Tải bản đầy đủ (.pdf) (117 trang)

Nghiên cứu về tình hình tuân thủ điều trị tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người tăng huyết áp tại quận bình thủy, thành phố cần thơ năm 2021

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.55 MB, 117 trang )

BỘ Y TẾ
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG CỦA SINH VIÊN

NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH HÌNH TUÂN THỦ
ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ
TÊNĐẾN
ĐỀ TÀI
YẾU TỐ LIÊN QUAN
TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ
CỦA NGƯỜI TĂNG HUYẾT ÁP TẠI QUẬN
BÌNH THỦY, TP.CẦN THƠ NĂM 2021

TRẦN SONG HẬU
TÊN
CHỦ
NHIỆMTẤN
ĐỀ TÀI
TS.BS.
NGUYỄN
ĐẠT
HỌC HÀM /HỌC VỊ - TÊN NGƯỜI HƯỚNG DẪN

Cần Thơ – năm 2022


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ



ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG CỦA SINH VIÊN

NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH HÌNH TUÂN THỦ
ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ
CỦA NGƯỜI TĂNG HUYẾT ÁP TẠI QUẬN
BÌNH THỦY, TP.CẦN THƠ NĂM 2021
20.T.YT.05
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
(chữ ký)

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
(chữ ký)

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(chữ ký)

Chủ nhiệm đề tài: Trần Song Hậu
Tham gia đề tài: Nguyễn Viễn Thông, Thạch Thị Cha Ro Da, Thạch
Ngọc Nữ Thu, Nguyễn Thị Kiều Lan
Cán bộ hướng dẫn: TS.BS Nguyễn Tấn Đạt

Cần Thơ – năm 2022


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình làm nghiên cứu này, nhóm đã gặp nhiều khó khăn
khi tiến hành nghiên cứu. Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của các quý thầy cơ mà
nhóm đã có thể hồn thành nghiên cứu này.

Lời đầu tiên, nhóm nghiên cứu xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến
giảng viên hướng dẫn TS.BS.Nguyễn Tấn Đạt, người đã giúp đỡ và chỉ dẫn
rất nhiều cho nhóm nghiên cứu khi chúng em gặp khó khăn, trắc trở.
Tiếp đến nhóm chúng em cũng xin gửi lời cảm ơn đến nhà trường và các
quý thầy cô ở Khoa Y Tế Công Cộng cũng đã tạo điều kiện và hỗ trợ chúng em
thực hiện đề tài này. Nếu như không có sự giúp đỡ của các thầy cơ thì nghiên
cứu này đã khơng thể hồn thành.
Chúng em xin trân trọng cảm ơn.
Thay mặt nhóm tác giả

Trần Song Hậu


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đề tài “Nghiên cứu về tình hình tuân thủ điều trị
tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người
tăng huyết áp tại Quận bình thủy, TP.Cần Thơ năm 2021” là cơng trình
nghiên cứu riêng của tơi và cộng sự. Các kết quả của nghiên cứu này chưa từng
được công bố ở bất cứ đâu cho đến thời điểm này.
Các số liệu mà chúng tôi thu thập cũng như kết quả nghiên cứu là trung
thực và hoàn tồn khơng có sự sao chép các cơng trình nghiên cứu tương tự có
trước. Tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm nếu phát hiện ra bất kỳ sự sao chép
hay thiếu trung thực nào.
Cần Thơ, ngày

tháng

năm 2022

Chủ nhiệm ký tên


Trần Song Hậu


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
PHẦN 1. TÓM TẮT ĐỀ TÀI
PHẦN 2. TỒN VĂN CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .......................................................... 3
1.1. Tổng quan về tăng huyết áp .................................................................. 3
1.2. Điều trị tăng huyết áp ......................................................................... 11
1.3. Tuân thủ điều trị ................................................................................. 12
1.4. Một số nghiên cứu về tình hình tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các
yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ......................................................... 15
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............. 17
2.1. Đối tượng nghiên cứu ......................................................................... 17
2.2. Phương pháp nghiên cứu .................................................................... 17
2.3. Đạo đức trong nghiên cứu .................................................................. 28
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...................................................... 29
3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ......................................... 29
3.2. Tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp ở Quận Bình Thủy,
thành phố Cần Thơ .................................................................................... 35
3.3. Một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị tăng huyết áp ..... 39
Chương 4. BÀN LUẬN .............................................................................. 46
4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ......................................... 46
4.2. Tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp ở Quận Bình Thủy,

thành phố Cần Thơ năm 2021 ................................................................... 51
4.3. Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp ................ 56


KẾT LUẬN ................................................................................................. 62
KIẾN NGHỊ ................................................................................................ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


