 điểm bán lẻ, tuy nhiên, hệ thống phân phối vẫn còn tình
trạng chồng chéo nhiều tầng lớp, mua bán qua nhiều tầng trung gian đẩy giá thuốc
lên cao và hoạt động chưa hiệu quả.
5) Hạn chế của ngành
a) Gia tăng cạnh tranh
Hiện nay, hệ thống các doanh nghiệp sản xuất thuốc trong nước tương đối
phong phú, cả nước có khoảng 180 doanh nghiệp sản xuất thuốc (trong đó có
khoảng 100 doanh nghiệp sản xuất thuốc tân dược, và 80 doanh nghiệp sản xuất
thuốc đông dược).
Sau khi gia nhập WTO, thị trường dược Việt Nam đang mở rộng cửa cho các
công ty nước ngoài, đặc biệt là trong lĩnh vực nhập khẩu và hậu cần (logistics).
Trước đây, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thường chủ
yếu đầu tư vào các nhàmáy sản xuất thuốc thi giờ đây, có khoảng 70 - 80% doanh
nghiệp FDI đã chuyển dằn sang lĩnh vực lưu thông và phân phối dược phẩm.
Theo lộ trình cam kết WTO của Chính phủ, kể từ 01/01/2009: các công ty dược
nước ngoài được phép nhập khẩu thuốc trực tiếp, khiến sự cạnh tranh gây gắt giữa
các công ty dược trong nước và các hãng dược phẩm nước ngoài ngày càng quyết
liệt. Sau 5 năm mức thuế nhập khẩu trung bình sẽ phải giảm từ 5% xuống còn
2,5%, đòi hồi các công ty dược phẩm trong nước phải nỗ lực mạnh mẽ cải thiện
quy trình, nâng cao năng lực sản xuất, và mở rộng thị trường tiêu thụ, nhằm tránh
nguy cơ mất thị phần vảo thuốc nhập khẩu.
Bên cạnh đó, với tâm lý thích dùng thuốc ngoại nhập của người tiêu dùng Việt
Nam, các công ty dược nước ngoài đã có thể tăng mức lợi nhuận bán hàng đáng
kể. Ngoài ra, các công ty dược đa quốc gia này còn có những lợi thế vượt trội ở
nguồn lực tài chính dồi dào và đưa ra mức hoa hồng cao, cạnh tranh với các doanh
nghiệp dược trong nước.
Nổi bật trong số các công ty dược trong nước, Dược Hậu Giang là công ty đầu
ngành .Ngoài ra các công ty dược khác như Imexpharm, Traphaco, Domesco ,
Dược Cửu Long và OPC tương đối đồng đều với thị phần chiếm từ 3-5% thị
trường nội địa.
Nhìn chung , chúng tôi dự phòng phần lớn các công ty dược nội địa sẽ tiếp tục
tăng trưởng thấp hơn mức tăng trưởng trung bình ngành trong những năm tới.
b) Hạn chế về nguồn nguyên liệu:
Ngành dược Việt Nam vẫn đang trong tình trạng phát triển mất cân đối, mới tập
trung vào công nghiệp bào chế thuốc trong khi không xây dựng được ngành sản
xuất nguyên liệu. Hiện nay, nguồn nguyên liệu cho sản xuất thuốc trong nước vẫn
phải nhập khẩu đến 90%. Cả nước mới chỉ có 1 cơ sở sản xuất kháng sinh nguyên
liệu Amoxcyllin và Ampicillin, chiếm khoảng 1% giá trị sản xuất thuốc và 0,3%
giá trị tiêu dùng thuốc ở Việt Nam. Tình trạng thiếu cung nguyên liệu sản xuất
trong nước vẫn không được khắc phục khi tốc độ tăng trưởng của nguyên liệu nhập
khẩu hàng năm vẫn tăng nhanh hơn tốc độ tăng của thuốc sản xuất. Theo Cục quản
lý Dược, giá trị nguyên liệu nhập khẩu năm 2007 là 160,3 triệu USD, tăng 23% so
với năm 2006, 47% so với năm 2005. Việc phụ thuộc quá nhiều vào nguồn dược
liệu nước ngoài khiến cho giá thuốc trong nước luôn chịu tác động từ biến động giá
của thế giới và tỷ giá giữa VND và ngoại tệ. Nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất
tân dược nhiều nhất là nguyên liệu để sản xuất thuốc kháng sinh, vitamin, thuốc
giảm đau, hạ sốt từ các nhà cung cấp lớn là Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore.
