Nhu Cầu Và Nguồn Cung
Của Vàng
Vàng là một một dạng vật chất duy nhất nên không cần quan tâm
lắm tới rủi ro niềm tin vì đã là vàng thì đâu phải là khoản nợ của
một ai đó phải trả. Do vậy, không có rủi ro về niềm tin. Nó cũng
không có tính rủi ro của một loại cổ phiếu thưởng hay một khoản
thanh toán phải mua lại như trái phiếu hay các công ty đổ vỡ
trong việc kinh doanh như chứng khoán.
Cũng như những tài sản giá trị khác, giá Vàng cũng thay đổi theo
sự thay đổi giữa cán cân cung cầu. Các sản phẩm Vàng thường
liên quan tới các mỏ vàng đã tồn tại, đang khai thác và những mỏ
Vàng mới phát hiện. Điều này giải thích tại sao giá Vàng bắt đầu
phục hồi từ năm 2001 nhưng nguồn cung sản phẩm từ Vàng vẫn
không tăng. Trong khi đó nhu cầu về Vàng lại tăng lên một cách
ổn định, đây chính là nhân tố chính trên thị trường Vàng. Điều
này đã tạo nên các viễn cảnh tươi sáng về giá trị của kim loại quý
này trong những năm qua.
Vàng và Rủi Ro
Các công cụ tài chính thường chú ý tới ba yếu tố rủi ro chính:
· Rủi ro niềm tin: Đó là rủi ro trong trường hợp người vay nợ
không trả
· Rủi ro trong tính thanh khoản: Tính rủi ro này chính là các tài
sản tài chính khi mà người bán không thể bán cũng như người
mua tìm mua nhưng không thể mua.
· Rủi ro thị trường: Tức là mức rủi ro, giá sẽ rớt manh theo điều
kiện thay đổ của thị trường.
Vàng là một một dạng vật chất duy nhất nên không cần quan tâm
lắm tới rủi ro niềm tin vì đã là vàng thì đâu phải là khoản nợ của
một ai đó phải trả. Do vậy, không có rủi ro về niềm tin. Nó cũng
không có tính rủi ro của một loại cổ phiếu thưởng hay một khoản
thanh toán phải mua lại như trái phiếu hay các công ty đổ vỡ
trong việc kinh doanh như chứng khoán. Nó cũng khộng hẳn là
một loại tiền tệ. Tuy nhiên, Vàng không thể không bị ảnh hưởng
bởi các chính sách kinh tế của một quốc gia này hay sự xói mòn
tăng trưởng kinh tế bởi lạm phát của một quốc gia nọ.
Trong cùng một thời điểm, các giao dịch trong 24 giờ có rất nhiều
người mua hay bán nó từ các nhà máy sản xuất nữa trang tới các
quỹ đầu tư mua cho các nhà máy để sản xuất các sản phẩm công
nghiệp. Bên cạnh đó cũng có rất nhiều nhà đầu tư theo các hình
thức khác như mua tiền Vàng, Vàng thỏi, Vàng trang sức, các
hợp đồng tương lai, các hợp đồng quyền lựa chọn, các trao giao
dịch trao đổi vốn, chứng quyền và các sản phẩm khác…, điều đó
chứng minh tính rủi ro thanh khoản của vàng là rất thấp. Thị
trường Vàng là rất chắc chắn và có tính thanh khoản cao như các
dẫn chứng thực tế nêu trên thì Vàng có thể được mua bán giao
dịch với mức chênh lệch giá mua bán rất thấp và nhanh chóng
hơn so với các danh mục đầu tư khác hay thậm chí sẽ là cả
những khoản đầu tư mạnh mẽ nhất.
Vàng tất nhiện cũng là một thị trường rủi ro, một kinh nghiệm rõ
thấy nhất vào năm 1980 khi đó giá Vàng đã giảm rất mạnh, rất
nhanh. Hay mới đây thôi, Vàng đã giảm trên 100usd/ngày. Các
yếu tố rủi ro có thể ập xuống thị trường, giá Vàng có thể bị tác
động bất cứ lúc nào. Rủi ro từ thị trường Vàng cũng rất khác biệt
so với rủi do liên quan tới các loại tài sản tài chính khác. Do vậy,
đây cũng chính là một nhân tố hấp dẫn khiến cho Vàng luôn có
trong các danh mục đầu tư đa dạng. Giả dụ: Một ngân hàng nào
đó công bố bán một lượng lớn vàng, khi đó chuyện gì sẽ xảy ra
đối với hiệp ước Vàng của các ngân hàng trung ương năm 1999
(The Central Bank Gold Agreement, CBGA 1– 1999 hay còn gọi
là the Washington Agreement on Gold- Do 15 tổ chức nắm giữ
vàng nhiều nhất thế giới ký kết). Năm 2004 có thêm CBGA2-
Được gia hạn thêm từ CBGA1. Các hiệp định này được ký kết
nhằm khống chế lượng vàng bán ra một cách ào ạt như đã từng
xảy ra vào những năm 80 của thế kỷ trước).
