Tải bản đầy đủ (.pdf) (24 trang)

Định kiến giới đối với cán bộ nữ lãnh đạo cấp cơ sở

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (197.92 KB, 24 trang )



1

Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài

Định kiến (ĐK) phản ánh đời sống tâm lý phức tạp trong mối quan hệ
ứng xử và giao tiếp của con ngời. Sự xuất hiện của ĐK sẽ làm tăng thêm mối
quan hệ không thân thiện giữa các cá nhân, giữa các nhóm với nhau. Là một
dạng của ĐK, định kiến giới (ĐKG) tồn tại dai dẳng trong xã hội hiện nay.
Thực tế ở Việt Nam, do ảnh hởng của ĐKG, khoảng cách giới vẫn
tồn tại trong đời sống xã hội. Trong hầu hết các ngành, các cấp (đặc biệt là cấp
cơ sở - xã, phờng, thị trấn), tỷ lệ nữ cán bộ lãnh đạo còn thấp, cha tơng
xứng với tiềm năng và đóng góp của phụ nữ.
Đến nay, ở Việt Nam cha có công trình nào đi sâu nghiên cứu về
ĐKG đối với cán bộ nữ cũng nh ĐKG đối với cán bộ nữ lãnh đạo cấp cơ sở
(CBNLĐCCS). Vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá thực trạng đề từ đó đề xuất
giải pháp hạn chế, giảm thiểu ĐKG đối với CBNLĐCCS là cần thiết và cấp
bách trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận án nhằm làm rõ ĐKG đối với
phẩm chất (PC) và năng lực (NL) của CBNLĐCCS. Đồng thời, dựa trên những
kết quả nghiên cứu cụ thể đề xuất một số biện pháp tác động tâm lý hạn chế và
giảm thiểu ĐKG đối với đội ngũ CBNLĐCCS.
3. Đối tợng nghiên cứu
ĐKG đối với PC và NL của CBNLĐCCS.
4. Khách thể nghiên cứu
Tổng số khách thể tham gia vào khảo sát là 575 ngời, trong đó gồm:
10 chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý học và những lĩnh vực có liên quan đến
cán bộ lãnh đạo; 152 cán bộ lãnh đạo cấp quận/huyện; 213 cán bộ lãnh đạo


cấp cơ sở (102 nữ); 200 ngời dân.
5. Giả thuyết khoa học
5.1 Hiện nay vẫn tồn tại những ĐKG đối với PC, NL của CBNLĐCCS
trong đó ĐK về NL của CBNLĐCCS cao hơn ĐK về PC.
5.2 ĐKG đối với PC, NL của CBNLĐCCS chịu ảnh hởng của nhiều
yếu tố trong đó đặc trng văn hoá truyền thống và thực tế sự phân công công


2

việc tại cơ quan có tác động nhiều nhất tới mức độ định kiến giới tại địa bàn
nghiên cứu.
5.3 Tập huấn nâng cao nhận thức của khách thể về giới, ĐKG và vị trí,
vai trò của ngời phụ nữ có thể hạn chế và giảm thiểu ĐKG đối với PC và NL
của CBNLĐCCS.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu ĐKG đối với CBNLĐCCS, cụ
thể nh tổng quan vấn đề, xây dựng các khái niệm làm việc nh giới, ĐK,
ĐKG và ĐKG đối với CBNLĐCCS.
6.2 Làm rõ thực trạng ĐKG về PC và NL đối với CBNLĐCCS; xác
định một số nhân tố chủ quan, khách quan ảnh hởng đến ĐKG đối với PC,
NL của CBNLĐCCS và mối tơng quan giữa chúng.
6.3 Đề xuất và thực nghiệm tính khả thi của biện pháp nâng cao nhận
thức về giới và về vị trí, vai trò của phụ nữ để giảm thiểu, hạn chế ĐKG đối với
CBNLĐCCS.
7. Giới hạn nghiên cứu
7.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu biểu hiện ĐKG về PC và NL đối với CBNLĐCCS.
- Đánh giá thực trạng và một số nhân tố tác động chủ quan và khách quan đến
ĐKG đối với PC và NL của CBNLĐCCS.