Tình trạng thiếu nguyện liệu sản xuất trong nước cũng xảy ra với thuốc đông
dược. Hiện nay ngành đông y vẫn phải nhập 85% nguyên liệu mà chủ yếu là từ
Trung Quốc. Các nhóm nguyên liệu nhập chủ yếu như phong liễu tràng vị khang
và hoa đà táo tạo hoàn.
THUỐC TÂN DƯỢC
Phân theo tác dụng dược lý Thuốc tân dược đang lưu hành trên thị trường gồm
15 nhóm, trong đó 5 nhóm chính đã chiếm tới khoảng 70% giá trị thị trường gồm
kháng sinh, chuyển hóa dinh dưỡng, tim mạch, thần kinh và hô hấp. Trong đó
thuốc kháng sinh và thuốc chuyển hoá dinh dưỡng phổ biến nhất, chiếm lần lượt
21,4% và 21,7%.
Trong khi thuốc nhập khẩu tập trung vào dòng thuốc biệt dược có giá trị cao thì
thuốc sản xuất trong nước chủ yếu là thuốc gốc, thông thường, đơn giản, gầnnhư
không có thuốc chuyên khoa, đặc trị.
Có thể thấy cơ cấu thuốc sản xuất là mất cân đối do các nhà sản xuất trong nước
chủ yếu khai thác các sản phẩm có công nghệ đơn giản mang lại lợi nhuận cao như
vitamin, thuốc hạ nhiệt, giảm đau.
Thuốc tân dược có một mạng lưới phân phối khá rộng khắp từ các công ty Cổ
phần, công ty Trách nhiệm hữu hạn cho tới các quầy thuốc thuộc trạm Ytế xã. Hai
kênh phân phối chủ yếu vẫn là thông qua bệnh viện và nhà thuốc. Tuy được sử
dụng ít hơn nhưng thuốc nhập khẩu lại chiếm tới 85% giá trị thuốc được sử dụng
trong bệnh viện. Đây là bằng chứng cho thấy công nghiệp dược Việt Nam vẫn rất
thiếu các lọai thuốc đặc trị giá trị cao.
Theo thống kê 2012 của Bộ thương mại, 10 nhà nhập khẩu hàng đầu chiếm
76,5% lượng thuốc nhập của toàn ngành. Trong đó thị phần chính thuộc về ba công
ty là Dược liệu TW2, công ty Dược Tp.Hồ Chí Minh, công ty XNK Ytế 2 chiếm
lần lượt 29,2%; 10,1% và 8,4%. Thuốc ngoại thành phẩm được nhập chủ yếu từ
các nước có nền công nghiệp dược phát triển như Pháp, Hàn quốc, Ấn Độ, Thụy
Sĩ… Pháp chiếm vị trí hàng đầu với chủ yếu là các thuốc biệt dược như thuốc tâm
thần, tim mạch, giảm đau, thuốc chữa lao phổi. Thuốc generics nhập chủ yếu từ Ấn
Độ với 2 loại chính là kháng sinh và tiêu hóa.
THUỐC ĐÔNG DƯỢC
Trong Y học Việt Nam, thuốc đông y đóng vai trò quan trọng trong đời sống
sinh hoạt hàng ngày, thuốc đông y được sử dụng lâu đời và rộng rãi. Tuy nhiên
theo thống kê, đông dược chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ từ 0,5%- 1% giá trị thuốc sử
dụng hàng năm. Số liệu thống kê về giá trị sử dụng cũng như nhu cầu sử dụng của
đông dược là kém chính xác khi lĩnh vực này hầu như chưa được quản lý chặt chẽ.