Điều này sẽ có những tác động không hay ảnh hưởng tới các
khoản lợi nhuận từ chứng khoán ngoài ra còn gây ảnh hưởng
không tốt tới giá vàng trong ngắn hạn. Tương tự như các nhân tố
rủi ro đến từ trái phiếu và các loại chứng khoán rủi ro của Vàng
cũng sẽ được phơi bày. Ngay cả các áp lực liên quan tới sức
khỏe của nền kinh tế, của chính phủ và kể cả các tập đoàn trong
thời kỳ kinh tế suy giảm, các cổ phiếu liên quan tới vàng cũng
không ngoại lệ.
Một cách thức đo lường rủi ro thị trường đó là xem xét mức độ
biến động, nó cũng dùng để đo lường mức lợi nhuận có thể mất
mát trên cổ phiếu hay chỉ số của thị trường. Tính biến đông thất
thường của thị trường cao thì tài sản đó thường có mức rủi ro
hơn nhiều.
Giá Vàng về cơ bản chúng ít biến động hơn so với giá cả của các
loại hàng hóa khác. Do gốc rễ chắc chắn và tính thanh khoản của
thị trường vàng. Chính điều này có khả năng hỗ trợ to lớn cho
các cổ phiếu liên quan tới vàng. Về cơ bản là vàng hoàn toàn
không thể bị phá hủy. Giống như các sản phẩm Vàng, các khu
mỏ Vàng sẽ luôn tồn tại. Nó cũng gần giống với hình dáng của thị
trường. Điều này có nghĩa nếu bất ngờ có nhu cầu thực sự về
Vàng, chúng có thể dễ dàng được thảo mãn tại thời điểm đó. Một
kết quả tất yếu đó là vàng nói chung thay đổi ít và biến động nhe
hơn so với các giao dịch lớn của các cổ phiếu thượng hạng trên
thị trường FTSE 100 hay S&P 500. Ngoài ra, khi Vàng trở nên
biến động hơn, xu hướng giá sẽ tăng trở lại. Sự đảo ngược thực
sự của chứng khoán đã diễn ra khi đó tính biến động tăng lên
chính là chỉ dẫn áp lực của thị trường. Vì vậy, giá thay đổi khiến
cho Vàng chứa đựng những thông tin khác biệt từ các biến động
cao trong thị trường chứng khoán khi đó nó thường có dấu hiệu
“sụp đổ hay một thị trường đầy lo lắng”.
Cầu Và Cung
Sự lôi cuốn và các tính năng của Vàng ngày càng được biết đến
rộng rãi, bao gồm cả tính đặc trưng được truyền bá như một kênh
đầu tư hữu ích, chính nền móng này tạo ra động lực cung cầu
trong thị trường vàng.
Nhu Cầu
Nhu cầu về vàng phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới từ Đông
Nam Á, lục địa Ấn, tới Trung Đông ước tính chiếm khoảng 70%
lượng cầu trên toàn thế giới năm 2005. 53% nhu cầu được cho là
từ 5 nước như: Ấn Độ, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ và Trung Quốc. Mỗi thị
trường được phân chia theo những nhân tố xã hội kinh tế và văn
hóa khác nhau. Sự gia tăng dân số một cách nhanh chóng và sự
thay đổi trong kinh tế - xã hội khiến cho xuất hiên nhiều nhu cầu
mới về các sản phẩm vàng. Do kinh tế phát triển đặc biệt ở Trung
Quốc và Ấn Độ khiến cho lớp người giàu (trung lưu tăng lên
nhanh chóng –dẫn tới lượng cầu mới về vàng tăng đột biến trong
những năm gần đây.). Lượng cầu này xuất phát từ ba nhân tố
chính: Trang sức, Đầu Tư và Công Nghiệp.
Nhu Cầu Về Trang Sức
Nhu cầu về trang sức chắc chắn chiếm khoản ¾ nhu cầu tiêu thụ
Vàng. Chỉ trong 12 tháng năm 2006 khối lượng tiêu thụ được ước
tính có giá trị khoảng 44 tỷ USD khiến cho nghành trang sức trở
thành nghành thụ hàng hóa có giá trị lớn nhất thế giới. Mỹ là thị
trường trang sức lớn nhất thế giới. Trong khi đó Ấn Độ lại là một
thị trường lớn nhất thế giới về khối lượng mua bán. Ước tính
chiếm khoảng 22% tổng cầu trên thế giới năm 2006.