7.2 Giới hạn địa điểm nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
- Giới hạn địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu đợc tiến hành tại: Huyện miền
núi Đại Từ - Thái Nguyên; Huyện đồng bằng Phù Cừ - Hng Yên; Quận Đống
Đa - thành phố Hà Nội.
- Giới hạn khách thể nghiên cứu: Cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở gồm chủ tịch và phó
chủ tịch Hội đồng nhân dân; chủ tịch và phó chủ tịch ủy ban nhân dân; bí th và
phó bí th Đảng ủy; chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban Mặt trận tổ quốc, Hội Liên
hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và bí th, phó bí th Đoàn Thanh
niên cộng sản cấp xã/phờng/thị trấn
8. Phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu
8.1. Phơng pháp luận:
- Nguyên tắc quyết định luận: Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội - các hệ
thống cấu trúc xã hội quyết định ĐKG.


3

- Nguyên tắc thống nhất giữa tâm lý, ý thức và hoạt động: ĐKG đợc hình
thành từ thực tiễn hoạt động của CBNLĐCCS và khi đã đợc hình thành, nó có
ảnh hởng đến hoạt động của họ.
- Nguyên tắc thống nhất giữa cá nhân và x hội: ĐKG của cá nhân bao giờ
cũng gắn với những quan điểm, t tởng đang thịnh hành trong xã hội.
- Quan điểm giới: Nhìn nguyên nhân, bản chất ĐKG và các giải pháp tác
động trong quan hệ với đặc điểm tâm lý, các mối quan hệ xã hội của
CBNLĐCCS (so sánh với nam giới).
- Quan điểm tiếp cận văn hoá - x hội - lịch sử: Quan điểm này cho thấy,
ĐKG ở các nền văn hoá, điều kiện chính trị kinh tế xã hội và trong các giai đoạn
lịch sử khác nhau là khác nhau.
8.2. Các phơng pháp nghiên cứu cụ thể: nghiên cứu tài liệu, chuyên
gia, điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn bán cấu trúc, tác động thực nghiệm,

nghiên cứu chân dung tâm lý, thống kê toán học.
9. Đóng góp mới của luận án
9.1. Về lý luận:
Về lý luận, đề tài đã tổng quan đợc tình hình nghiên cứu ở trong và
ngoài nớc, đã hệ thống hoá đợc các quan điểm lý luận, đã xây dựng đợc
các khái niệm về ĐK, ĐKG, ĐKG đối với CBNLĐCCS và các yếu tố chủ
quan, khách quan ảnh hởng đến đội ngũ cán bộ xem xét. Những kết quả
nghiên cứu này góp phần làm phong phú thêm một số vấn đề lý luận về ĐKG
và có thể góp phần xây dựng một phân ngành tâm lý học mới: tâm lý học về
giới.
9.2. Về thực tiễn:
Các kết quả nghiên cứu thực tiễn thu đợc đã làm rõ thực trạng ĐKG
đối với PC, NL của CBNLĐCCS đồng thời cũng làm rõ ảnh hởng của các yếu
tố chủ quan, khách quan đến ĐKG đối với CBNLĐCCS. Nghiên cứu đã đề
xuất và chỉ ra đợc tính khả thi của biện pháp nâng cao nhận thức về giới và về
vị trí, vai trò của phụ nữ để hạn chế ĐKG đối với CBNLĐCCS. Những kết quả
thực tiễn này là một tài liệu tham khảo tốt có thể góp phần vào việc xây dựng
các giải pháp, đặc biệt là việc xây dựng nội dung, chơng trình, tài liệu và
phơng pháp bồi dỡng nhằm hạn chế, khắc phục ĐKG cho CBNLĐCCS nói
riêng, cán bộ nữ các cấp, phụ nữ nói chung.


4

Chơng 1. Cơ sở lý luận của nghiên cứu
1.1. Sơ lợc về tình hình nghiên cứu
1.1.1. Sơ lợc tình hình nghiên cứu ĐKG ở ngoài nớc
1.1.1.1. Nghiên cứu ảnh hởng của định kiến giới đến sự tham gia của
phụ nữ trong lĩnh vực lnh đạo - quản lý
Gary N. Powell, Catalyst, Kathryn M.Bartol, Jennifer Solotaroffcho