PHẦN 1. TÓM TẮT ĐỀ TÀI
1. Đặt vấn đề
Tăng huyết áp (THA) là bệnh lý tim mạch phổ biến và gây ra nhiều biến
chứng ảnh hưởng tới bản thân và là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Hiện nay
việc tuân thủ điều trị (TTĐT) của người THA vẫn còn chưa tốt. Theo Tổ chức
Y tế Thế giới (WHO), không tuân thủ điều trị hoặc tuân thủ kém được xem là
lý do quan trọng dẫn đến việc kiểm soát huyết áp không tốt, đưa đến các biến
chứng, tử vong ở bệnh nhân THA. Theo nghiên cứu của Abegaz, T. M., Shehab
và các cộng sự (2017) phân tích tổng hợp tình hình tuân thủ điều trị THA theo
thang điểm Morisky trên 25 nghiên cứu của 15 quốc gia từ 2009 đến 2016 cho
thấy tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ điều trị là 45,2% [55]. Tại Cần Thơ một số
đề tài nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ TTĐT của người bệnh THA cũng đang
rất đáng báo động, chỉ có 31,3% TTĐT theo nghiên cứu của tác giả Lê Trương
Phúc Thuấn (2017) [47], 45,6% theo tác giả Nguyễn Bá Nam (2018) [33]. Các
nguyên nhân về lối sống, vận động, ăn uống được đưa vào nghiên cứu chứng
minh có liên quan tới nhau. Nhưng ngồi việc tìm được ngun nhân, việc
TTĐT cũng góp phần ổn định, duy trì huyết áp tốt. Vì vậy chúng tơi thực hiện
đề tài: “Nghiên cứu về tình hình TTĐT THA và một số yếu tố liên quan đến
TTĐT của người bệnh THA tại quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ năm 2021” với
các mục tiêu xác định tỷ lệ TTĐT tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan đến

TTĐT ở người bệnh tăng huyết áp tại quận Bình Thủy, Cần Thơ 2021.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Người dân tăng huyết áp từ 30 tuổi trở lên được quản lý tại phường
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mơ tả cắt ngang phân tích
Áp dụng cơng thức tính cỡ mẫu ước tính một tỷ lệ với độ chính xác tuyệt
đối


n  12 /2

p  1  p
d2

Với p là tỷ lệ tuân thủ điều trị của đối tượng từ nghiên cứu của Nguyễn Bá Nam
tại Phong Điền năm 2018 (p=0,465), chúng tối được cỡ mẫu tối thiểu là 265,5.
Thêm 10% hao hụt trong nghiên cứu thì n=292 làm trịn chúng tơi được cỡ mẫu
là 300.
Chọn mẫu theo hình thức chọn mẫu ngẫu nhiên qua hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Chọn ngẫu nhiên 3 trong 8 phường vào nghiên cứu. Qua
bốc thăm ngẫu nhiên chúng tôi chọn được 3 phường gồm phường Long Hòa,
Long Tuyền, Bùi Hữu Nghĩa.
Giai đoạn 2: Xác định danh sách người dân THA theo dõi và điều trị tại
3/8 trạm y tế phường thuộc quận Bình Thủy bằng cách liên hệ với TYT xin
danh sách. Người bệnh THA được quản lý trong mỗi phường được chọn sẽ
được mời tham gia nghiên cứu.
3. Kết quả nghiên cứu
Tỷ lệ tuân thủ điều trị dùng thuốc ở người bệnh THA theo thang điểm
Morisky chiếm 74%. Mức độ tuân thủ điều trị tốt và trung bình chiếm tỷ lệ như

nhau 37%, còn mức độ tuân thủ điều trị tốt kém chiếm 26%. Có 70,3% người
bệnh TTĐT khơng dùng thuốc, nữ giới tuân thủ nhiều hơn nam giới. Người
bệnh TTĐT chung chiếm tỷ lệ 55,3%, nữ TTĐT nhiều hơn nam.
Nhận thấy các yếu tố như nhóm tuổi, trình độ học vấn, dân tộc, mối quan
hệ bệnh nhân với thầy thuốc, chi phí điều trị và tự tìm hiểu về bệnh THA có
mối liên quan với tuân thủ điều trị dùng thuốc; các yếu tố như trình độ học vấn,
giới tính, mối quan hệ bệnh nhân với gia đình có mối liên quan với tn thủ
điều trị khơng dùng thuốc và nhóm tuổi từ 30-69 tuổi, trình độ học vấn, giới
tính, dân tộc, mối quan hệ bệnh nhân với thầy thuốc, chi phí điều trị có mối liên
quan với tn thủ chung.


4. Kết luận
Tỷ lệ tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp chung chiếm 55,3%, tuân thủ
điều trị dùng thuốc chiếm 74% và 70,3% là tuân thủ điều trị không dùng thuốc.
Tuân thủ điều trị dùng thuốc ở mức độ trung bình và kém chiếm tỷ lệ cao, tỷ lệ
này bị ảnh hưởng bởi tuổi, trình độ học vấn và mối quan hệ bệnh nhân với thầy
thuốc. Vì vậy cần nâng cao hơn mối quan hệ bệnh nhân với thầy thuốc để cải
thiện tình trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân.


