PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài:
Chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành nông
nghiệp nước ta, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm.Tuy nhiên từ năm 2003 trở lại
đây, dịch cúm gia cầm xuất hiện ở nước ta đã gây thiệt hại rất lớn cho người
nuôi lẫn người tiêu dùng. Số lượng đàn gia cầm cũng đã giảm một cách đáng
kể 254,1 triệu con(2003) xuống còn 218,2 triệu con. Nhưng kể từ năm 2007,
với các biện pháp phòng chống xử lý của nhà nước và chính quyền địa
phương đã phần nào khắc phục tình trạng dịch cúm xảy ra và đưa đàn gia cầm
phát triển trở lại.
Ngày nay khi nhu cầu của con người ngày càng cao thì phát triển gia
cầm không những phải đáp ứng cả về số lượng mà còn cả về chất lượng. Chăn
nuôi gà công nghiệp phát triển mạnh nhưng người tiêu dùng vẫn chuộng gà
thả vườn hơn.Vì vậy trong những năm qua cũng đã có rất nhiều chương trình
dự án về nuôi gà thả vườn. Một phần có thể đáp ứng nhu cầu thị trường, một
phần có thể hạn chế dịch bệnh. Để làm được điều đó một cách có hiệu quả
cần có nhóm sở thích, nhóm những người có hiểu biết về kiến thức trong chăn
nuôi gà để thúc đẩy sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế, vừa đảm bảo được chất
lượng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Xã Duy Châu, huyện Duy Xuyên – Quảng Nam là xã mà việc chăn
nuôi gia cầm, đặc biệt là chăn nuôi gà thả vườn được đánh giá là có hiệu quả.
Để làm được thành quả như hôm nay một phần là nhờ từ năm 1999 hội nông
dân xã Duy Châu đã thành lập được Chi hội nuôi gà thả vườn với mục đích là
tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người cùng làm ăn, phát triển kinh tế gia đình.
Theo thống kê gần đây, trên địa bàn của xã đã có hơn 45% số hộ nuôi gà thả
vườn với quy mô từ 50-200 con và đều cho hiệu quả kinh tế khá[14]. Điều
này đã cho thấy vai trò của Chi hội trong cộng đồng nông thôn là rất quan
trọng. Vì vậy việc hình thành các nhóm sở thích, các Chi hội trong cộng đồng
là rất cần thiết để thúc đẩy phát triển kinh tế hộ.
Tuy nhiên vấn đề lớn hiện nay trong cộng đồng nông thôn là rất ít các
nhóm sở thích, các chi hội được hình thành. Điều này cũng đã ít nhiều gây
1
khó khăn trong việc chuyển giao tiến bộ kĩ thuật cho người dân. Do đó việc
tìm hiểu vai trò của Chi hội chăn nuôi gà thả vườn ở Duy Châu để từ đó các
địa phương khác có thể thấy được lợi ích từ việc thành lập ra các nhóm sở
thích, các Chi hội của địa phương mình, đồng thời thuận cho việc chuyển giao
các tiến bộ kỹ thuật về với người dân là rất cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn đó
tôi tiến hành tìm hiểu “Vai trò khuyến nông của Chi hội nuôi gà thả vườn
xã Duy Châu- Duy Xuyên – Quảng Nam”
1.2. Mục tiêu:
Tìm hiểu thực trạng nuôi gà thả vườn của huyện Duy Xuyên và xã Duy
Châu – Duy Xuyên – Quảng Nam
Tìm hiểu quá trình hình thành và các hoạt động của Chi hội
Vai trò của khuyến nông các cấp cũng như chính quyền địa phương
trong quá trình hình thành và phát triển Chi hội tại xã Duy Châu và trên phạm
vi toàn huyện.
Đánh giá hiệu quả khuyến nông qua các hoạt động của Chi hội
Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hoạt động của
Chi hội
2
PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Tiến bộ kỹ thuật và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
2.1.1.1 Khái niệm về tiến bộ kỹ thuật
Tiến bộ kĩ thuật (TBKT) là một danh từ mang tính kỹ thuật trừu tượng
bao quát. Nó thể hiện những nét mới và tiến bộ của một yếu tố kỹ thuật nào
đó, góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh và cải thiện
đời sống nông dân và cư dân nông thôn. [7]
TBKT chỉ mang tính chất tương đối vì khi chúng ta đặt nó ở một vùng
này có thể mới nhưng khi đặt nó ở địa phương khác có thể nó không còn là
mới nữa. TBKT có thể là sản phẩm của cơ quan nghiên cứu và chuyển giao,
cũng có thể là sản phẩm của quá trình tự đánh giá, tự lựa chọn và đổi mới của
nông dân cho phù hợp hơn với nhu cầu của sản xuất và đời sống của chính
bản thân họ. [7]
2.1.1.2 Khái niệm về chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
Có nhiều định nghĩa khác nhau về chuyển giao TBKT, trong đó có một
số định nghĩa có ý nghĩa gần với thực tế công tác chuyển giao TBKT ở nước
ta của một số tác giả sau :
Theo Swansas và Cloor (1940) thì chuyển giao TBKT hay công nghệ là
một quá trình tiếp diễn nhằm tiếp cận và thông tin nào có ích cho con người
và từ đó giúp họ tiếp thu những kiến thức, kĩ năng và quan điểm cần thiết để
sử dụng có hiệu quả lượng thông tin hoặc công nghệ đó.
Theo Maunder (FAO, 1973) thì cho rằng : Chuyển giao TBKT đó là
một dịch vụ hay một hệ thống nhằm thông qua các phương thức đào tạo, giúp
đỡ cho người nông dân cải thiện các phương pháp, kĩ thuật canh tác, tăng hiệu
quả sản xuất và thu nhập, tăng mức sống và nâng cao trình độ giáo dục xã hội
của cuộc sống nông thôn. [8]
Tóm lại, chuyển giao TBKT đề cập đến một tiến trình, bằng tiến trình
đó những kỹ thuật cải tiến sẽ được chuyển giao đến những ai mà họ có thể
hưởng lợi hoặc cảm thấy họ có thể hưởng lợi từ những kỹ thuật đó. [7]
3
2.1.2. Mục đích của chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
Công tác chuyển giao TBKT nhằm giúp nông thôn có khả năng tự giải
quyết các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, nâng cao
đời sống và dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới thông qua áp
dụng thành công TBKT, bao gồm những kiến thức và kĩ năng quản lý, thông tin
và thị trường, các chủ trương chính sách về nông nghiệp và nông thôn. [ 9]
Chuyển giao TBKT còn giúp nông dân liên kết với nhau để phòng
chống thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, phát triển ngành nghề, tiếp xúc thương
mại, giúp nông dân phát triển khả năng tự quản lý điều hành và tổ chức hoạt
động xã hội nông thôn ngày càng tốt hơn. Như vậy mục đích của chuyển giao
tiến bộ kĩ thuật là:
- Đẩy mạnh sản xuất hàng hoá một cách bền vững, góp phần xây dựng nông
thôn theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá, dân chủ hoá và hợp tác hoá.