Do vậy trên số liệu thực tế còn cao hơn nhiều. Trong thói quen sử dụng đông dược
của người Việt Nam, thuốc Bắc (nguyên liệu là các thảo dược bắt nguồn từ Trung
Quốc) được tin dùng rộng rãi nhất. Điều này được phản ánh qua việc 85% nguyên
liệu chế biến đông dược được nhập từ Trung Quốc với kim ngạch nhập khẩu trung
bình 1 triệu USD/ năm. Hiện nay, Việt Nam đã trồng được một số dược liệu nhưng
giá trị cũng như khối lượng không đáng kể. Hệ thống sản xuất, phân phối thuốc
đông dược rộng lớn và không được kiểm soát đầy đủ. Do đặc trưng của thuốc đông
dược chế biến không đòi hỏi công nghệ cao nên thuốc đông dược được sản xuất và
phân phối bởi các nhà máy lớn cũng như các cơ sở tư nhân nhỏ lẻ. Theo thống kê
sơ bộ, cả nước có 45 Viện y học dân tộc, 242 Bệnh viện đa khoa, 4000 tổ chẩn trị,
10.000 cơ sở Y dược học cổ truyền. Tuy nhiên, hiện nay chưa có sản phẩm thuốc
đông dược của Việt Nnam đăng ký tiêu chuẩn GMP-WHO. Điều này cho thấy các
cơ sở sản xuất thuốc đông dược đạt tiêu chuẩn còn rất thiếu, thị trường đông dược
rất cần một sự chuẩn hóa.
c) Hạn chế về nguồn lực và năng lực:
Quyền phân phối thuốc trực tiếp vẫn và sẽ thuộc độc quyền của các doanh
nghiệp dược Việt Nam. Chính phủ cố gắng kiểm soát hệ thống phân phối thuốc
thông qua việc xây dựng một tập đoàn dược phẩm lớn thuộc sở hữu nhà nước. Tuy
nhiên, Việt Nam thiếu hẳn những quy định đồng bộ, rõ ràng cho việc quản lý giám
sát hệ thống phân phối một cách hiệu quả. Việc thả nổi tỷ lệ hưởng hoa hồng cho
của các đại lý phân phối là nguyên nhân khiến giá thuốc tăng chóng mặt trong thời
gian qua.
Thêm vào đó những căng thẳng trên thị trường tiền tệ đã dẫn đến việc lãi suất
tăng cao, khó khăn đối với các doanh nghiệp kinh doanh phân phối thuốc tăng lên
gấp bội vì thường tỷ lệ vay nợ được duy trì ở mức cao. Cộng thêm những nỗ lực
kiểm soát giá thuốc của Chính phủ, lề sinh lợi gộp của nhiều doanh nghiệp sản
xuất dược đã bị thu hẹp.
Và đặc biệt ngành Dược Việt Nam còn bị hạn chế về nguồn nhân lực. Có sự
thiếu hụt dược sỹ không nhỏ khi tỷ lệ dược sỹ trên 10.000 dân chỉ là 0,2.
Thuận lợi và triển vọng ngành:
d) Hạn chế về quản lý giá thuốc:
Hiện nay, Chính phủ có chủ trương phát triển ngành dược nội địa thành một
trong những ngành kinh tế mũi nhọn quốc gia. Tuy nhiên theo hệ thống cấp bậc
phát triển ngành dược phẳm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ngành dược Việt
Nam chỉ được đánh giá ở cấp độ thấp. Trong đó, khó khăn lớn nhất của ngành
dược Việt Nam là chưa tự chủ được nguồn nguyên liệu dược, phục vụ cho chính
nhu cầu sản xuất trong nước. Để giải quyết vấn đề trên, nhà nước đã quỵ hoạch chi
tiết phát triển ngành công nghiệp dược đến giai đoạn 2020 và tầm nhìn đến giai
đoạn 2030: nhằm bảo đảm sản lượng sản xuất thuốc trong nước đáp ứng được 70%
tồng trị giá tiền thuốc vào năm 2020 và 80% vào năm 2030.
Do là mặt hàng thiết yếu đối với đời sống người dân, giá thuốc niêm yết cùa các
doanh nghiệp dược bị quản lý khá chặt chẽ bời Bộ Y tế. Các công ty dược không
được phép tăng giá thuốc quá mức quy định. Trong đỏ mổi lần tăng, doanh nghiệp
phải đăng ký vả giải trinh rõ những lý do cùa sự tăng giá. Nếu xét thấy không hợp
iý hoặc chưa thật sự cần thiết, Bộ Y tế có quyền bác bỏ yêu cầu.
Với can thiệp sâu sắc trên, chỉ số giá thuốc chỉ tăng trung bình gần 7% trong 10
năm qua. Trong khi, chỉ số CPI chung trên toàn thị trường đã tăng lên đến 9,10%.
Đáng chú ý nhất, chỉ số giá thuốc trong năm 2011 vừa qua chỉ tăng 5.65%, trong
khi chì số CPI chung trên toàn thị trường thi tăng đến 18.58%.