PHẦN 2. TỒN VĂN CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACTH

Adrenocorticotropic hormone (hormone hướng vỏ thượng
thận)


BHYT

Bảo hiểm y tế

BMI

Chỉ số khối cơ thể

BYT

Bộ Y Tế

ĐTĐ

Đái tháo đường

FAO

Food and Agriculture Organization (Tổ chức Lương thực và
Nông nghiệp Liên Hợp Quốc)

HA

Huyết áp

HATT

Huyết áp tâm thu

HATTr


Huyết áp tâm trương

HIV/AIDS

Hội chứng Suy giảm Miễn dịch Mắc phải

HTL

Hút thuốc lá

KTC

Khoảng tin cậy

RLCH

Rối loạn chuyển hóa

SDRB

Sử dụng rượu bia

THA

Tăng huyết áp

THCS

Trung học cơ sở


THPT

Trung học phổ thông

TP

Thành phố

TS

Tiền sử

TTĐT

Tuân thủ điều trị

TYT

Trạm Y Tế

VĐTL

Vận động thể lực

WHO

World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)

WHR


Tỷ số vịng eo/vịng mơng

YTNC

Yếu tố nguy cơ


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Phân độ tăng huyết áp theo JNC VII (năm 2003) ........................... 4
Bảng 1.2. Phân loại tăng huyết áp tại Việt Nam ............................................. 4
Bảng 3.1. Đặc điểm nhóm tuổi, dân tộc, tính chất nghề nghiệp, tiền sử gia
đình có tăng huyết áp, tình trạng hơn nhân ................................................... 29
Bảng 3.2. Đặc điểm giới tính, kinh tế gia đình, trình độ học vấn .................. 30
Bảng 3.3. Tình hình tham gia và sử dụng BHYT .......................................... 31
Bảng 3.4. Khoảng cách từ nhà đến nơi điều trị ............................................. 31
Bảng 3.5. Đặc điểm về thói quen hút thuốc lá và hút thuốc lá thụ động ........ 31
Bảng 3.6. Tình hình theo dõi cân nặng ......................................................... 32
Bảng 3.7. Lý do không tái khám thường xuyên ............................................ 32
Bảng 3.8. Tình hình huyết áp hiện tại ........................................................... 33
Bảng 3.9. Thời gian, hoàn cảnh phát hiện bệnh ............................................ 33
Bảng 3.10. Phân loại BMI ............................................................................ 34
Bảng 3.11. Số bệnh mạn tính mắc kèm theo ................................................. 34
Bảng 3.12. Mức độ tuân thủ điều trị thuốc hạ áp theo thang điểm Morisky .. 35
Bảng 3.13. Tuân thủ chế độ ăn rau củ trái cây, ăn nhạt, VĐTL, tái khám và
theo dõi huyết dõi huyết áp .......................................................................... 36
Bảng 3.14. Tuân thủ hạn chế uống rượu bia và hút thuốc lá ......................... 37
Bảng 3.15. Tuân thủ điều trị không dùng thuốc ............................................ 37
Bảng 3.16. Một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị dùng thuốc . 39
Bảng 3.17. Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị không dùng thuốc . 41

Bảng 3.18. Một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị chung ......... 42
Bảng 3.19. Tóm tắt các yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị dùng
thuốc, không dùng thuốc, và tuân thủ chung................................................. 44


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Tỉ lệ kiểm soát huyết áp của đối tượng nghiên cứu (n=300) ..... 34
Biểu đồ 3.2. Tuân thủ điều trị dùng thuốc theo Morisky chung .................... 35
Biểu đồ 3.3. Tuân thủ điều trị chung của đối tượng nghiên cứu .................... 38
Biểu đồ 3.4. Số chế độ tuân thủ điều trị của đối tượng ................................. 38


ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là bệnh lý tim mạch phổ biến và nguy hiểm trên
toàn thế giới. Việc điều trị bệnh tăng huyết áp là sự kết hợp điều trị dùng thuốc
và thay đổi lối sống của bệnh nhân nhằm mục tiêu giữ cho chỉ số huyết áp nằm
trong giới hạn bình thường. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), không tuân
thủ điều trị hoặc tuân thủ kém được xem là lý do quan trọng dẫn đến việc kiểm
sốt huyết áp khơng tốt, đưa đến các biến chứng, tử vong ở bệnh nhân tăng
huyết áp. Vì thế, việc tuân thủ điều trị tăng huyết áp là vô cùng quan trọng,
Trung tâm kiểm sốt và phịng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) cho biết, chỉ
trong 10 năm, 10 triệu cơn đau tim và đột quỵ có thể được ngăn chặn trên toàn
thế giới bằng cách điều trị chỉ một nửa số người bị tăng huyết áp khơng kiểm
sốt được. Tuy nhiên theo báo cáo CDC tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp
trên thế giới đạt tỷ lệ tương đối thấp chỉ từ 20-30%. GS.TS Nguyễn Lân Việt,
Chủ tịch Hội tim mạch Việt Nam cho biết, hiện cả nước có tới 25% dân số mắc
bệnh về tim mạch và tăng huyết áp. Đặc biệt, trong những năm gần đây đang
trẻ hóa. Tỷ lệ tăng huyết áp của những người từ 25 tuổi trở lên ở Việt Nam là
47% nhưng nhiều người còn nhiều người thờ ơ, chủ quan với sức khỏe tim
mạch của chính mình [54]. Theo nghiên cứu của Abegaz, T. M., Shehab và các

cộng sự (2017) phân tích tổng hợp tình hình tn thủ điều trị tăng huyết áp theo
thang điểm Morisky trên 25 nghiên cứu của 15 quốc gia từ 2009 đến 2016 cho
thấy tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ điều trị là 45,2% [55]. Các nghiên cứu tại
Việt Nam đã báo cáo về tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp tuân thủ điều trị khác
nhau, một số nghiên cứu khác đã quan tâm kiến thức, thái độ, thực hành tuân
thủ điều trị [13],[17],[41] và các tỷ lệ này còn rất thấp. Tại Cần Thơ một số đề
tài nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị chung của người bệnh tăng
huyết áp cũng rất đáng báo động như Lê Trương Phúc Thuấn (2017) 31,3%,
Nguyễn Bá Nam (2018) 45,6%, Nguyễn Trần Phương Thảo (2019) tỷ lệ tuân
thủ điều trị dùng thuốc chỉ 29,5% [47],[17],[45]. Không tuân thủ điều trị tăng