rằng ĐKG là yếu tố quan trọng ảnh hởng đến tỷ lệ phụ nữ thấp trong lãnh đạo
quản lý, làm giảm cơ hội tiếp cận các vị trí quản lý cấp cao của ngời phụ nữ,
đến sự đánh giá thấp và tiêu cực về vai trò, vị trí, hiệu quả công việc của ngời
nữ lãnh đạo
1.1.1.2. Một số biểu hiện ĐKG với nữ giới trong lĩnh vực lnh đạo,
quản lý.
Các tác giả Margaret W. Matlin, Sabine Sczesny, Sharon S. Brehm đã
chỉ ra biểu hiện ĐKG trong những hình ảnh miêu tả phụ nữ trong lịch sử, triết
học, tôn giáo, biểu hiện ĐKG trong ngôn ngữ và phơng tiện truyền thông;
thông qua tín hiệu phi ngôn ngữ; trong suy nghĩ - nhận thức. Các tác giả khác
(Robert A. Baron và Donn Byrne; Sharon S. Brehm, Saul M. Kassin) đã đa ra
một số hình thức biểu hiện rất tinh vi của ĐKG đối với nữ nh: sự phủ nhận
công trạng thông qua sự quy kết, những tiêu chuẩn kép trong phân biệt giới
tính đối với nam lãnh đạo và nữ lãnh đạo
1.1.1.3. Về lý do, hoàn cảnh xuất hiện và giải pháp hạn chế, khắc
phục ĐK
Xu hớng thứ nhất (tiêu biểu là Hovland và Sears) coi ĐK xuất hiện do
những mâu thuẫn xuyên nhóm trực tiếp: ĐK ra đời từ những cuộc cạnh tranh
giữa các nhóm xã hội (XH) khác nhau về những giá trị và cơ hội.
Xu hớng thứ hai (tiêu biểu là Tajfel, Meindl và Lerner) cho rằng sự
phân loại XH và ảnh hởng của "chúng ta chống lại họ" là nguồn gốc của ĐK.
Xu hớng thứ ba (tiêu biểu là Robert A. Baron và Donn Byrne) quan
niệm rằng nguồn gốc nhận thức của ĐK là khuôn mẫu, là cách mà chúng ta
nghĩ về ngời khác và xử lí thông tin về họ.
1.1.2. Sơ lợc tình hình nghiên cứu về ĐKG ở trong nớc
1.1.2.1. Nghiên cứu biểu hiện ĐKG đối với nữ trong lĩnh vực lnh đạo
quản lý.
Một số tác giả tiêu biểu nh Vũ Dũng, Trần Thị Minh Đức, Trần Thị



5

Vân Anh, Trần Thị Bạch Mai .đã đa ra những bằng chứng về sự tồn tại ĐK
trong việc trả công, tiền thởng đối với phụ nữ; ĐKG còn biểu hiện trong sự
lựa chọn phụ nữ làm quản lý, trong phân công vai trò quản lý đối với họ, trong
đánh giá khả năng của cán bộ nam/nữ và lựa chọn bổ nhiệm cán bộ nữ (nữ giới
thờng đợc chọn làm cấp phó, làm công tác hành chính, và công tác đoàn
thể.)
1.1.2.2. Các yếu tố tạo ra, duy trì ĐKG và biện pháp khắc phục ĐKG
trong bối cảnh Việt Nam
Tác giả Trần Thị Minh Đức và cộng sự xem xét có 4 yếu tố tạo ra và
duy trì ĐKG, đó là: yếu tố sinh học, yếu tố tâm lý, yếu tố giáo dục, yếu tố văn
hoá xã hội. Tác giả Trần Thị Vân Anh chỉ ra nguyên nhân duy trì ĐKG đối với
phụ nữ là do công tác giáo dục về bình đẳng nam nữ còn bị coi nhẹ; do phơng
tiện truyền thông đại chúng, các loại hình nghệ thuật đã có không ít cái nhìn
một chiều, rập khuôn, mang nặng ĐKG với phụ nữ.
Các giải pháp đợc đề cập đến là nâng cao nhận thức, quan tâm giáo
dục bình đẳng giới trong nhà trờng, giáo dục giới cho đối tợng nam giới và
cán bộ lãnh đạo.
1.1.2.3. Nghiên cứu về thực trạng, vị trí, vai trò của cán bộ nữ trong
lĩnh vực lnh đạo quản lý
Theo phân tích thống kê về giới của nhiều tổ chức về tình hình giới ở
Việt Nam cho thấy tỉ lệ nữ tham gia cấp uỷ Đảng còn thấp, đôi khi thực tế đạt
đợc không nh chỉ tiêu đặt ra; trong các cơ quan Quốc hội, phụ nữ thờng có
mặt nhiều ở các Uỷ ban tập trung vào các vấn đề chính trị mềm", tiếng nói và
sự hiện diện của phụ nữ đôi khi vẫn chỉ ở bên "lề"
1.2. Định kiến giới
1.2.1. Khái niệm
1.2.1.1. Giới (gender)
Giới là một phạm trù xã hội chỉ mối tơng quan xã hội (XH) giữa nam