Ngay từ đầu năm 2012, Các yếu tố chi phí sản xuất của các ngành công nghiệp
nói chung đã tăng đáng kể.Việc tăng giá xăng dầu, điện, cộng thêm tình hình lạm
phát luôn ở mức cao, lãi suất tăng cao khiến chi phí sản xuất trung bình năm 2011
đã tăng từ 5-7% so với cùng kỳ năm trước.Trong đó, gia tăng 9,3% tỷ USD/VND
đã gây khó khăn lớn đến các doanh nghiệp sản xuất dược vì gần 90% nguyên liệu
dược phẩm được xuất khẩu, chiếm trung bình hơn 50% giá thành sản phẩm.
Tuy nhiên, với những diễn biến tích cực tính tới thời điểm hiện tại, có sự kỳ
vọng rằng chi phí vay vốn sẽ có xu hướng giảm dần trong những năm tiếp theo.
e) Hạn chế của hệ thống phân phối
So với trình độ phát triển, Việt Nam có một hệ thống phân phối thuốc khá phát
triển. Cả nước có khoảng 41,500 điểm bán lẻ tại khắp các tỉnh thành đảm bảo đưa
thuốc đến tận tay người dân. Tính trung bình cứ 2000 người dân thì có 1 điểm bán
lẻ.
Tham gia trong hệ thống phân phối thuốc gồm các thành phần sau đây:
- 897 công ty TNHH, CTCP, DNTN
- 29541 quầy thuốc bán lẻ
- 7490 nhà thuốc tư nhân
- 7417 đại lý bán lẻ thuốc
- 7948 quầy thuốc thuộc trạm ytế xã
- 464 quầy thuốc thuộc DN nhà nước
- 6222 quầy thuốc thuộc DN nhà nước cổ phần hóa
( Nguồn: Cục Quản Lý Dược)
6) Thực trạng ngành Dược Việt Nam có triển vọng:
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai khu vực chính tiêu thụ thuốc của cả
nước, chiếm 76% giá trị. Trong đó, Tp.Hồ Chí Minh là thị trường trọng điểm với
lượng tiêu thụ lên tới 55% sản lượng thuốc sử dụng cả nước, trong khi đó lượng
tiêu thụ ở Hà Nôi chỉ bằng ½, chiếm khoảng 21% thị phần. Thị trường trong Nam
cũng là thị trường trọng điểm của các công ty dược lớn nhất cả nước như DHG,
Vinapharm và các hãng dược phẩm nước ngoài.
Nguồn IMS,2012
Phân theo nhà cung cấp Thuốc tân dược được cung cấp từ hai nguồn: sản xuất
trong nước và nhập khẩu. Các nhà sản xuất nội địa hàng đầu như DHG,
Vinapharm, Domesco, Dược phẩm TW … chiếm phần lớn thị trường nội địa.
Thuốc nhập khẩu phần lớn được nhập về cũng bởi các công ty dược trong nước đó.
Các doanh nghiệp trong ngành dược vẫn giữ được đà tăng trưởng. Các doanh
nghiệp thuộc phân khúc sản xuất đều đạt mức tăng trưởng tốt, các doanh nghiệp
tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng doan hthu, lợi nhuận tốt là DHG,PPC,SPM và
TRA. Nhưng, ngược lại kết quả không khả quan đối với các doanh nghiệp thuộc
phân ngành kinh doanh, phân phối như DBT,LDP và VMD do sử dụng đòn bẩy tài
chính ở mức cao.
Kết quả giao dịch cổ phiếu ngành dược được cho là ít biến động giá hơnso với
biến dộng chung của thị trường trong suốt giai đoạn năm 2012, ít khả năng bật
mạnh ở giai đoạn thị trường tăng điểm nhưng thể hiện tính “phòng vệ “ khá chắc
chắn ở những giai đoạn thì trường đi xuống. Cổ phiếu ngành Dược chỉ bắt đầu tăng
mạnh và vượt Vnindex khi thị trường chung rơi vào giai đoạn sụt giảm mạnh. So
với đầu năm, cổ phiếu ngành được tính đến hết ngày 28/12/2012 đã tăng 40%,
nhưng thanh khoản ở mức thấp. Ngoại trừ hai doanh nghiệp TRA và LDP có mức
tăng mạnh, các doanh nghiệp còn lại khá ổn định và ít biến động hơn chỉ số giá
bình quân của ngành.