huyết áp có nhiều lý do, một số nghiên cứu đã chứng minh mối liên hệ giữa
không tuân thủ và niềm tin của bệnh nhân, tình trạng kinh tế xã hội, trình độ
học vấn, dân tộc, thời gian và chi phí điều trị [10],[17]. Tuy nhiên nhiều nghiên
cứu khác thường chỉ tập trung vào xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị dùng thuốc,
chưa chú trọng nhiều đến các yếu tố liên quan và tại quận Bình Thủy thành phố
Cần Thơ chưa có nghiên cứu nào được thực hiện. Để xác định sớm các rào cản
của bệnh nhân, tối ưu hóa điều trị bằng thuốc nhằm hạn chế các hậu quả và góp
phần vào cơng tác xây dựng kế hoạch quản lý, phòng ngừa bệnh tăng huyết áp
ở cộng đồng đạt hiệu quả nên chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu về tình
hình tuân thủ điều trị tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan đến tuân
thủ điều trị của người THA tại quận Bình Thủy, TP.Cần Thơ năm 2021”
với các mục tiêu sau:
Mục tiêu tổng quát
Xác định tình hình tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan trên người
bệnh tăng huyết áp tại quận Bình Thủy, TP Cần Thơ năm 2021.
Mục tiêu cụ thể
Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị tăng huyết áp của người tăng huyết áp tại
quận Bình Thủy, TP Cần Thơ năm 2021.

Xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị trên người bệnh
THA tại quận Bình Thủy, TP Cần Thơ năm 2021.

2


Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về tăng huyết áp
1.1.1. Khái niệm tăng huyết áp
Huyết áp là áp lực máu tác động lên thành mạch nhằm đưa máu đến nuôi
các mô trong cơ thể. Áp lực này do hai yếu tố quyết định: sức đây của cơ tim
và sự đàn hồi của thành mạch. Huyết áp phụ thuộc vào cung lượng tim và sức
cản ngoại biên. Cung lượng tim phụ thuộc vào nhịp tim và thể tích thất trái. Sức
cản ngoại biên là lực chống lại dòng máu, phụ thuộc vào chiều dài động mạch,
bán kính động mạch và độ quánh máu. Tăng huyết áp xảy ra khi có sự tăng
cung lượng tim, hoặc tăng sức cản ngoại biên, hoặc cả 2 cùng gia tăng [24].
Theo Tổ chức Y tế thế giới và Bộ Y Tế Việt Nam, một người trưởng
thành được gọi là THA khi huyết áp tâm thu từ 140 mmHg trở lên và/hoặc
huyết áp tâm trương từ 90 mmHg hoặc đang điều trị bằng thuốc hạ áp hằng
ngày hoặc có ít nhất hai lần khác nhau được bác sĩ chẩn đoán THA. Mỗi lần
khám huyết áp được đo ít nhất 2 lần [4],[7],[47],[68]. Trên bệnh nhân tiểu
đường hoặc bệnh thận, THA khi huyết áp từ 130/80 mmHg [18],[71].
THA được gọi là THA tâm thu đơn độc khi khi HATT có xu hướng tăng
và HATTP bình thường hoặc giảm (tức HATT >140 mmHg và HATTr < 90
mmHg). Giảm sức căng của động mạch là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với
THA đơn độc tâm thu [26]. Độ chênh HA và HATT dự báo nguy cơ và quyết
định điều trị. THA tâm trương đơn độc thường xảy ra ở người trung niên, THA
tâm trương thường được định nghĩa khi chỉ số HATT khơng tăng và HATTr có
xu hướng tăng (tức HATTr > 90 mmHg và HATT < 140mmHg). Một số nghiên

cứu tiền cứu về THA tâm trương đơn độc cho thấy tiên lượng có thể lành tính,
tuy nhiên vấn đề này vẫn còn nhiều tranh luận. Người ta cho rằng bệnh THA
đơn độc tâm trương quan trọng hơn THA đơn độc tâm thu vì HATTr liên quan
chặt chẽ với bệnh mạch vành nhất là người trẻ tuổi.
3


1.1.2 Phân loại tăng huyết áp
Phân loại theo chỉ số huyết áp
Ở trên cùng một người, trị số HA đã có những thay đổi theo giờ trong
ngày, xu hướng cao vào buổi sáng và thấp vào ban đêm, theo phản ứng của cơ
thể lúc ngủ, khi có stress, sau khi ăn no. Ngồi ra, HA cịn thay đổi theo giới
tính, chủng tộc, tuổi. Có nhiều cách phân loại THA [24].
Bảng 1.1. Phân độ tăng huyết áp theo JNC VII (năm 2003)
Phân loại

HA tâm trương

HA tâm thu
(mmHg)

(mmHg)