- Nâng cao thu nhập của nông dân, giúp nông dân giải quyết và đáp
ứng được các nhu cầu cơ bản của họ, thực hiện xoá đói giảm nghèo.
- Nâng cao dân trí trong nông thôn nhằm thực hiện các nhiệm vụ mục
tiêu trước mắt và cả lâu dài của xã hội.
2.1.3.Vai trò của chính sách nhà nước đối với công tác chuyển giao tiến
bộ kĩ thuật
Chính sách nông nghiệp, nông thôn “ Là tổng thể các biện pháp kinh tế
hoặc phi kinh tế liên quan đến nông nghiệp nông thôn nhằm tác động nông
nghiệp, nông thôn theo một định hướng với một mục tiêu nhất định” [8]
Chính sách nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối
với sự phát triển kinh tế đất nước, nó không chỉ là chính sách đơn thuần về
nông nghiệp mà là các chính sách đơn thuần về nông nghiệp mà là các chính
sách, biện pháp tác động vào tất cả các lĩnh vực, các ngành có liên quan đến
nông nghiệp nông thôn. Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước đặc
biệt là sau đổi mới (1986), ở nước ta đã sử dụng một loạt các chính sách nông
nghiệp bao gồm chính sách tín dụng nông thôn, chính sách về giá, các chính
sách chuyển giao khoa học kỹ thuật Các chính sách này đã có tác động tích
cực đến đời sống nhân dân, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng nền kinh
tế đất nước. Các chính sách về chuyển giao và áp dụng TBKT cũng có đóng
4
góp không nhỏ vào việc cải tạo nền sản xuất nông nghiệp nước ta. Năm 1993
nghị định 13/CP ra đời, qua đó hệ thống khuyến nông được thành lập từ trung
ương đến địa phương. Thông qua hệ thống này các tiến bộ kỹ thuật trong sản
xuất nông nghiệp đã được đưa đến tận những người dân ở những vùng xa xôi
hẻo lánh nhất, từng bước cải tạo nền sản xuất, góp phần nâng cao mọi đời
sống cho người dân.
Chuyển giao tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất là một quá trình, trong đó
không chỉ bên chuyển giao mà bên tiếp nhận đều chịu ảnh hưởng của các
chính sách. Đối với những người làm công tác chuyển giao là những người
cán bộ khuyến nông thì họ chuyển tác động của các quy định thực hiện
chuyển giao, còn đối với những người tiếp nhận là nông dân thì các chính
sách về hỗ trợ về vai vốn, cơ sở vật chất, chính sách đất đai, có tác động đến
việc áp dụng các TBKT của họ. Có thể thấy rằng : “ Các chính sách về
chuyển giao TBKT trong sản xuất nông thôn mà còn hỗ trợ điều kiện thuận
lợi cho các hộ ở nông thôn tăng cường phát triển sản xuất, giải quyết khó
khăn, từng bước thoát khỏi nghèo đói, làm cho tỷ lệ đói nghèo hằng năm giảm
xuống, bộ mặt nông thôn Việt Nam có nhiều đổi mới” [8]
2.1.4.Khái niệm về khuyến nông và vai trò của khuyến nông
“ Khuyến nông là một từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc có liên
quan đến sự nghiệp phát triển nông thôn, đó là một hệ thống giáo dục ngoài
nhà trường, trong đó có người già và người trẻ học bằng thực hành”
( Thomas, Gfloes )
Qua rất nhiều định nghĩa, chúng ta có thể tóm tắt lại và có thể hiệu
khuyến nông theo 2 nghĩa :
Khuyến nông hiểu theo nghĩa rộng, là khái niệm chung để chỉ tất cả
những hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn. Khuyến
nông là ngoài việc hướng dẫn cho nông dân tiến bộ kỹ thuật mới, còn phải giúp
họ liên kết với nhau để chống lại thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, hiểu biết các chính
sách, luật lệ nhà nước, giúp nông dân phát triển khả năng tự quản lý, điều hành,
tổ chức các hoạt động xã hội như thế nào cho ngày càng tốt hơn.
Khuyến nông theo nghĩa hẹp, là một tiến trình giáo dục không chính
thức mà đối tượng của nó là nông dân. Tiến trình này đem đến cho nông dân
5
những thông tin và những lời khuyên nhằm giúp họ giải quyết những vấn đề
hoặc những khó khăn trong cuộc sống. Khuyến nông hỗ trợ phát triển các
hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác để không ngừng cải thiện
chất lượng cuộc sống của nông dân và gia đình họ. Khuyến nông là sử dụng
các cơ quan nông lâm ngư để phổ biến, mở rộng các kết quả nghiên cứu tới
nông dân bằng các phương pháp thích hợp để họ có thể áp dụng nhằm thu
nhiều sản phẩm hơn.
Trên cơ sở đúc kết hoạt động khuyến nông ở Việt Nam, chúng ta có
thể định nghĩa về khuyến nông như sau: “ Khuyến nông là cách đào tạo và rèn
luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp cho hộ hiểu được những chủ
trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm
quản lý, những thông tin thị trường, để họ có đủ sức mạnh giải quyết các vấn
đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống,
nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn.
Khuyến nông là cách giáo dục ngoài học đường cho nông dân. Khuyến
nông là quá trình vận động, quảng bá, khuyến cáo, cho nông dân theo
nguyên tắc tự nguyện, không áp đặt, đồng thời đó là quá trình tiếp thu kiến
thức và kỹ năng một cách dần dần và tự giác của nông dân. [ 10]
* Vai trò của khuyến nông :
Khuyến nông là một lĩnh vực hoạt động nông nghiệp, nó được phân
biệt với các hoạt động khác bởi đối tượng tác động, mục tiêu và phương pháp
thực hiện.Vai trò của khuyến nông thể hiện như sau:
1. Đối với nông thôn:
Mặc dầu mục đích cuối cùng của khuyến nông là thúc đẩy sự phát triển
nông thôn, nhưng không phải như vậy mà đồng nhất khuyến nông với phát
triển nông thôn. Phát triển nông thôn là cái đích cuối cùng của nhiều hoạt
động khác nhau, tác động vào những khía cạnh khác nhau của nông thôn,
như: chính sách, công nghệ, thị trường, giáo dục nông nghiệp,tín dụng, y tế
Tóm lại khuyến nông là một yếu tố, một bộ phận hợp thành của toàn bộ
hoạt động phát triển nông thôn.
2. Khuyến nông đối với nông nghiệp, nông dân:
6
Khuyến nông có vai trò trực tiếp đối với nông dân và cộng đồng của họ.
Đặc biệt khi hộ gia đình được coi là một đơn vị kinh tế tự chủ và sản xuất
hàng hoá là quy luật họ phải tuân theo, thì nông dân là đối tượng cuối cùng
tiếp nhận thông tin và chịu mọi tác động của khuyến nông. Vì vậy khuyến
nông hơn bao giờ hết cần cho mọi hộ nông dân. Có thể nói khuyến nông là
người gần gủi nhất của nông dân.