a) Triển vọng dự đoán toàn ngành
Theo BMI tốc độ tăng trưởng tiêu thụ dược phẩm tại Việt Nam dự đoán tăng
14,5/năm tới năm 2015. Mức chi tiêu cho tiền thuốc bình quân đầu người nước ta
còn thấp (23USD/người/năm) so với các nước trong khu vực( 31-
32USD/người/năm) nên ngành dược vẫn có tiềm năng phát triển tốt trong cả ngắn
hạn và dài hạn. Trong tương lai kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ chịu
ảnh hưởng nhiều bởi:
• Các chính sánh quản lí của Nhà nước: các chính sách về sản xuất và kinh doanh
phân phối thuốc, quản lí về chất lượng và giá thuốc
• Biến động tỷ giá ngoại tệ và giá nguyên liệu dược trên thị trường thế giới
• Diễn biến lạm phát và biến động lãi suất tín dụng
Từ nhận định về thị trường dược phẩm như vậy chúng ta có thể rút ra một số
quan điểm về đầu tư trong ngành dược
• Trong đầu tư ngắn hạn: rõ ràng ngành Dược không phù hợp với các nhà đầu tư
ngắn hạn do thanh khoản thấp và thiếu tính đột biến, trong những giai đoạn thị
trường điểu chỉnh giá mạnh, giá cổ phiếu ngành Dược cũng dao động ít hơn nên
không có nhiều khả năng để tăng mạnh đột biến.
• Trong đầu tư trung và dài hạn: ngành dược có tốc đọ tăng trưởng tốt và dòng tiền
tương đối ốn định ( ngay cả trong giai đoạn khủng doảng kinh tế toàn cầu diễn ra
trầm trọng). Do vậy thích hợp cho các nhà đầu tư dài hạn, nhà đầu tư kì vọng vào
sự phát triển lâu dài của ngành. Cụ thể hơn, trong nhóm các cổ phiếu ngành, các
daonh nghiệp thiên về sản xuất, có khả năng tăng trưởng cao và tình hình tài chính
tốt có thể xem xét đầu tư như DHG,SPM,TRA và OPC.
II) GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC HẬU GIANG
1) Lịch sử hình thành và phát triển
a) Thời kỳ chiến tranh
Tiền thân của DHG là Xí nghiệp quốc doanh Dược phẩm 2/9, thành lập ngày
02/09/1974 tại Kênh 5 Đất sét, xã Khánh Lâm (nay là xã Khánh Hòa), Huyện U
Minh, Tỉnh Cà Mau. Điều kiện sản xuất, sinh hoạt khó khăn thiếu thốn. Trang thiết
bị để sản xuất còn đơn giản, thô sơ, chủ yếu làm bằng tay. Nguyên liệu chủ yếu là
các dược liệu tự chế. Tổng nhân sự thời điểm đó khoảng trên 50 người, chia làm 03
tổ sản xuất: tổ thuốc viên, tổ thuốc tiêm và tổ thuốc nước. Mỗi tổtrên dưới 10
người vừa đảm nhiệm công tác chuyên môn, vừa làm công tác hậu cần.
Sau 30/04/1975, Ban Dân Y Khu Tây Nam Bộ giải thể, giao Xí nghiệp Dược
phẩm 2/9 cho Sở Y tế Hậu Giang quản lý.
b) Thời kỳ chuyển giao
Năm 1982, Xí nghiệp Liên hợp Dược Hậu Giang được thành lập trên cơ sở hợp
nhất 03 đơn vị: Xí nghiệp Quốc doanh Dược phẩm 2/9, Công ty Dược phẩm Cấp 2,
Trạm Dược Liệu.
Năm 1988, UBND Tỉnh Hậu Giang quyết định sát nhập Công ty cung ứng vật
tư, thiết bị y tế vào Xí nghiệp Liên hợp Dược Hậu Giang do Ds. Phạm Thị Việt
Nga làm Giám đốc, Ds. Trần Công Kỷ làm Phó Giám đốc.