Nhu cầu vàng của Ấn Độ được khiến khích bởi đặc tính văn hóa
và truyền thống tôn giáo. Điều này không liên quan trực tiếp gì tới
xu hướng chung của nền kinh tế thế giới.
Nhìn chung nhu cầu trang sức được định hướng bởi khả năng chi
trả cũng như mức độ mong muốn của người tiêu dung. Một xu
hướng tăng giá ổn đính đã diễn ra trong suốt những thời gian
qua, giá tăng một cách từ từ dù có lúc giảm trong một số khoảng
thời gian biến động. Giá tăng lên một cách vững chắc làm tăng
thêm giá trị của việc sở hữu vàng trang sức. Chính là một phần
bản chất trong việc mong muốn sở hữu nó. Mức tiêu thụ vàng
trang sức ở các thị trường đang phát triển (mới nổi) đang gia tăng
một cách nhanh chóng trong những năm gần đây sau một thời kỳ
giảm giá kéo dài. Nhiều nước khác, bao gồm cả Trung Quốc vẫn
được xem là một thị trường phát triển rất tiềm năng trong tương
lai về nhu cầu vàng.
Niềm đam mê vàng chính là nguyên nhân sâu xa tạo ra các nhân
tố tác động tới các nhóm phụ nữ khác nhau trên thế giới mua
vàng trang sức. Những dấu hiệu đó ngụ ý cho thấy viễn cảnh về
nhu cầu vàng trang sức là rất lớn.
Nhu Cầu Đầu Tư
Do nhu cầu phân chia danh mục nhu cầu đầu tư được chuyển
sang thị trường tự do. Thật không dễ để có thể đo lường chính
xác. Tuy nhiên, không có sai lầm nào trong việc xác định nhu cầu
đầu tư vàng đang tăng lên một cách nhanh chóng trong những
năm gần đây. Kể từ năm 2003 mức độ đầu tư mạnh mẽ vào vàng
đã gia tăng, tốc độ tăng từng năm khoảng 45% giá trị vào cuối
năm 2006. Sự phát triển này tăng khoảng 300% so với 5 năm
trước. Các khoản đầu tư thuần vào vàng ước tính khoảng 13 tỷ
USD trong năm 2006. Kể từ ba năm qua mức đầu tư vào thị
trường này đã tăng lên rất mạnh do khủng hoảng tài chánh.
Có muôn vàn lý do thúc đẩy người dân cũng như các tổ chức tìm
kiếm phương thức đầu tư vào Vàng. Và rõ ràng, viễn cảnh tăng
giá đã xảy ra. Được nâng đỡ bởi những nhu cầu về kim loại quý
này sẽ tăng mạnh, sẽ tiếp tục vượt xa khả năng cung cấp do đó
cho thấy một lý do căn bản chắc chắn để đầu tư. Những nhân tố
khác cũng dẫn tới nhu cầu đầu tư tăng lên từ một sợi dây chung
đã được xác định: Tất cả gốc rễ của những vấn đề đó chính là
khả năng của Vàng có thể bảo vệ chống lại sự không chắc chắn,
không ổn định và phòng tránh rủi ro hiệu quả.
Đầu tư vào Vàng có rất nhiều cách thức. một số nhà đầu tư có
thể lựa chọn kết nối hai hay nhiều phương thức để có sự linh
hoạt, đa dạng. Sự phân biệt giữa mua Vàng vật chất và lợi ích từ
hướng dịch chuyển của giá Vàng là thường không rõ ràng, đặc
biệt kể từ khi có thể đầu tư vào Vàng thỏi mà hoàn toàn không có
sự giao nhận Vàng vật chất.