Sự giúp đỡ của khuyến nông đối với nông dân không bó hẹp trong
khuôn khổ truyền bá thông tin, giáo dục, huấn luyện mà còn có những lĩnh
vực tìm kiếm, sử dụng các nguồn tự nhiên và kinh tế. Vai trò của khuyến
nông đối với nông dân còn thể hiện:
- Là người trực tiếp nắm bắt các vấn đề nảy sinh từ nông dân và cộng
đồng của họ.
- Là người trực tiếp giúp đỡ nông dân về sản xuất và đời sống
- Là người trực tiếp huấn luyện, đào tạo nông dân và giúp đỡ nông dân
sử dụng những kiến thức, kĩ năng và điều kiện vật chất đã tiếp nhận.
- Là người tạo lập và thúc đẩy mối liên kết phối hợp giữa các tổ chức tự
nguyện của nông dân.
3. Khuyến nông đối với nhà nước
Khuyến nông không chỉ là cầu nối giữa khoa học và thực tiễn, giữa các
cơ quan nghiên cứu khoa học với nông dân mà còn là cầu nối giữa nhà nước
với nông dân. Vai trò khuyến nông đối với nhà nước thể hiện :
Khuyến nông là người trực tiếp giúp đỡ nhà nước thực hiện những
chiến lược, chính sách về nông dân, nông nghiệp và nông thôn.
Khuyến nông là người trực tiếp vận động nông dân tiếp thu và thực
hiện các chính sách nông nghiệp của nhà nước.
Khuyến nông là người trực tiếp cung cấp thông tin về những nhu cầu,
đòi hỏi những nguyện vọng của nông dân cho nhà nước có cơ sở để hoạch
định những chính sách phù hợp.
Khuyến nông còn là người trực tiếp giúp nhà nước phân phối sử dụng
đúng đắn có hiệu quả vốn, quỹ và các nguồn lực khác dành cho việc phát triển
nông và nông thôn. [10]
7
2.1. 5.Những hiểu biết chung về nhóm sở thích
Khái niệm : Nhóm sở thích bao gồm các hộ nông dân quan tâm đến một
đối tượng ( vật nuôi hay cây trồng ) hoặc một loại sản phẩm trong sản xuất.
Nguyên tắc hoạt động : Thành viên của nhóm sở thích là những người
tự nguyện tham gia không phân biệt giàu nghèo, nhưng có chung sở thích
phát triển một loại hình sản xuất nhất định.
Bản chất hoạt động: Trao đổi và học tậo kinh nghiệm, tiếp nhận thông
tin về một lĩnh vực sản xuất. Mức độ liên kết giữa các thành viên trong hoạt
động sản xuất chưa cao.
Quy mô hoạt động: Một nhóm sở thích từ 10 - 30 người để đảm bảo
được 2 yếu tố là kiến thức KHKT được phổ biến rộng và dễ quản lý.
Ban lãnh đạo nhóm: Trong ban lãnh đạo có 3 người, 1 trưởng nhóm phụ
trách chung, 1 phó phụ trách kỹ thuật và một phó phụ trách tài chính, kế toán.
► Những hoạt hoạt động chính của nhóm sở thích
+ Xây dựng kế hoạch hoạt động:
Trước một mùa vụ hay một chu kỳ sản xuất một cây trồng, vật nuôi,
nhóm sở thích thường tổ chức họp để thảo luận xây dựng kế hoạch và các giải
pháp xây dựng kế hoạch để định hướng hoạt động có hiệu quả.
+ Thực hiện kế hoạch hoạt động:
Với những kế hoạch đã đề ra, nhóm trưởng có trách nhiệm hướng dẫn
các thành viên thực hiện.
Trong các buổi họp hàng tháng, thường xuyên thảo luận về việc thực
hiện kế hoạch và cũng có thể có những bổ sung, sửa đổi kế hoạch cho phù
hợp hơn với điều kiện thực tế.
+ Tổng kết đúc rút kinh nghiệm:
Sau một mùa vụ hay một chu kỳ sản xuất nhóm sở thích tổ chức họp để
thảo luận, tổng kết lại những kết quả đã đạt được, xác định các mặt còn hạn
chế, những khó khăn mới nảy sinh và bàn các giải pháp khắc phục và xây
dựng kế hoạch cho giai đoạn mới. [11]
8
2.1.6 Ý nghĩa của việc thành lập các nhóm sở thích:
Nhóm sở thích vừa là một loại hình tổ chức, vừa là một phương thức
hoạt động, là một bộ phận quan trọng trong 1 tổ chức, nhằm hỗ trợ giải quyết
những vấn đề phức tạp, quan trọng trong học tập, lao động và cuộc sống hàng
ngày, đáp ứng những nhu cầu chính đáng của các thành viên
Nhóm sở thích là nơi có những hoạt động phong phú, phù hợp với nhu
cầu lợi ích của những thành viên tạo môi trường cho các thành viên có khả
năng và năng khiếu được bộc lộ, phát triển. Bên cạnh định hướng giá trị mới,
tạo điều kiện cho các thành viên trưởng thành về mọi mặt.
Nhóm sở thích thành lập ra nhằm mục đích:
- Tạo điều kiện cho cho các thành giao tiếp, ứng xử, vui chơi giải trí
lành mạnh, bày tỏ quan điểm, tâm tư nguyện vọng, đồng thời hỗ trợ giải quyết
các vấn đề khó khăn, vướng mắc trong học tập, công tác và trong cuộc sống.
- Giúp tổ chức Hội tập hợp, đoàn kết thôn cho các thành viên qua các
hoạt động của câu lạc bộ, như: Học tập, văn hoá, văn nghệ, sở thích, nghề
nghiệp, nghiên cứu khoa học và các hoạt động xã hội khác, góp phần đổi mới,
nâng cao chất lượng hoạt động của tập thể.
- Thông qua các hoạt động để tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bản
lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, giáo dục lý tưởng cách mạng, truyền thống
của dân tộc cho thanh niên.
2.2. Cơ sở thực tiễn:
2.2.1. Tình hình thành lập các Hội, các nhóm sở thích trong cộng đồng ở
Việt Nam
►Quá trình hình thành và phát triển
Ngày 13/1/1986, HLV Việt Nam được thành lập với 125 hội viên ở 4
chi Hội cơ sở và 4 tỉnh – thành Hội. Những chi Hội đầu tiên phải kể đến là
HLV xã Thuỷ Xuân Tiên (Chương Mỹ - Hà Tây), HLV xã Văn Quán (Mê
Linh - Vĩnh Phúc), hay chi Hội đền Trần (TP. Nam Định). Sáu năm sau
(1992), số hội viên nâng lên gần 80.000 người, sinh hoạt tại 900 chi hội cơ sở
của 201 huyện, 43 tỉnh -thành phố. Năm 1997, Hội có 340.000 hội viên, 6.572
cơ sở Hội ở 409 huyện, 60 tỉnh - thành phố. Đến nay, đã có gần 800.000 hội
9
viên ở 9.000 cơ sở Hội của 500 huyện, 61/64 tỉnh - thành phố. Những con số
đó chứng tỏ sự lớn mạnh từng ngày của Hội.