Trong những năm tháng đất nước còn khó khăn, các doanh nghiệp sản xuất
trong nước phải rất vất vả với nguồn nguyên liệu nhập khẩu do nguồn ngoại tệ hạn
chế. Dược Hậu Giang đã tận dụng nguồn nguyên liệu trong nước bằng cách nuôi
trồng động thực vật lấy nguồn.Sản phẩm của Dược Hậu Giang chưa được nhiều
người biết đến, sản lượng không nhiều, lương bổng của người lao động eo hẹp.
c) Thời kỳ đổi mới
Năm 1996, Dược Hậu Giang vinh dự được Chủ tịch nước trao tặng danh hiệu
Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới với thành tích dẫn đầu về doanh thu, quy mô
nhà máy, thị phần dược phẩm, Năm 1996 cũng là năm đầu tiên sản phẩm của
DHG được người tiêu dùng bình chọn Hàng Việt Nam Chất lượng cao, là năm đầu
tiên doanh thu bán hàng sản xuất của Công ty đạt trên 100 tỷ đồng.
Khẳng định chất lượng sản phẩm
Năm 1997, "Chiến dịch 60 ngày đêm vì sự tồn tại và phát triển” của DHG đã
được phát động. DHG đã bắt tay làm GMP ASEAN và DHG cũng trở thành 01
trong 03 đơn vị đầu tiên đạt tiêu chuẩn GMP –ASEAN.
Mở rộng thị trường, xây dựng hệ thống phân phối
Một số sản phẩm cũng đã bắt đầu xuất khẩu sang các nước lân cận như Lào,
Campuchia.Hơn 15 năm xây dựng hệ thống phân phối, với khoảng 20.000 khách
hàng hiện tại trên thị trường, DHG đã có đến hơn 1/3 khách hàng thân thiết trở
thành thành viên "Câu lạc bộ cùng thịnh vượng”, trở thành người của Đại gia đình
Dược Hậu Giang, cùng xây dựng chiến lược phát triển thị trường.
d) Thời kỳ phát triển
Xây dựng thương hiệu
Doanh nghiệp bắt đầu tập trung quảng bá "Xí nghiệp liên hợp Dược Hậu
Giang”. Từ năm 2002, Dược Hậu Giang đã chọn những sản phẩm đặc trưng để dồn
sức quảng bá và lan tỏa trong lòng người tiêu dùng. Khởi đầu là nhãn hàng EFF-
PHA C (viên sủi cam, thực phẩm chức năng), FUBENZON (thuốc tẩy giun). Tiếp
đến là các nhãn hàng được đầu tư bài bản bằng những công cụ truyền thông quảng
cáo và đội ngũ Marketing chuyên nghiệp trên 80 người: HAPACOL, HAGINAT,
KLAMENTIN, UNIKIDS, DAVITA,EYELIGHT, GLUMEFORM, NATURENZ,
SPIVITAL, APITIM,
e) Thời kỳ hoàn thiện
DHG cổ phần hóa ngày 02/09/2004.
Niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch ngày21/12/2006.
Phát hành cổ phiếu ra công chúng vào tháng 07/2007, thu về gần 399 tỷ đồng,
trong đó có đến 379 tỷ đồng thặng dư vốn cổ phần.
Năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, thị phần thương hiệu, kết quả kinh
doanh luôn dẫn đầu Ngành Công nghiệp Dược Việt Nam. Mã cổ phiếu DHG luôn
giao dịch với mức giá trên 100.000 đồng/cổ phiếu dù thị trường nhiều lúc đã giảm
điểm rất sâu do kinh tế bất ổn.
Doanh nghiệp đã sử dụng hiệu quả chiến lược:
- Sử dụng những công cụ quản trị chiến lược hiệu quả(10.5S, Balance ScoreCard);
- Tạo hiệu ứng từ chiến lược "Kiềng 3 chân” (cổ đông,kháchhàng, ngườilaođộng);
- Xây dựng cơ sở hạ tầng cho hệ thống phân phối;
- Đầu tư xây dựng Nhà máy mới nâng cao năng lực sản xuất;
- Đầu tư sâu hoạt động nghiên cứu để phát triển những sản phẩm có hướng đi riêng;
- Thành lập các Công ty con phân phối, Công ty con đa dạng hóa, Công ty liên kết;
- Xây dựng hệ thống quản lý rủi ro, kiểm soát nội bộ;
- Xây dựng và đào tạo đội ngũ kế thừa;
- Đầu tư hệ thống phần mềm quản lý BFO;
- Minh bạch tài chính, công bố thông tin đúng quy định và kinh doanh đúng pháp
luậtđể doanh thu năm sau luôn cao hơn năm trước.