và nữ đợc thể hiện trong nhận thức và hành vi ứng xử XH, đợc xác định dựa
trên hệ thống các quy tắc, kỳ vọng XH trong một bối cảnh văn hoá - XH cụ thể.
1.2.1.2. Định kiến
Định kiến là sự nhìn nhận, phán xét, đánh giá mang tính tiêu cực và
bất hợp lý đợc áp đặt sẵn thành thuộc tính của đối tợng


6

1.2.1.3. Định kiến giới
ĐKG là sự nhìn nhận, phán xét, đánh giá mang tính tiêu cực và bất
hợp lý về những đặc điểm, vị trí, vai trò, PC và NL mà một nhóm ngời áp đặt
thành thuộc tính của phụ nữ hoặc nam giới.
Tính bất hợp lý: do thực tế xã hội thờng thay đổi nhanh hơn quan
niệm của con ngời. Tính áp đặt: do con ngời thờng có xu hớng nhìn nhận
nam giới và nữ giới dựa trên những khuôn mẫu giới có sẵn để đánh giá mọi cá
nhân nh nhau mà không xem xét sự khác biệt của mỗi cá nhân. Tính tiêu cực:
định kiến giới hoàn toàn mang tính tiêu cực khi đem nó để phán xét (phù hợp
hay không phù hợp) về PC, NL của nam giới và phụ nữ.
1.2.2. Lý luận về nguồn gốc hình thành ĐKG.
1.2.2.1. Lý thuyết học tập x hội: lý giải rằng trẻ em học tập những
khuôn mẫu giới và những hành vi liên quan đến giới từ những ngời khác.
1.2.2.2. Thuyết nhận thức: lý giải rằng trẻ em kết hợp một cách tích
cực và chủ động tạo ra những suy nghĩ của chính bản thân về giới.
.2.2.3. Thuyết phân tâm học: lý giải sự tập luyện ĐKG ở trẻ em qua
quá trình nội tâm hoá các mẫu hình của cha hoặc mẹ.
1.2.2.4. Thuyết vai trò x hộ: lý giải rằng rằng con ngời có khuynh
hớng làm thoả mãn đối với những mong đợi gắn giới tính với các vai trò xã
hội.
1.2.2.5. Lý luận về nguồn gốc hình thành định kiến giới trong bối cảnh

văn hóa Việt Nam: Với những đặc thù văn hoá, lịch sử riêng biệt, ở Việt Nam,
ĐKG còn đợc hình thành, củng cố và duy trì bởi nhiều yếu tố trong đó Nho
giáo là một trong những yếu tố quan trọng.
1.3. ĐKG đối với CBNLĐCCS
1.3.1. Cán bộ nữ lnh đạo cấp cơ sở
1.3.1.1. Khái niệm lnh đạo
Lãnh đạo là tạo ra sự thay đổi tích cực bằng cách định hớng, lập kế
hoạch chiến lợc hớng theo mục tiêu lâu dài mà tổ chức cần đạt đến và thúc
đẩy, khuyến khích mọi ngời làm theo.
1.3.1.2. Cán bộ lnh đạo
Cán bộ lãnh đạo là ngời đợc bổ nhiệm hoặc đợc bầu ra để giữ một


7

trọng trách (chức vụ) có quyền hạn và trách nhiệm thực hiện chức năng lãnh
đạo quản lý, quy tụ sức mạnh của tập thể để thực hiện mục tiêu chung.
1.3.1.3. Cán bộ nữ lnh đạo cấp cơ sở
CBNLĐCCS là những phụ nữ đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo trong
hệ thống chính trị ở cơ sở, tức là những cán bộ nữ ở vị trí cấp trởng và cấp
phó của tổ chức Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở
1.3.2. Các khía cạnh biểu hiện của ĐKG đối với PC, NL của CBNLĐCCS.
1.3.2.1. Yêu cầu về PC, NL của ngời lnh đạo
- Yêu cầu về PC của ngời cán bộ lãnh đạo đợc thể hiện cụ thể ở 4 nhóm: PC
chính trị, PC đạo đức, PC ý chí, PC t duy.
- Yêu cầu về NL đối với ngời cán bộ lãnh đạo đợc thể hiện cụ thể ở: NL
chung, NL tổ chức, NL trí tuệ, NL ra quyết định.
1.3.2.2. ĐKG đối với CBNLĐCCS
Trong đề tài này, ĐKG đối với CBNLĐCCS là sự nhìn nhận, phán
xét, đánh giá, mang tính tiêu cực, áp đặt, bất hợp lý về PC, NL trong hoạt