Bình thường

< 120



Tiền tăng huyết áp


120-139

hoặc

80-89

Tăng huyết áp độ 1

140-159

hoặc

90-99

Tăng huyết áp độ 2

> 160

hoặc

> 100

<80

Nguồn: Tổ chức Y Tế Thế Giới-2003[67]
Cách phân độ THA tại Việt Nam: Xuất phát từ cách phân độ THA của
WHO/ISH và JNC, Hội Tim mạch Việt Nam đã đưa ra cách phân độ như sau:
Bảng 1.2. Phân loại tăng huyết áp tại Việt Nam
Huyết áp (mmHg)


Phân loại

Tâm trương

Tâm thu

HA tối ưu

< 120

< 80

HA bình thường

120-129

80-84

HA bình thường cao

130-139

85-89

THA độ 1 (nhẹ)

140-159

90-99


THA độ 2 (trung bình)

160-179

100-109

THA độ 3 (nặng)

≥180

≥110

THA tâm thu đơn độc

≥ 140

< 90

Nguồn: Bộ Y Tế Việt Nam [4].

4


Nếu HATT và HATTr khơng cùng mức phân độ thì chọn mức cao hơn
để xếp loại. THA tâm thu đơn độc cũng được phân độ theo các mức độ biến
động của huyết áp tâm thu [4].
Phân loại tăng huyết áp theo nguyên nhân
Tùy theo nguyên nhân có thể chia ra: THA thứ phát và THA nguyên
phát. Ở trẻ em và những người trẻ, phần lớn là THA thứ phát. Ở người cao tuổi,

phần lớn là THA nguyên phát [30].
Tăng huyết áp nguyên phát
THA nguyên phát (vô căn) chiếm 90-95%, là dạng khơng tìm được tên
nhân cụ thể gây nên tình trạng THA [19]. Do khơng tìm được ngun nhân nên
việc điều trị chỉ là điều trị triệu chứng và người bệnh phải uống thuốc trong một
thời gian dài. Bệnh có thể do sự tương tác giữa yếu tố di truyền và mơi trường
như gia tăng hoạt tính giao cảm có thể do stress tâm lý xã hội, ăn mặn, béo phì,
uống rượu, stress, tuổi, giới, chủng tộc, thuốc lá, bất dung nạp glucose [12],[48].
Tăng huyết áp thứ phát
Tăng huyết áp có thể gây ra do một bệnh khác, gọi là THA triệu chứng
hay THA thứ phát và nó chiếm khoảng 5-10% trong tổng số người bệnh THA
[12],[19]. Điểm quan trọng của THA thứ phát là có thể điều trị khỏi khi chúng
ta giải quyết được nguyên nhân gốc rễ gây ra tình trạng THA. Vì vậy, cần tìm
ra nguyên nhân chính xác gây nên tình trạng THA thật kĩ trước khi cho rằng đó
là ngun phát. Các ngun nhân chính của THA thứ phát bao gồm: bệnh thận
(viêm cầu thận cấp hay mạn, thận đa nang, u thận, hẹp động mạch thận,...);
bệnh nội tiết (hội chúng Conn, Cushing, u tủy thượng thận,...); bệnh tim mạch
(hẹp eo động mạch chủ, hở van động mạch chủ,...); do thuốc (corticoid, ACTH,
chống trầm cảm vòng,...); nguyên nhân khác (ngộ độc thai nghén, bệnh cường
giáp, tăng áp lực nội sọ,...) [3],[12],[48].
1.1.3 Các yếu tố nguy cơ đến tăng huyết áp nguyên phát
1.1.3.1 Những yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh được
5


Ăn mặn
Người thường hay ăn mặn, có nhiều chất muối Natri Clorua thì nguy cơ
mắc bệnh THA càng cao. Người dân ở vùng ven biển có tỷ lệ THA cao hơn so
với người dân ở vùng đồng bằng và miền núi. Trong một khảo sát gần đây cho
biết lượng muối trung bình mỗi người Việt Nam tiêu thụ từ 18-22g/ngày, tức

gấp 3-4 lần so với khuyến cáo [5]. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh nếu thực
hiện chế độ ăn < 6 gam muối mỗi ngày có thể làm giảm được HA từ 4 đến 8
mmHg [20],[62].
Hút thuốc lá, thuốc lào
Trong thuốc lá, thuốc lào có nhiều chất kích thích, đặc biệt có chất Nicotin kích
thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch và gây THA. Nhiều shiên cứu ghi
nhận khi người hút một điếu thuốc lá có thể làm THA tối đa, còn gọi là HATT
lên tới 11 mmHg và huyết áp tối thiểu, còn gọi là HATTr lên tới 9 mmHg và
kéo dài trong khoảng thời gian từ 20 đến 30 phút [15],[20]. Vì vậy, nếu trong
sinh hoạt hàng ngày không hút thuốc lá cũng là một biện pháp phòng bệnh THA
[9]. Bên cạnh gánh nặng về bệnh tật và tử vong, hút thuốc còn tạo ra gánh nặng
về tài chính. Thuốc lá đã làm phát sinh chi phí khổng lồ để điều trị những ca
bệnh do hút thuốc lá gây ra. Theo khảo sát của Phạm Thị Tâm, Lê Minh Hữu
và cộng sự tại thành phố Cần Thơ năm 2011, tỷ lệ nam giới hiện đang hút thuốc
lá là 51,4%, có 13,2% đã bỏ thuốc lá, tuổi thường gặp nhiều nhất là 15-24 tuổi
23% [34].
Phần lớn lượng khói thuốc thốt ra khơng được hít vào bởi người hút.
Dịng khói phụ từ đầu điếu thuốc lá đang cháy tỏa ra ngồi trộn với khói chính
người hút thuốc lá nhả ra thành “khói thuốc lá tỏa ra mơi trường” hay cịn gọi
là “khói thuốc lá thụ động” và hành động hít phải khói thuốc gọi là hút thuốc
lá thụ động”. Người hút thuốc lá thụ động làm tăng nguy cơ tim mạch 30% so
với người không tiếp xúc. Trong số đó, hút thuốc thụ động ở cơng sở cũng làm