Sự gia tăng trong nhu cầu đầu tư đã phản ánh tương ứng với sự
phát triển trong nhiều phương thức đầu tư. Ngày nay có nhiều
phương thức đầu tư đa dạng thích hợp cho cả nhà đầu tư cá
nhân lẫn tổ chức. Có 6 phương thức chính để đầu tư vào Vàng :
1. Mua bán các loại tiền xu hay vàng thỏi
2. Giao dịch Vàng thông qua các hợp đồng quyền lựa chọn,
tương lai, chứng quyền…
3. Tài khoản Vàng (FX – mức giá được kết nối từ ngân hàng nắm
giữ Vàng thỏi)
4. Giấy chứng nhận (từ Fed, Đức, Thụy Sỹ, Úc)
5. Quỹ vàng Đông Phương (đầu tư vào cổ phiếu của các công ty
khai khoáng vàng)
6. Các sản phẩm cấu trúc cơ bản (một dạng hợp đồng giao trước
–forward, có bảo đảm gần giống với hợp đồng tương lai-future)
Nhu Cầu Về Công Nghiệp
Công nghiệp và nha khoa sử dụng một khối lượng ước tính
khoảng 12% trong tổng nhu cầu thị trường, (nhu cầu tiêu thụ
trung bình hàng năm khoảng 400 tấn từ 2002-2006). Chính tính
năng chịu nhiệt, tính dẫn điện cao và khả năng chống mòn của
Vàng khiến hơn nửa nhu cầu công nghiệp tăng lên khi sử dụng
nó trong các thiết bị điện tử. Công dụng của vàng cũng được sử
dụng trong y khoa, có cả những câu chuyện huyền thoại về Vàng
kéo dài cho tới tận ngày nay. Có rất nhiều công thức dược phẩm
sử dụng nó trong những liêu pháp hóa sinh kết hợp. tính năng đề
kháng vi khuẩn xâm nhập, làm đẹp…và nhiều thuộc tính khác
nữa. Các nghiên cứu gần đây đã mở ra cho thấy một số lợi ích
mới từ Vàng, bao gồm các tính năng như chất xúc tác trong các
loại pin năng lượng, tiến trình xử lý, kiểm soát hóa chất ô nhiễm.
Một tính năng tiềm năng khác chính là công nghệ nano của vàng
trong dạng phân tử, tính năng phủ tráng men và chữa trị ung thư
là những điều lý thú trong các nghiên cứu khoa học.
Nguồn Cung
Mỏ Sản Xuất Vàng
Vàng được sản xuất từ mỏ trên rất nhiều châu lục ngoại trừ Nam
Cực, nơi mà việc khai thác mỏ bị cấm. Phạm vi khai thác từ
những mỏ nhỏ xíu cho tới các mỏ khổng lồ. Theo các số liệu gần
đây cho thấy có khoảng trên 400 mỏ vàng trên toàn thế giới được
phát hiện và khai thác. Ngày nay, sản lượng khai thác vàng đã ổn
định và ước tính lượng trung bình hàng năm khoảng 2,550 tấn
trong vòng 5 năm trở lại đây. Các mỏ mới đang được phát triển
nhằm thay thế các mỏ hiện tại, tuy nhiên, cũng không có dấu hiệu
nào cho thấy tổng sản lượng toàn cầu sẽ tăng lên nhiều.
Thời gian để sản xuất vàng là tương đối lâu, với những mỏ vàng
mới thường mất 10 năm để khai thác mới có thể thành dòng, điều
này có nghĩa sản lượng khai thác có tác động rất chậm khó
tương thích và phản ứng nhanh với sự thay đổi nhanh chóng của
giá Vàng. Những lời hứa khích lệ đưa ra để giữ vững giá Vàng
khiến giá tăng trở lại. Kinh nghiệm từ vàng đã cho thấy như vậy
trong nửa thập kỷ qua. Do vậy, thật không dễ hay sẽ nhanh
chóng gia tăng tăng sản lượng Vàng.
Chu Kỳ Quay Vòng -Tái Sinh
Dù sao, các mỏ sản xuất vàng tương đối chậm trễ do vậy chu kỳ
vàng quay vòng (hay còn gọi là Swap) chắc chắn dễ dàng giao
dịch tăng nguồn cung cho các nhu cầu cần thiết nhằm trợ giúp ổn
định giá vàng. Ý nghĩa giá trị kinh tế ổn định của Vàng khiến nó
thường được phục hồi lại phần lớn sau khi đã sử dụng do khả
năng có thể tan chảy, tái phục hồi và tái sử dụng, từ năm 2001 tới
2005 Vàng tái chế đóng góp khoảng 23% nguồn cung hàng năm.
Các Ngân Hàng Trung Ương
Ngân hàng trung ương và các tổ chức bình ổn quốc tế (như quỹ
tiền tệ quốc tế - the International Monetary Fund) gần đây đã nắm
giữ 1/5 lượng Vàng như một tài sản dự trữ ước tính (khoảng
31.000 tấn phân bổ trong khoảng 110 tổ chức). Tính trung bình,
các chính phủ nắm giữ khoảng 10% lượng vàng dự trữ chính
thức, tỷ lệ tương ứng theo từng quốc gia.