động quản lý lnh đạo của CBNLĐCCS.
1.3.2.3. Các khía cạnh biểu hiện của ĐKG đối với CBNLĐCCS: Các
biểu hiện ĐKG đợc xét theo yêu cầu về PC, NL trong hoạt động quản lý lãnh
đạo của CBNLĐCCS, (chi tiết trong bộ câu hỏi và tài liệu nghiên cứu).
1.3.3. Những nhân tố ảnh hởng đến ĐKG đối với CBNLĐCCS
ĐKG với CBNLĐCCS chịu ảnh hởng của các yếu tố chủ quan và
khách quan.
Các yếu tố chủ quan gồm: quan niệm về giới, ĐKG, nhận thức về vị
trí - vai trò của phụ nữ và sự trải nghiệm cảm xúc (tích cực, tiêu cực) trong
quan hệ giao tiếp với phụ nữ ở mỗi cá nhân.
Các yếu tố khách quan gồm: giáo dục gia đình, giáo dục ở trờng học,
qua mối quan hệ bạn bè, các mối quan hệ (con ngời, phân công công việc) nơi
công sở, truyền thông đại chúng và văn hoá truyền thống.


8

Chơng 2
Tổ chức thực hiện và Phơng pháp nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu lý luận:
Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong và ngoài nớc và hệ thống hoá
một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến các khái niệm về ĐK, ĐKG,
CBNLĐCCS, ĐKG đối với CBNLĐCCS và các yếu tố tác động đến chúng.
Phơng pháp nghiên cứu tài liệu và phơng pháp chuyên gia đã đợc sử dụng.
2.2 Nghiên cứu thực tiễn
2.2.1 Tiến trình thực hiện
2.2.1.1. Giai đoạn 1- Thiết kế bảng hỏi và khảo sát thực tiễn
- Chuẩn bị đề cơng bảng hỏi, thiết kế các thang đo, tiến hành điều tra thử
nhằm xác định độ tin cậy của bảng hỏi.
- Chỉnh sửa, hoàn thiện bảng hỏi.

- Điều tra chính thức.
- Tiến hành phỏng vấn sâu một số trờng hợp để thu thập dữ liệu.
2.2.1.2 Giai đoạn 2- Xử lý dữ liệu và phân tích kết quả thu đợc
Xử lý số liệu và phân tích kết quả thu đợc, đồng thời tiếp tục thực
hiện các cuộc phỏng vấn sâu.
2.2.1.3 Giai đoạn 3: Tiến hành thực nghiệm tác động
Tiến hành thực nghiệm tác động đối với nhóm cán bộ lãnh đạo cấp cơ
sở (nam/nữ) có ĐKG bằng một hệ thống các bài giảng, bài tập đợc thiết kế.
2.2.2 Phơng pháp nghiên cứu
2.2.2.1 Phơng pháp điều tra bảng hỏi:
a) Mục đích: Nhằm khảo sát vấn đề ĐKG đối với PC, NL của
CBNLĐCCS: Thực trạng ĐKG, nguyên nhân gây ra ĐKG, các biện pháp hạn
chế, khắc phục ĐKG.
b) Quá trình thiết kế bảng hỏi: Gồm 2 bớc:
* Bớc 1: Thu thập ý kiến
- Mục đích: hình thành nội dung sơ bộ của bảng hỏi.
- Khách thể nghiên cứu: 10 chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý học và trong
những lĩnh vực có liên quan đến cán bộ lãnh đạo, 15 cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở
v 5 cán bộ lãnh đạo cấp quận/huyện.
- Cách thức tiến hành: Thu thập ý kiến chuyên gia, đối chiếu với nội dung
nghiên cứu lý luận để xác định những vấn đề khảo sát thực tế. Tiến hành khảo
sát thăm dò bằng hệ thống câu hỏi mở. Từ các kết quả thu đợc ở ba nguồn để
xây dựng bảng hỏi chính thức.
* Bớc 2: Khảo sát thử
- Mục đích: xác định độ tin cậy của các thang đo trong bảng hỏi và tiến hành
chỉnh sửa những mệnh đề cha đạt yêu cầu.