6


tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch đến 4 lần và nếu ở gia đình thì cịn làm tăng
lên nhiều nữa [8],[9].
Đái tháo đường và kháng insulin
Ở những người bị đái tháo đường, tỷ lệ bị bệnh THA cao gấp đôi so với

người không bị đái tháo đường. Khi người bệnh có cả bệnh THA và đái tháo
đường sẽ làm tăng gấp đôi biến chứng ở các mạch máu lớn và nhỏ, làm tăng
nguy cơ tử vong so với người bệnh THA đơn thuần. Vì vậy khi bị đái tháo
đường, cần phải điều trị tốt bệnh này để góp phần khống chế được bệnh THA
kèm theo [15]. Đái tháo đường và đề kháng insulin làm tăng nguy cơ THA, rối
loạn lipid máu, tăng lắng đọng cholesterol vào mạng xơ vữa động mạch. Việc
điều trị và khống chế tốt đường huyết sẽ làm giảm đáng kể nguy cơ bệnh tim
mạch [27].
Rối loạn mỡ máu
Nồng độ chất cholesterol trong máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quá
trình xơ vữa động mạch, dần làm hẹp lòng các động mạch cung cấp máu cho
tim và các cơ quan khác trong cơ thể [21]. Động mạch bị xơ vữa sẽ kém đàn
hồi và đây cũng chính là yếu tố làm THA. Vì vậy, cần ăn chế độ giảm lipid máu
sẽ giúp phòng bệnh tim mạch trong đó có THA [39],[58].
Uống bia, rượu
Người uống nhiều bia, rượu quá mức cũng là yếu tố nguy cơ gây bệnh
tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng. Đối với những người phải dùng
thuốc để điều trị THA, việc uống bia, rượu quá mức hoặc người bị nghiện rượu
sẽ làm mất tác dụng của thuốc hạ huyết áp. Như vậy làm cho bệnh THA càng
nặng hơn. Ngoài ra, việc uống bia, rượu quá mức còn gây bệnh xơ gan và các
tổn thương thần kinh nặng nề khác. Từ đó gián tiếp làm THA. Vì vậy, khơng
nên uống nhiều bia, rượu q mức thì có thể phịng được bệnh THA [4],[39].
Theo công bố kết quả điều tra quốc gia yếu tố nguy cơ bệnh khơng lây năm
2015 có 44,2% nam giới uống bia ở mức nguy hại [11]. Theo nghiên cứu của
7


Bùi Văn Tân và cộng sự có 40% nam giới sử dụng rượu bia ở mức nguy hại
[74].
Lý tưởng nhất vẫn là không uống rượu bia; nếu đã uống chỉ giữ ở mức

không quá 2 đơn vị rượu/ngày hoặc 14 đơn vị/tuần đối với nam giới và không
quá 1 đơn vị rượu/ngày và 7 đơn vị/tuần đối với nữ giới [5],[11],[38]. Nếu uống
nhiều hơn sẽ tạo yếu tố nguy cơ mắc nhiều bệnh nói chung và bệnh THA nói
riêng.
Ít vận động thể lực
Người ít vận động thể lực hay có lối sống tĩnh tại cũng được xem là một
nguy cơ của bệnh THA. Việc vận động thể lực hàng ngày đều đặn trong khoảng
thời gian từ 30 đến 45 phút sẽ mang lại lợi ích rõ rệt trong biện pháp làm giảm
nguy cơ bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng [39].
Thừa cân, béo phì
Trọng lượng của cơ thể con người có mối quan hệ khá tương đồng với
bệnh THA. Người béo phì hoặc người có tăng trọng lượng cơ thể theo tuổi cũng
có thể làm tăng nhanh HA. Vì vậy, chế độ làm việc, ăn uống hợp lý hạn chế
năng lượng và dầu mỡ, tăng cường rau xanh và trái cây cũng như luyện tập thể
dục, thể thao thường xuyên sẽ tránh được dư thừa trọng lượng cơ thể [39],[61].
Khi cơ thể giảm 10 kg, huyết áp có thể giảm từ 5-10 mmHg [75].
Đánh giá và phân loại BMI theo WHO, một người được gọi là gầy khi
chỉ số BMI <18,5; bình thường khi BMI nằm trong khoảng 18,5 - 24,9; thừa
cân khi BMI > 25 và béo phì khi BMI > 30 [37],[56]. Đánh giá và phân loại
dành cho người châu Á theo IDI và WPRO một người được đánh giá là gầy khi
BMI < 18,5; bình thường: 18,5 – 22,9; thừa cân: 23; tiền béo phì: 23 – 24,9;
béo phì độ I: 25 – 29,9; béo phì độ II: ≥30 [37].
Căng thẳng, lo âu quá mức và trầm cảm
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh được những người bị căng thẳng thần
kinh, lo âu quá mức hay bị stress sẽ làm tăng nhịp tim. Vì vậy, mỗi người cần
8