Mặc dù đã có một số ngân hàng trung ương đã tăng lượng dự trữ
vàng trong một thập kỷ qua, khu vực này cũng đã như là những
người bán bán ra từ năm 1989, phân bổ trung bình 562 tấn vàng
vào nguồn cung hàng năm từ năm 2001 tới 2005. Từ năm 1999
các tổ chức buôn bán vàng đã ký hiệp định – được gọi là hiệp
ước vàng của các ngân hàng trung ương – Central Bank Gold
Agreement/CBGA (hiệp ước này được ký kết bởi 15 tổ chức nắm
giữ vàng lớn nhất thế giới). Mức tối đa các tổ chức này công bố
bán chỉ 319 tấn trong năm 2006 ít hơn phân nửa 659 tấn, mức kỷ
lục năm 2005. Trong thời gian tới dự kiến sẽ bán thêm khoảng
400 tấn….
Sản Xuất Vàng
Tiến trình sản xuất vàng có thể chia làm 6 giai đoạn chính:
1. Tìm kiếm quặng thô
2. Khai thác quặng thô
3. Chuyển quặng ra khỏi mỏ và Nghiền nát quặng thô
4. Chuyển quặng thô tới nhà máy xử lý
5. Gia công
6. Tinh chế
Tiến trình gia công cơ bản đều diễn ra từ mỏ nằm trong lòng đất
cho tới mỏ lộ thiên.
Nhà máy luyện kim Vàng của thế giới thường nằm gần các khu
trung tâm chính của mỏ Vàng hay ở các trung tâm gia công kim
loại quý nằm rải rác khắp thế giới. Trữ lượng vàng lớn nhất là
nhà máy luyện tinh Rand ở Germinston, Nam Phi. Sản lượng khai
thác lớn nhất thế giới là nhà máy tinh luyện Johnson Matthey ở
Salt Lake City, Mỹ.
Dĩ nhiên là mua Vàng, sau đó bán Vàng ra thị trường, các nhà
máy tinh chế này sẽ được nhận phí từ các chủ mỏ. Sau khi tinh
chế Vàng thành vàng thỏi (có độ tinh khiết 99,5% hoặc cao hơn),
các thỏi Vàng này sẽ được bán cho những người buôn Vàng,
những người này sau đó sẽ bán lại cho các nhà máy sản suất nữ
trang hay những nhà đầu tư. Vai trò của thị trường Vàng thỏi
chính là trung tâm của chu kỳ cung cầu. Đây chính là người trung
gian đóng vai trò hai mặt hợp đồng giữa chủ mỏ và những nhà
sản xuất, tạo dòng chảy dễ dàng kết nối tự do giữa kim loại này
với cơ cấu nòng cốt của thị trường tự do.
Vàng và Lạm Phát
Giá trị như Vàng là một thuật ngữ chỉ chất lượng hàng hóa và
dịch vụ có thể mua, đã duy trì một sự ổn định trong nhiều năm.
Vào năm 1900 giá Vàng có mức giá là $20,67/oz ngang bằng
mức $503/oz quy đổi theo giá hiện tại. Cách đây hai năm, năm
2006 giá trung bình thực tế là $524. Vì vậy, giá trị thực tế của
vàng thay đổi rất ít qua hàng thế kỷ, đặc điểm chung là có thể sự
thay đổi rất ít cùng với sư lặp lại các sự kiện khủng hoảng địa
chính trị. Nhưng mặt khác sức mua của nhiều loại tiền tệ khác lại
giảm rất nhiều.
Đầu tư Vàng có thể cho thấy một sự phát triển thực sự bởi các
ngiên cứu về Vàng cho thấy danh tiếng tốt đẹp của Vàng trong
lịch sử như là một sự bảo vệ sự giàu có chống lại sự tàn phá của
lạm phát. Chu kỳ thị trường có thể tăng hay giảm nhưng các
nghiên cứu rộng rãi từ một loạt nhà kinh tế cho thấy rõ về dài
hạn, trong cả hai thời kỳ lạm phát cũng như giảm phát Vàng vẫn
tiếp duy trì sức mua bán mạnh mẽ.
Trong các hoạt động đầu tư ngắn hạn, kinh nghiệm cho thấy
Vàng có thể đi rất xa khỏi giá trị của nó để bảo vệ chính nó trong
cuộc chiến lạm phát. Và niềm vui thú chính là một sự tăng giá ổn
định như trong trường hợp hiện tại có thể cho thấy những cơ hội
tốt về những khoản lợi tức ấn tượng.