►Các hoạt động và thành quả đạt được
Hội đã có nhiều phương thức để chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho người
nông dân, trong đó tạo mô hình mẫu cũng là phương thức cơ bản để các cấp Hội
chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến bà con một cách nhanh nhất. Hiện nay, một số
tỉnh Hội còn xây dựng và thành lập các câu lạc bộ chuyên ngành như câu lạc bộ
trang trại, câu lạc bộ khuyến nông. Nhiều cơ sở Hội còn có hẳn một HTX
chuyên đảm nhận việc tiêu thụ sản phẩm, … Như vậy, so với khi mới thành lập
thì hoạt động của các cấp Hội đã quy mô và chuyên nghiệp hơn.
Hội thường xuyên thay đổi hình thức tổ chức và sinh hoạt Hội, lập các
chi hội VAC tổng hợp hoặc chuyên ngành, câu lạc bộ trang trại, … để hội viên
có điều kiện học tập kinh nghiệm lẫn nhau. Đây cũng là cách chuyển giao, ứng
dụng hiệu quả tiến bộ kỹ thuật – công nghệ và tạo sức lan toả lớn nhất
Ngoài ra, tuỳ theo điều kiện của từng vùng, từng địa phương mà áp
dụng những biện pháp tuyên truyền thích hợp. Từ khi thành lập đến nay, Hội
Làm vườn (HLV) Việt Nam đã có nhiều hình thức tuyên truyền khác nhau,
nhưng đều chung mục đích giúp bà con hiểu vai trò và lợi ích nhiều mặt của
VAC. Thông qua các chương trình như: an toàn thực phẩm gia đình (HFS),
khuyến viên, các dự án trong và ngoài nước, Hội đã mở nhiều lớp tập huấn,
hội thảo, tham quan, trao đổi kinh nghiệm cho cán bộ, hội viên. Điều đặc biệt
của những lớp tập huấn này là giáo viên chỉ giảng nhiều nhất 40% thời gian,
còn lại dành cho học viên thảo luận với nhau, từ đó những kinh nghiệm quý
báu trong sản xuất được trao đổi. Đây là cách học rất hay, vì đối tượng là
nông dân, chỉ nói không thì họ vừa không hiểu, vừa không tin, vì thế tập huấn
thực chất là buổi trao đổi kinh nghiệm, giáo viên chỉ giải đáp những thắc mắc
về mặt kỹ thuật.
Ngày nay phương tiện truyền thông như ti vi, đài, báo rất đa dạng,
chúng ta cũng đã tận dụng tốt các phương tiện này để tuyên truyền đến bà
con. Hội đã xuất bản một tập sách khoảng 600 bài, trong đó có gần như đầy
đủ kỹ thuật nuôi, trồng, cách làm và hướng dẫn khá cụ thể, kết hợp với các
điểm bưu điện văn hoá xã để đưa sách đến với bà con, từ đó thông qua hệ
10
thống phát thanh của thôn, xã, mỗi ngày một bài được đọc. Đặc biệt, thông
qua báo Kinh tế Nông thôn, rất nhiều kinh nghiệm hay, kỹ thuật sáng tạo
được bà con biết đến. Bởi báo không chỉ tuyên truyền về cách làm mà còn
định hướng, cung cấp cho bà con thông tin giá cả, thị trường. Từ đó giúp
người nông dân tính toán sao cho tránh được rủi ro trong sản xuất cũng như
kinh doanh. Ngoài ra Hội còn ấn hành hàng nghìn tờ rơi, áp phích, tờ gấp
hướng dẫn kỹ thuật, tài liệu cung cấp miễn phí cho hội viên.
Khác với mô hình hợp tác xã (HTX) cũ, ngày nay chỉ những người giỏi
mới thực sự là người đứng đầu HTX, câu lạc bộ và hoạt động của những
câu lạc bộ này hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện. Đã không ít người háo hức
tham gia, điều này đã chứng tỏ vai trò của các tổ chức hội trong cộng đồng
Việt Nam. [17]
2.2.2. Quá trình thành lập các chi hội, các nhóm sở thích trong cộng đồng
ở huyện Duy Xuyên
► Quá trình hình thành và phát triển
Hội làm vườn huyện Duy Xuyên được thành lập từ năm 1990 với 20
hội viên và 1 chi hội. Hiện có 108 chi hội nghề nghiệp và hơn 2200 hội viên,
mức độ hoạt động kém, một số nơi chỉ dừng lại là tổ chức danh nghĩa, chỉ kết
hợp với các đoàn thể khác là chính để hội họp và triển khai chương trình.
Nhưng trong đó một số chi hội đã duy trì, tổ chức hoạt động rất sôi nổi
và hiệu quả như Chi hội nuôi gà thả vườn xã Duy Châu, các chi hội cây, con ở
Duy Sơn, chi hội nuôi heo, gia cầm ở Duy Thành, chi hội rau sạch ở Duy
Phước, chi hội nuôi đà điểu ở Duy Nghĩa…
► Các hoạt động và hiệu quả đạt được
Thời gian qua, các cấp hội từ huyện đến cơ sở, đã có nhiều cố gắng
vận động nhân dân, hội viên đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ nhau để phát triển
kinh tế VAC, nhiều hộ đã phát huy được hiệu quả kinh tế trên diện tích đất
vườn nhà, vườn đồi, vườn rừng, số trang trại không ngừng tăng, nông sản
hàng hóa ngày càng nhiều và hiệu quả kinh tế đáng kể, góp phần phát triển
nông nghiệp bền vững, cải thiện bảo vệ môi trường và xây dựng nông thôn
mới giàu đẹp, đậm tính nhân văn.
11
Năm qua, hội làm vườn huyện đã phối hợp tốt với các ban ngành liên
quan tổ chức được 6 lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về phát triển
kinh tế VAC như: Sản xuất rau sạch, nuôi gà Ai Cập, bồ câu Pháp, thỏ Mỹ,
chiết ghép cây điền trúc, cây ăn quả cho hơn 600 hội viên, nhân dân đã kết
hợp với các chương trình tập huấn của các ngành chức năng về chuyển dịch
cây trồng con vật nuôi, các cấp hội đã huy động hàng trăm hội viên tham gia.