2) Lĩnh vực kinh doanh:
Chủ yếu là Dược phẩm, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm.
- Sản xuất kinh doanh dược
- Xuất khẩu: dược liệu, dược phẩm theo quy định của Bộ Y tế;
- Nhập khẩu: thiết bị sản xuất thuốc, dược liệu, dược phẩm, trang thiết bị y tế theo
quy định của Bộ Y tế;
- Sản xuất kinh doanh xuất khẩu các mặt hàng thực phẩm chế biến;
- In bao bì;
- Dịch vụ nhận và chi trả ngoại tệ;
- Gia công, lắp đặt, sửa chữa điện, điện lạnh;
- Sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị sản xuất thuốc tự chế tạo tại Công ty;
- Dịch vụ du lịch và vận chuyển lữ hành nội địa (hoạt động theo quy định của Tổng
cục Du lịch).
Cơ cấu tổ chức
Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang được tổ chức và hoạt động tuân thủ theo
Luật doanh nghiệp 2005, các Luật khác có liên quan và Điều lệ Công ty. Điều lệ
Công ty (Bản sửa đổi, bổ sung lần thứ 4) đã được Đại hội đồng cổ đông thường
niên năm 2006 thông qua ngày 20/04/2007.
3) Cơ cấu tổ chức công ty
a) Ban quản trị công ty
- Bà Phạm Thị Việt Nga : Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc.
- Bà Lê Minh Hồng : Phó Chỉ tịch HĐQT, Phó Tổng Giám đốc.
- Ông Lê Chánh Đạo : Thành viên HĐQT, Phó Tổng Giám đốc.
- Bà Nguyễn Thị Hồng Loan : Thành viên HĐQT, Giám đốc Sản xuất.
- Ông Đoàn Đình Duy Khương : Thành viên HĐQT, Giám đốc Marketing.
- Ông Nguyễn Như Song : Thành viên HĐQT.
- Ông Lê Đình Bửu Trí : Thành viên HĐQT.
- Ông Nguyễn Sĩ Trung Kỳ : Thành viên HĐQT.
- Bà Trần Thị Ánh Như : Trưởng BKS, Giám đốc Nhân sự.
- Ông Trần Quốc Hưng : Thành viên BKS.
- Ông Đàm Mạnh Cường : Thành viên BKS.
b) Đại hội đồng cổ đông
Đại hội cổ đông gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan có
thẩm quyền cao nhất của Công ty, quyết định những vấn đề được Luật pháp và
điều lệ Công ty quy định. Đặc biệt, các cổ đông sẽ thông qua các Báo cáo tài chính
hàng năm của Công ty và Ngân sách tài chính cho năm tiếp theo.
c) Hội đồng quản trị
G
Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, là cơ quan quản lý Công ty,
có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến quyền
lợi của Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông.
Hội đồng quản trị có trách nhiệm giám sát Tổng Giám đốc điều hành và những
người quản lý khác. Hiện tại Hội đồng quản trị Công ty có 11 thành viên, nhiệm kỳ
mỗi thành viên là 03 năm.
d) Ban Kiểm soát
Là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng cổ đông, do Đại hội đồng cổ đông bầu ra.
Ban Kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong điều hành hoạt
động kinh doanh, báo cáo tài chính của Công ty. Ban kiểm soát hoạt động độc lập
với Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc. Hiện tại, Ban Kiểm soát Công ty gồm 03
thành viên, mỗi thành viên có nhiệm kỳ 03 năm.
e) Ban Tổng Giám đốc
Ban Tổng Giám đốc do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, có nhiệm vụ tổ chức điều
hành và quản lý mọi hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của Công ty theo
những chiến lược, kế hoạch đã được Hội đồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông
thông qua. Ban Tổng Giám đốc hiện có 03 thành viên, các thành viên Ban Tổng
Giám đốc có nhiệm kỳ là 03 năm.
f) Các Giám đốc chức năng
Công ty có 07 Giám đốc chức năng chịu trách nhiệm điều hành và triển khai
các chiến lược theo chức năng quản lý, hỗ trợ đắc lực cho Ban Tổng Giám đốc,
đồng thời chịu trách nhiệm trước Ban Tổng Giám đốc về việc thực hiện các quyền
và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, mẫn cán vì lợi ích của Công ty và cổ
đông.
g) Các phòng chức năng và Xưởng sản xuất