rèn luyện cho mình tính tự lập, kiên nhẫn và luôn biết làm chủ bản thân trước
mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống. Nếu thực hiện được vấn đề này thì có thể

hạn chế tối đa những căng thẳng, lo âu, stress xảy ra đối với mình, đồng thời
đây cũng chính là một biện pháp phịng bệnh THA [39].
Theo Kohn R, rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi là 5,6% [54]. Mối liên
hệ giữa trầm cảm và bệnh lý tim mạch được bàn đến rất sớm trong y học hiện
đại. Theo các nghiên cứu này tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhân tim mạch chiếm
khoảng 20% - 35% [74]. Những người mắc bệnh mạn tính phải đối mặt với cơ trầm cảm cao hơn từ 25%-33% so với những người khơng có bệnh mạn tính.
Bất kì tình trạng bệnh mạn tính nào cũng có thể gây nên bệnh trầm cảm, nó là
nguy cơ làm gia tăng mức độ nghiêm trọng của bệnh và làm đảo lộn cuộc sống
của người bệnh [36]. Cơ chế bệnh sinh giữa trầm cảm và bệnh tim mạch nói
chung và THA nói riêng được cho là có mối liên hệ 2 chiều (bidirectional
relationship) về mặt hóa sinh, hormon - thần kinh. Người ta thấy rằng những
bệnh nhân tim mạch nguy cơ cao sẽ dễ mắc bệnh trầm cảm hơn nhóm cịn lại
và ngược lại trầm cảm lại là yếu tố nguy cơ đối với bệnh tim mạch. Trầm cảm
là một đóng góp đáng kể cho gánh nặng bệnh tật tồn cầu, ước tính trầm cảm
ảnh hưởng đến 350 triệu người trên thế giới và sẽ chiếm 5,7% gánh nặng bệnh
tật toàn cầu vào năm 2020 và trở thành bệnh đúng thứ hai sau bệnh thiếu máu
cục bộ cơ tim [60]. Tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhân tim mạch có khác nhau theo
vài nghiên cứu nhưng hầu hết những thống kê cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm biểu
hiện ở mức độ triệu chứng và trầm cảm thực sự chiếm tỷ lệ từ 15-30% [60]. Tại
Việt Nam, theo nghiên cứu của Lý Thị Phương Hoa (2010), tỷ lệ trầm cảm ở
người bệnh THA là 26,5% [19].
Các yếu tố khác
Chế độ khẩu phần ăn đủ lượng rau quả sẽ tốt cho huyết áp. Những người
ăn ít rau quả sẽ có tỷ lệ THA cao hơn. Trên toàn thế giới khoảng 1,7 triệu (2,8%)
ca tử vong là do ít ăn trái cây và rau củ. Ăn ít hoa quả là một trong số 10 yếu tố
9


nguy cơ hàng đầu gây tử vong toàn cầu. Chế độ ăn nhiều rau và hoa quả đảm
bảo một lượng đầy đủ nhất dinh dưỡng, các vi chất, chất xơ cần thiết. Báo cáo

WHO/FAO gần đây về chế độ ăn sống, dinh dưỡng và phịng ngừa các bệnh
mạn tính, đặt ra mục tiêu dinh dưỡng khuyến cáo dân số ăn ít nhất 400g trái cây
và rau quả mỗi ngày để phịng ngừa các bệnh mạn tính [39],[65].
1.1.3.2. Những yếu tố nguy cơ khơng thể điều chỉnh được
Tiền sử gia đình có người bị tăng huyết áp
Theo thống kê của nhiều nhà khoa học qua kết quả nghiên cứu ghi nhận
bệnh THA có thể có yếu tố di truyền. Trong một gia đình, nếu có ơng, bà, cha,
mẹ bị bệnh THA thì con cái có nguy cơ mắc bệnh này nhiều hơn. Một số nghiên
cứu cho rằng vai trò của di truyền chi phối khoảng 30-40% THA, vai trò của di
truyền thấy rõ khi theo dõi HA của các cặp song sinh cùng trứng so sánh với
các cặp song sinh khác trứng. Do đó, những người mà tiền sử gia đình có người
thân bị bệnh THA thì cần phải cố gắng loại bỏ các yếu tố nguy cơ THA, như
vậy mới có khả năng phịng tránh được bệnh THA [15].
Tuổi và giới tính
Tuổi càng cao thì tỷ lệ THA càng nhiều do thành động mạch bị lão hóa
và xơ vữa, giảm tính đàn hồi, trở nên cứng hơn, làm cho huyết áp tối đa hay
HATT tăng cao hơn, gọi là THA tâm thu đơn thuần [15],[23]. THA thường xảy
ra ở người trên 35 tuổi. Nam giới thường bắt đầu bị THA từ 35-50 tuổi, do tiếp
xúc với nhiều yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, sử dụng rượu bia quá mức. Nữ
giới thường bắt đầu THA sau tuổi mạn kinh do sự suy giảm nội tiết tố sinh dục
là tăng nguy cơ béo phì và xơ vữa động mạch [23],[27],[70].
1.1.4. Biến chứng của tăng huyết áp.
Đại đa số các người bệnh THA (trên 90%) thường khơng có các dấu hiệu
nào cảnh báo trước. Cách duy nhất để biết mình bị THA là đo huyết áp [68].
Biến chứng của THA không chỉ phụ thuộc vào mức độ THA mà còn phụ thuộc
vào sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ tim mạch, thời gian mắc bệnh và chế
10