Tổ chức cho hơn 100 hội viên ở Duy Thu, Duy Châu, Duy Sơn, Duy Thành
tham quan học tập ở ngoài xã, huyện các mô hình sản xuất mới và hiệu quả
như : Nuôi gà Ai Cập, thỏ Mỹ, bồ câu Pháp, heo rừng, nhím…Ngoài ra các
cấp hội cũng thường xuyên tư vấn, giúp đỡ, cung cấp tài liệu, kỹ thuật, tài liệu
về cơ chế, chính sách phát triển kinh tế vườn- kinh tế trang trại cho hội viên
để phát triển kinh tế VAC
Thông qua hoạt động của hội đã từng bước phát huy vai trò nòng cốt của
những hội viên làm ăn hiệu quả, có uy tín để tổ chức vận động nhân dân, hội
viên mở rộng xây dựng các chi hội nghề nghiệp mới như : Liên chi hội nuôi gà
thả vườn ở Duy Châu, Duy Tân, Duy Hòa, Duy Sơn, Chi hội nuôi đà điểu ở Duy
Hải, Duy Nghĩa, Chi hội nuôi heo nạc ở Duy Thành, Duy Phước…để hỗ trợ
nhau về kinh nghiệm thành công, tiến bộ kỹ thuật, thông tin thị trường, tiếp cận
các nguồn vay vốn, hỗ trợ…để phát triển sản xuất có hiệu quả.
► Về phát triển kinh tế VAC:
Năm 2010, với mục tiêu khai thác tiềm năng, thế mạnh của kinh tế gia
trại, các cấp hội đã phối hợp với các ngành, các cấp, vận động hội viên và
nhân dân tham gia cải tạo và phát triển kinh tế vườn đạt 98ha (1662 vườn )
vốn đầu tư 2321 triệu đồng, trong đó vốn vay 350 triệu đồng (tỷ lệ 15 %).
Nhiều đại phương có số vốn đầu tư xây dựng chuồng trại để chăn nuôi heo có
quy mô đàn từ 20 con/ lứa trở nên ngày càng nhiều ( Duy Thành, Duy Phước
40- 45%). Các xã Duy Thu, Duy Tân, Duy Hòa, cải tạo vườn để trồng các
nhóm cây sau : chanh, ổi, bưởi, xoài ghép,sầu riêng…bước đầu đã có nhiều
triển vọng. Hàng chục hộ đào ao, cải tạo ao nuôi cá nước ngọt, kết hợp trồng
sen – nuôi cá, lúa – cá có hiệu quả, đạt mức thu nhập hàng chục triệu đồng.
Chăn nuôi gia cầm với quy mô đàn hàng trăm con đã được khôi phục lại, liên
chi hội nuôi gà thả vườn xã Duy Châu đạt hiệu quả kinh tế khá cao, đã được
12
nhân rộng trên địa bàn huyện. Vượt lên các khó khăn về thiên tai, dịch bệnh,
bấp bênh về thị trường…Các chi hội chăn nuôi đã chủ động đa dạng hóa các
con vật nuôi, du nhập giống mới có thị trường và lợi nhuận cao như gà Ai
cập, bồ câu Pháp, thỏ Mỹ, nhím, đà điểu, cút đẻ… như ở Duy Sơn, Duy Châu,
Duy Tân, Duy Nghĩa.
► Ban quan lý hội làm vườn tại các xã, thị trấn
Ban quản lý hội làm vườn các xã, thị trấn có cố gắng tổ chức hội hoạt
động, nhưng thực tế lực bất toàn tâm, chỉ vận dụng phối hợp các chương trình
kinh tế - xã hội gắn với nhiệm vụ của địa phương là chính, hằng tháng, hằng
quý, hằng năm có nơi họp được, có nơi không, thậm chí một vài địa phương
chức danh Chủ tịch hội làm vườn không còn nhớ là ai nữa, không còn biết
bao nhiêu chi hội nghề nghiệp đã và đang hoạt động ra sao và kết quả thế nào.
Tuy nhiên, vượt qua khó khăn nhiều mặt, Ban quản lý Hội làm vườn
các địa phương Duy Châu, Duy Sơn, Duy Phú, Duy Thu, Duy Nghĩa đã tranh
thủ được sự lãnh đạo của Đảng ủy, UBND xã, thị trấn để tổ chức phát triển
nhiều mô hình kinh tế vườn với đa dạng con vật nuôi có hiệu quả, đã tư vấn
giúp đỡ nhiều hội viên tiếp cận chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế vườn –
kinh tế trang trại của huyện, của tỉnh. Liên hệ thường xuyên với hội làm vườn
huyện, để cung cấp đủ và kịp thời các tài liệu kỹ thuật cây, con theo yêu cầu
của hội viên và nhân dân. Bên cạnh đó, một số cấp hội đã tổ chức được các
lớp tập huấn và tham quan mô hình mới, cho hội viên và nhân dân học tập
kinh nghiệm.
► Hạn chế :
Hoạt động của Hội, trong năm qua mặc dù đã có nhiều cố gắng và đạt
được một số hiệu quả nhất định, nhưng cũng tồn tại và hạn chế. Các cấp hội
từ huyện đến cơ sở tổ chức sinh hoạt chưa đi vào nề nếp, nội dung sinh hoạt
đơn điệu và lồng ghép là chính, một số tổ chức hội cả năm không tổ chức sinh
hoạt. Nhìn chung, vai trò của hội ở một số nơi còn mờ nhạt, chưa giúp được
nhiều cho hội viên, có lúc có nơi chỉ dừng lại ở hô hào, nên tiếng nói của hội
viên chưa có sức thuyết phục và chưa tạo được niềm tin đối với hội viên,
nông dân và lãnh đạo địa phương hội làm vườn ít gắn các chương trình hành
13
động thiết thực với hội viên, nên một số cơ sở hội chưa được lãnh đạo xã, thị
trấn quan tâm đúng mức.
Bên cạnh đó, nhiều hội viên có tâm huyết với nghề làm vườn, đã có quyết
tâm cao nên thực sự đạt được hiệu quả kinh tế. Còn phần lớn hội viên thụ động,
trông chờ ỷ lại với tư tưởng xin cho, mục đích vào hội chủ yếu để có quyền lợi,
không chủ động, mạnh dạn đầu tư để phát triển kinh tế vườn – kinh tế trang trại,
nên kinh tế gia đình, kinh tế trang trại phát triển chậm và kém hiệu quả. Trong
khi đó, những mô hình làm ăn có hiệu quả ít được nhân rộng.[4]
2.2.3. Quá trình thành lập các chi hội, các nhóm sở thích trong cộng đồng
ở xã Duy Châu
Hội làm vườn xã Duy Châu thành lập năm 1993, lúc đầu chỉ có 1 chi hội
với 20 hội viên, nhưng với quy mô nhỏ, mỗi hộ nuôi 100 gà đẻ, 200 con gà thịt,
không thể nuôi với quy mô lớn hơn do gần nhà nhau, môi trường bị ô nhiễm.
Sau đó Hội có phát triển thêm 1 vài chi hội như : chi hội nuôi bò, nuôi heo, chi
hội cây cảnh… nhưng hoạt động không hiệu quả, sau đó chỉ tồn tại chi hội cây
cảnh, chi hội nuôi gà thả vườn của xã hoạt động và phát triển mạnh.
► Các hoạt động và hiệu quả đạt được :
Hội đã tổ chức tập huấn về kỹ thuật chăn nuôi gà cho một số nông dân
nòng cốt trong xã để thông qua nhóm nòng cốt này truyền đạt lại cho các hộ
trong toàn xã. Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu của các hộ chăn nuôi gà thả
vườn, hội đã tổ chức hướng dẫn nhân dân thành lập các tổ chức chi hội nuôi
gà trong từng thôn.
Trong những năm qua, nhờ định hướng cho người nông dân chăn nuôi phát
triển theo hướng gia trại kết hợp với việc thúc đẩy cho họ tham gia vào các tổ
chức hội tại địa phương đưa quy mô của hộ phát triển ngày càng lớn mạnh. [5]
14
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Nội dung nghiên cứu
- Tình hình phát triển chăn nuôi gà thả vườn của huyện Duy Xuyên và
xã Duy Châu
- Các nguồn/ kênh thông tin, kiến thức về chăn nuôi gà thả vườn của xã
Duy Châu.
- Các tiến bộ kĩ thuật về chăn nuôi gà thả vườn được chuyển giao cho
người dân trong những năm qua.
- Hoạt động của chi hội và hiệu quả chuyển giao TBKT về chăn nuôi
gà thả vườn.
- Nhận thức của người dân về hiệu quả và tầm quan trọng của chi hội
trong hệ thống thông tin kiến thức chăn nuôi của địa phương.
- Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hoạt động chi hội gặp phải.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Đối tượng nghiên cứu :
Các hộ chăn nuôi gà thả vườn trong và ngoài chi hội tại xã Duy Châu –
Duy Xuyên – Quảng Nam
Ban quản lý chi hội nuôi gà thả vườn xã Duy Châu
3.2.2.Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian: tại xã Duy Châu - Duy Xuyên - Quảng Nam
Về mặt thời gian: Nghiên cứu vai trò khuyến nông của chi hội trong 3
năm trở lại đây(2008 – 2010).
3.2.3 Phương pháp nghiên cứu
* Chọn mẫu khảo sát
Phỏng vấn 50 hộ là những hộ tham gia chăn nuôi gà thả vườn (25 hộ
trong chi hội và 25 hộ ngoài chi hội) của xã, theo tiêu chí phân loại hộ khá, hộ
trung bình và hộ nghèo theo tỷ lệ chung của xã (26,8% – 56,7% - 16,4%) với
tiêu chí do bộ lao động và thương binh xã hội quy định, bằng cách lựa chọn
mẫu ngẫu nhiên có định hướng phù hợp với nội dung nghiên cứu
* Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp.
Thu thập dữ liệu thứ cấp qua các tài liệu liên quan như tài liệu thống
kê, các báo cáo tổng kết của địa phương, chuyên đề và các nghiên cứu có liên
15
quan… Về tình hình kinh tế xã hội của xã, cơ cấu giữa các ngành nghề, tình
hình chăn nuôi gà thả vườn của địa phương …
* Thu thập thông tin sơ cấp:
Thông tin thu thập trên thực địa thông qua khảo sát hộ sản xuất bằng
bảng hỏi bán cấu trúc về các vấn đề như: tình hình chăn nuôi gà thả vườn của
nông hộ, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất, hiệu quả kinh
tế trong năm 2010, vai trò của chi hội, hiệu quả và những thay đổi do chi hội
nuôi gà thả vườn mang lại…để phục vụ cho mục đích nghiên cứu. Và phỏng
vấn sâu những người am hiểu về vấn đề nghiên cứu: chủ tịch UBND xã, cán
bộ khuyến nông xã, huyện, chi hội trưởng, chi hội phó, các trưởng thôn…
Kết hợp cả quan sát cá thể và tổng thể nhằm giúp thu thập số liệu một
cách chính xác hơn trong quá trình nghiên cứu.
* Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Số liệu được tổng hợp và xử lý trên phần mềm excel. Phân tích định
tính và định lượng để mô tả phân tích các chỉ tiêu nghiên cứu
16
PHẦN 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Duy Xuyên
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý:
Huyện Duy Xuyên có vị trí: Phía Ðông giáp biển Ðông, phía Tây giáp
huyện Nông Sơn và huyện Ðại Lộc, phía Nam giáp huyện Quế Sơn và huyện
Thăng Bình, phía Bắc giáp các huyện Ðiện Bàn, Ðại Lộc và thành phố Hội
An. Có tọa độ địa lý từ: 15042’55” đến 15051’42” độ vĩ Bắc, từ 108002’26”
đến 108024’25” Kinh độ Ðông.
- Địa hình :
Địa hình huyện Duy xuyên được phân thành 3 vùng chính, trong đó có
13 xã và 1 thị trấn, 2 xã vùng núi: Duy Phú và Duy Sơn, 2 xã vùng cát ven
biển: Duy Nghĩa, Duy Hải, 10 xã, thị trấn vùng trung du và đồng bằng: Duy
Phước, Duy Vinh, Duy Thành, Duy Trung, Duy Trinh, Duy Châu, Duy Hoà,
Duy Tân, Duy Thu và thị trấn Nam Phước
- Khí hậu :
Khí hậu phân thành 2 mùa rõ rệt : mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, mùa
mưa từ tháng 9 đến tháng giêng năm sau, tháng 9, 10 thường kèm theo lũ lụt.
Nhiệt độ trung bình 28
0
C, chịu ảnh hưởng khí hậu của miền Trung Trung bộ,
gió mùa Ðông Bắc và Tây Nam. Với khí hậu này rất thích hợp cho cây trồng
và vật nuôi phát triển.
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện
Những năm qua, dưới sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy
Đảng, các cấp chính quyền, được sự hỗ trợ tích cực của các ngành ở tỉnh, sự nổ
lực lao động sản xuất của nhân dân, huyện Duy Xuyên đã phát triển khá toàn
diện các lĩnh vực kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng. Trong những năm gần
đây ( 2005 – 2010) về kinh tế đã đạt được tốc độ tăng trưởng bình quân
16,58%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng giá trị sản
xuất các ngành công nghiệp và xây dựng - dịch vụ - nông nghiệp đạt 46- 35-
19. Thu nhập bình quân đầu người 17,53 triệu đồng/ năm. Văn hóa – xã hội có
bước phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, bộ mặt nông thôn
được đổi mới, hiện nay tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 17,25% ( năm 2005 là 29,09%).
17
Cơ sở hạ tầng phục vụ cho giáo dục được đầu tư đáng kể, xây dựng kiên cố kết
hợp với trang thiết bị được đầu tư đáng kể, xây dựng kiên cố kết hợp với trang
bị đồng bộ các thiết bị và tạo cảnh quan môi trường. Công việc chăm sóc sức
khỏe cho nhân dân và thực hiện chương trình y tế quốc gia được tập trung chỉ
đạo, các cơ sở y tế được đầu tư xây dựng kết hợp với trang bị một số thiết bị
hiện đại để từng bước đáp ứng nhu cầu chữa bệnh cho nhân dân.[1]
4.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Duy Châu
4.2.1. Đặc điểm tự nhiên:
► Vị trí địa lý:
18
Duy Châu là một xã trung du nằm ở phía Tây huyện Duy Xuyên, cách
trung tâm huyện 13 km, phía Đông giáp xã Duy Trinh, phía Tây giáp xã Duy
Hòa, phía Nam giáp xã Duy Hòa, phía Bắc giáp xã Điện Quang ( Điện Bàn),
xã Đại Hòa ( Đại Lộc ).