độ điều trị, gồm hai dạng cấp và mạn [1]. Bốn biến chứng chính của bệnh THA

là ở tim, thận, não và mắt [2],[12],[26],[44]. Nhiều bệnh nhân chỉ được chẩn
đoán khi có biến chứng ở một trong các cơ quan này [48].
1.2. Điều trị tăng huyết áp
1.2.1. Nguyên tắc chung
THA là bệnh mạn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đủ hàng
ngày, lâu dài. Mục tiêu điều trị là đạt “huyết áp mục tiêu và giảm tối đa “nguy
cơ tim mạch”. “Huyết áp mục tiêu” cần đạt là < 140/90 mmHg và thấp hơn nữa
nếu người bệnh vẫn cịn dung nạp được. Việc điều trị cần tích cực hơn ở những
bệnh nhân đã có tổn thương cơ quan đích. Bên cạnh đó, khơng nên hạ huyết áp
q nhanh để tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan đích, từ tình huống cấp
cứu [12],[43],[47],[63].
1.2.2. Điều trị dùng thuốc
Đối tượng THA độ I trở lên theo JNC VII có thể dùng đơn độc một thuốc
hoặc phối hợp từ 2 thuốc trở lên, 5 nhóm thuốc được dùng để điều trị THA là:
Lợi tiểu; Chẹn β; Ức chế canxi; Ức chế men chuyển; Ức chế thụ thể angiotensin
II; Phối hợp điều trị thuốc với điều trị không dùng thuốc cho hiệu quả cao hơn
[63].
1.2.3. Điều trị không dùng thuốc
Bên cạnh việc dùng thuốc điều trị, người ta ngày càng quan tâm hơn đến
liệu pháp điều trị không dùng thuốc. Các biện pháp thay đổi lối sống như: chế
độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng: việc hạn chế tuyệt đối
muối Natri trong thức ăn là điều khơng thể thực hiện được. Do đó, giảm ăn mặn
(< 6 gam muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày), hạn chế sử dụng các thức ăn
chế biến sẵn (thực phẩm đóng hộp, cá hoặc thịt khô, mắm) [38]. Tăng cường
rau xanh, hoa quả tươi, hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axít béo no.
Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ
thể (BMI) từ 18,5 đến 22,9 kg/m2 [61]. Cố gắng duy trì vịng bụng dưới 90 cm
11



ở nam và dưới 80 cm ở nữ. Hạn chế uống rượu, bia: số lượng ít hơn 3 ly
chuẩn/ngày (nam), ít hơn 2 ly chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 ly
chuẩn/tuần (nam), ít hơn 9 ly chuẩn/tuần (nữ). Một ly chuẩn chứa 10g ethanol
tương đương với 330ml bia hoặc 120ml rượu vang, hoặc 30ml rượu mạnh [52].
Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá là một biện pháp hữu hiệu và ít tốn kém nhất
để giảm các yếu tố nguy cơ tim mạch nói chung và THA nói riêng [9]. Mỗi
ngày nên tập luyện thể lực ít nhất 30 phút. Sự tập luyện như vậy sẽ giảm được
huyết áp từ 4-9 mmHg. Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh cần chú ý đến việc
thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý. Tránh bị lạnh đột ngột [24].
1.3. Tuân thủ điều trị
Theo Tổ chức Y tế thế giới “Tuân thủ là mức độ mà bệnh nhân thực hiện
theo các hướng dẫn được đưa ra cho phương pháp điều trị [10],[76]. Theo
Ranial và Morisky cũng đưa ra định nghĩa về tuân thủ điều trị thuốc như sau:
“Tuân thủ là mức độ hành vi của bệnh nhân đối với việc uống thuốc, theo đuổi
chế độ kiêng ăn và/hoặc thay đổi lối sống tương ứng với khuyến cáo của nhân
viên y tế [61]. Việc TTĐT bao gồm TTĐT không dùng thuốc và tuân thủ dùng
thuốc hạ áp theo chỉ định của bác sỹ là một yếu tố được cơng nhận rõ ràng góp
phần kiểm sốt tăng huyết áp [33].
1.3.1. Tuân thủ điều trị dùng thuốc
Theo JNC, tuân thủ điều trị thuốc là việc thực hiện đúng loại thuốc, liều
lượng và thời gian uống theo đơn bác sỹ. Các nghiên cứu đã khẳng định việc
dùng thuốc đều đặn vẫn là yếu tố quyết định nhằm duy trì mức huyết áp của
bệnh nhân trong giới hạn cho phép làm giảm nguy cơ tai biến và đột quỵ.
Có nhiều phương pháp đánh giá về TTĐT đối với bệnh khơng truyền
nhiễm trong đó có THA. Các phương pháp đo lường tuân thủ có thể được chia
thành các phương pháp trực tiếp và gián tiếp
+ Phương pháp đo lường trực tiếp:

12



×