Có tổng diện tích tự nhiên 12,6 km2 , được chia làm 8 thôn ( Thọ
Xuyên, Tân Phong, Thanh Châu, Cổ Tháp, Lệ An, Lệ Nam, Lệ Bắc và Cù
Bàn ). Đây là một xã nằm ven sông Thu Bồn, có tuyến đường 610 chạy dọc
theo chiều dài của xã, tạo điều kiện cho việc giao lưu, trao đổi hàng hóa.
Tuy nhiên, là một xã nằm cách xã trung tâm huyện, Tỉnh nên khó khăn
cho việc giao lưu về kinh tế, văn hóa, chính trị
►Đặc điểm địa hình:
Xã Duy Châu là xã trung du, đồi núi thấp của huyện Duy Xuyên,
hướng thấp dần về phía Bắc, có thể chia thành hai dạng địa hình chính:
- Địa hình gò đồi:
19
Địa hình gò đồi chiếm 25% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở phía
Nam và Đông Nam của xã, độ cao trung bình 50m đến 100m. Địa hình có dạng
xen lẫn giữa các gò đồi, bát úp hay lượn sóng, là nơi tiếp giáp với đồng bằng.
- Địa hình đồng bằng:
Địa hình bằng phẳng tập trung ở ven sông Thu Bồn, sông Bà Rén, bị
chia cắt bởi nhiều con suối nhỏ, địa hình này được phù sa bồi đắp hằng năm.
Đất đai màu mỡ phù hợp với sản suất nông nghiệp. Địa hình nơi đây thích
hợp để phát triển mô hình chăn nuôi theo hướng gia trại.
►Đặc điểm khí hậu, thời tiết:
Xã chịu ảnh hưởng chung của thời tiết khí hậu Trung,Trung bộ. Khí
hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nhiệt độ trung bình năm: 25
o
C thuận lợi cho việc
sinh trưởng và phát triển của cây trồng con vật nuôi. Tuy nhiên khí hậu phân
hóa theo mùa, khô hạn vào mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa, ảnh hưởng không
nhỏ đến đời sống và sản xuất của nhân dân.
4.2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội :
►Tình hình phát triển kinh tế của xã
Xã Duy Châu có đại bộ phận dân cư sinh sống chủ yếu là sản xuất nông
nghiệp với đa dạng các loại cây trồng, vật nuôi. Ngoài ra có một số hộ dân
sống bằng công nghiệp và thương mại, dịch vụ.
Bảng 1 : Cơ cấu kinh tế xã Duy Châu qua các năm 2008 - 2010
ĐVT : %
Ngành
Năm
Nông nghiệp Công nghiệp Thương mại dịch vụ
2008 58,22 18,16 23.62
2009 44,87 29,50 25,63
2010 38,29 37,38 23,63
(Nguồn : Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Duy Châu)
Tốc độ phát triển nền kinh tế đạt bình quân 12,35%.
20
Biểu đồ 1: Thể hiện tốc độ phát triển kinh tế của xã Duy Châu
Trong những năm gần đây kinh tế xã Duy Châu đã có những bước tăng
trưởng khá mạnh, cơ cấu kinh tế thay đổi theo xu hướng chung của cả nước đó là
tăng nhanh về tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ. Hoạt động thương mại dịch vụ
ngày càng phong phú hơn, đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đời sống, góp phần
tạo sự chuyển biến về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn.
►Đất đai tình hình sử dụng đất:
Đối với sản xuất nông nghiệp, đất là tư liệu sản xuất đặc biệt quan
trọng và không thể thay thế được. Vì vậy việc tìm hiểu tình hình sử dụng đất
rất quan trọng , nó giúp ta bố trí cây trồng, vật nuôi hợp lý để từ đó nâng cao
hiệu quả sản xuất.
Bảng 2: Hiện trạng sử dụng đất xã Duy Châu năm 2010
LOẠI ĐẤT
DIỆN TÍCH
(ha)
Cơ cấu
Tổng diện tích 1264,9400 100
21
1. Đất nông nghiệp 475,2463 37,57
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 372,8573 29,48
1.1.1 Đất trồng cây hằng năm 350,3775 27,70
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm
22,4798 1,78
1.2 Đất lâm nghiệp 100,3130 7,93
1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 1,0900 0,09
2. Đất phi nông nghiệp 324,6029 25,66
2.1 Đất ở nông thôn 120,2309 9,50
2.2 Đất chuyên dùng
63,6293 5,03
2.2.1 Đất trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp 1,4877 0,12
2.2.3 Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 1,5358 0,12
2.2.4 Đất có mục đích công cộng 60,6058 4,79
2.3 Đất tôn giáo tín ngưỡng 1,1827 0,09
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa
43,4500 3,43
2.5 Đất sông suối mặt nước chuyên dùng 96,1100 7,60
3. Đất chưa sử dụng 465,0908 36,77
(Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế xã hội xã Duy Châu)
Qua bảng phân tích trên cho thấy trong ba loại đất thì đất sản xuất nông
nghiệp chiếm diện tích cao nhất so với diện tích tự nhiên ( 475,24 ha ) trong
đó đất trồng cây hằng năm chiếm đến 350,37 ha ( 27,7 % so với diện tích tự
nhiên) ,còn lại là các loại đất khác. Điều này cho thấy, sự chuyển dịch cơ cấu
cây trồng con vật nuôi tại địa phương vẫn chưa cao so với tiềm năng và yêu
cầu chung.
Đất chưa sử dụng vẫn chiếm tỷ lệ khá cao 36,77 % diện tích đất tự
nhiên,chủ yếu là đất bãi cát, đất đồi. Đối với diện tích đất này khả năng đưa
vào sản xuất nông nghiệp là rất hạn chế, vì vậy chỉ phù hợp với việc phát triển
trồng rừng, hình thành các trang trại chăn nuôi.
► Tình hình dân số và lao động
Bảng 3: Tình hình dân số và phân loại hộ của xã Duy Châu năm 2010
Các chỉ tiêu ĐVT Số lượng Tỷ lệ %
22
Tổng số hộ Hộ 1923 100,00
Hộ khá Hộ 515 26,78
Hộ trung bình Hộ 1091 56,74
Hộ nghèo Hộ 317 16,48
(Nguồn: Thống kê của UBND xã Duy Châu 2010)
Qua bảng trên ta thấy, toàn xã có 1923 hộ, trong đó 6763 khẩu với 2631
lao động. Như vậy bình quân nhân khẩu/hộ 3,51 khẩu (năm 2010), bình quân
nhân khẩu/lao động 2,57 khẩu. Toàn xã có 317 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 16,48%,
1091 hộ trung bình chiếm tỷ lệ 56,74%, 515 hộ khá chiếm tỷ lệ 26,78%.
►Cơ sở vật chất, hạ tầng của xã
* Hệ thống điện:
Toàn xã có 9km đường dây trung thế và 25 km đường dây hạ thế với 08
trạm biến áp được nối từ mạng lưới điện Quốc gia cung cấp điện thắp sáng,
sinh hoạt và sản xuất 100% số hộ trong xã và các cơ sở sản xuất, đáp ứng
được nhu cầu tiêu thụ điện năng cần thiết.
* Hệ thống giao thông:
Trong các năm qua, nhờ kinh tế phát triển, người dân xã Duy Châu với
phương châm “ Nhà nước và nhân dân cùng làm ”, địa phương đã vận động
nhân dân, góp sức người sức của xây dựng được hơn 30km bê tông mặt đường.
Giao thông đường thủy: Trên địa bàn có sông Thu Bồn chạy qua với
chiều dài 2,2km phục vụ được nhu cầu vận chuyển đường thủy cho nhân dân
trên địa bàn và các vùng phụ cận.
Hệ thống điện đã góp phần vào việc thực hiện điện khí hóa nông thôn ở
xã Duy Châu, tạo điều kiện cho nhân dân áp dụng các tiến bộ khoa học kỷ
thuật vào sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm. Giao
thông thuận lợi góp phần thúc đẩy việc vận chuyển, buôn bán được nhanh
chóng, tạo đầu ra thuận lợi cho ngành chăn nuôi gà. Nhờ đó góp phần giảm tỷ
lệ hộ nghèo của xã.
Bảng 4: So sánh tỷ lệ hộ nghèo của xã với mặt bằng chung của huyện
ĐVT: %
Năm 2008 2009 2010
23
Toàn huyện
23,61 21,96 17,25
Xã Duy Châu 22,09 19,10 16,48
(Nguồn: Thống kê của UBND xã Duy Châu 2010)
Trong những năm qua nhìn chung tỷ lệ hộ nghèo của xã vẫn thấp hơn
so với mặt bằng chung của huyện. Công tác xoá đói giảm nghèo được quan
tâm đúng mức bằng nhiều nguồn vốn trong 5 năm giải quyết cho 406 lượt hộ
nghèo vay 4,358 tỷ đồng vốn ưu đãi và các biện pháp hướng dẫn giúp hộ
nghèo phát triển sản xuất đồng thời kết hợp thực hiện các chính sách hỗ trợ
khác đã góp phần hạ thấp tỷ lệ hộ nghèo từ 19,1% xuống còn 16,48% .[2]
4.3. Tình hình chăn nuôi gà ở địa bàn nghiên cứu trong giai đoạn 2008-2010
4.3.1. Tình hình chăn nuôi gà của huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam
giai đoạn 2008-2010
Năm 2010, ngành chăn nuôi gặp rất nhiều khó khăn. Mặc dù có sự tập
trung chỉ đạo phòng chống dịch bệnh một cách tích cực đầu tiên ngay từ khi
con bệnh xuất hiện. Song do môi trường nhiễm bệnh ở diện rộng, nhân lực
tham gia công tác phòng và trị bệnh thiếu năng động, chậm vào cuộc ngay từ
đầu, tinh thần của người chăn nuôi chưa tích cực, còn biểu hiện việc giấu
bệnh …Do đó hiệu quả trong công tác phòng chống dịch bệnh chưa cao, gây
thiệt hại cho người chăn nuôi.
Bảng 5: Thống kê số lượng đàn gia cầm qua 3 năm 2008 - 2010
ĐVT: con
Năm Tổng số Chia ra
Vịt Gà
2008
322.020 108.300 213.720
2009
350.100 127.290 222.810
2010
395.040 143.900 251.140
(Nguồn : Phòng thống kê huyện Duy Xuyên năm 2010)
Theo kết quả điều tra chăn nuôi 1/01/2010. Đối với đàn gia cầm cơ bản
ổn định và có bước phát triển khá, nhất là chương trình nhân rộng mô hình
“hội chăn nuôi gà” theo hướng gia trại tại xã Duy Châu, Duy Hòa, Duy Tân
24
và Duy Nghĩa …các hội chăn nuôi này đã chủ động học hỏi và đầu tư 35 lò ấp
trứng thủ công với quy mô 300 trứng/ lò để sản xuất giống gà “ sạch bệnh”
cung cấp cho các thành viên. Nhờ đó mà việc phát triển chăn nuôi gia cầm nói
chung và chăn nuôi gà nói riêng trở thành phong trào trên địa bàn toàn huyện.
Đến nay tổng đàn gia cầm 395.040 (Gà 251.140 con; vịt, ngỗng: 143.900 con
Bảng 6 : Số liệu số lượng và sản phẩm chăn nuôi gà 1/4/2010
Gà ĐVT Tổng số Cá thể
a.Số con hiện có 1000 con 239,3 239,25
Chia ra: Gà thịt 1000 con 229,5 229,50
Trong đó: Gà công nghiệp 1000 con 9,8 9,80
Gà đẻ trứng 1000 con 96,2 96,20
Trong đó: Gà công nghiệp 1000 con 9,8 9,80
b. Số con xuất chuồng 1000 con 380,0 380,00
Trong đó: Gà công nghiệp 1000 con 7,7 7,70
c. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng Tấn 608,0 608,00
Trong đó :Gà công nghiệp Tấn 15,4 15,40
d.Sản lượng trứng trong kỳ 1000 quả 3.944,2 3.944,2
Trong đó : Gà công nghiệp 1000 quả 882,0 882,00
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Duy Xuyên 2010)
Qua bảng số liệu trên ta thấy tình hình chăn nuôi gà của huyện Duy
Xuyên tương đối phát triển. Trong đó chủ yếu là gà thả vườn với số lượng
lớn, tổng đàn gà hiện có 239300 con, trong đó lượng gà thả vườn nuôi lấy thịt
chiếm đến 229500 con, gấp 23,4 lần so với gà công nghiệp (9800 con). Qua
đó lượng sản phẩm cung cấp cho thị trường của gà thả vườn cũng lớn hơn gà
công nghiệp rất nhiều. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng của gà thả vườn trong
năm qua đạt 608 tấn, trong khi đó sản lượng gà công nghiệp chỉ đạt 15,4 tấn,
sản lượng trứng trong kỳ của gà thả vườn đạt 3944000 quả, gà công nghiệp
đạt 882000 quả. Và chủ yếu được nuôi ở thành phần cá thể chứ chưa tập trung
ở hình thức tư nhân, tập thể hay nhà nước.[1]
4.3.2 .Tình hình chăn nuôi gà của xã Duy Châu trong giai đoạn 2008-2010
Trong những năm gần đây dịch cúm gia cầm xảy ra nhiều nhưng địa
phương thực hiện tốt các biện pháp tiêm phòng, nhờ vậy chăn nuôi vẫn phát triển
tốt. Xã Duy Châu là một trong những xã có hoạt động chăn nuôi gà thả vườn phát
25