9


- Khách thể nghiên cứu: 42 cán bộ lãnh đạo cấp phờng/xã, 10 cán bộ lãnh
đạo cấp quận/huyện và 50 ngời dân.
- Cách thức xử lý số liệu: xử lý số liệu bằng chơng trình SPSS. Với kỹ thuật
thống kê là phân tích độ tin cậy bằng phơng pháp tính hệ số Alpha của
Cronbach, chúng tôi đã có đợc hệ số alpha của từng thang đo hoặc của từng
yếu tố trong mỗi thang đo. Kết quả phân tích cho thấy khoảng 15% các mệnh
đề trong bảng hỏi cần đợc chỉnh sửa. Sau chỉnh sửa, độ tin cậy của các phần
trong bảng hỏi đã tăng lên.
c) Quá trình điều tra chính thức:
- Mục đích: Tìm hiểu quan niệm về giới, ĐKG đối với CBNLĐCCS; Khảo sát
thực trạng ĐKG đối với PC và NL của CBNLĐCCS; Làm rõ nguyên nhân gây
ra ĐKG đối với PC và NL của CBNLĐCCS.
- Khách thể nghiên cứu: Phân bố nh hiển thị ở bảng 2.1.
Bảng 2.1. Đặc điểm khách thể nghiên cứu
Các tiêu chí Số lợng %
Nam 212 49,2 Giới tính
Nữ 203 47,1
Từ 35 trở xuống 129 34,3
36-45 208 55,3

Tuổi
Trên 45 39 10,4
Cấp II 85 22,0
Cấp III 48 12,4
Sơ cấp, trung cấp 93 24,0
Cao đẳng, đại học 148 38,2

Học vấn
Sau đai học 13 3,4
Cánbộ huyện, quận 114 26,5

Cán bộ xã, phờng 150 34,8

Chức vụ
Ngời dân 167 38,7
Đã tham dự 168 45,2 Tập huấn về giới
Cha từng tham dự 204 54,8
Hà Nội 141 32,7
Hng Yên 144 33,4
Tỉnh
Thái Nguyên 146 33,9
- Cách tính toán điểm số: Đánh giá ĐKG dựa vào những câu mệnh đề có tính
nhận định. Mỗi mệnh đề có 4 phơng án trả lời ứng với 4 mức điểm nh sau:
Hoàn toàn không tán thành= 1 điểm, Không tán thành= 2 điểm, Tán
thành= 3 điểm, Hoàn toàn tán thành= 4 điểm. Khi tính điểm cho mỗi thang
đo chúng tôi đã đổi điểm để tất cả các mệnh đề trong từng thang đo đều theo
một chiều nhất định.
- Cách thức xử lý số liệu điều tra: Số liệu điều tra đợc xử lý bằng chơng
trình SPSS. Các thông số và phép toán thống kê đợc sử dụng là phân tích


10

thống kê mô tả (điểm trung bình cộng, độ lệch chuẩn, tần suất và chỉ số phần
trăm) và phân tích thống kê suy luận (phân tích so sánh giá trị trung bình, phân
tích tơng quan nhị biến, phân tích hồi quy tuyến tính).
2.2.2.2 Phơng pháp phỏng vấn sâu:
Mục đích nhằm thu thập, bổ sung, kiểm tra và làm rõ hơn những thông
tin đã thu đợc từ khảo sát thực tiễn trên diện rộng.
Khách thể phỏng vấn gồm 6 cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở (3 nam và 3
nữ); 3 cán bộ lãnh đạo cấp quận/huyện và 3 ngời dân.

2.2.2.3. Phơng pháp thực nghiệm tác động
a, Mục đích: Cung cấp cho các khách thể thuộc nhóm thực nghiệm những tri
thức liên quan đến giới và ĐKG, những kiến thức về cán bộ nữ lãnh đạo làm
tiền đề, đồng thời thông qua các phơng pháp dạy học tích cực tổ chức cho đối
tợng thể nghiệm, rèn luyện để khắc phục những ĐKG về PC và NL đối với
CBNLĐCCS.
b) Giả thuyết: Việc tăng cờng quan niệm đúng đắn về giới, định kiến giới và
nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của phụ nữ sẽ làm giảm mức độ định kiến
giới về phẩm chất và năng lực đối với cán bộ nữ lãnh đạo cấp cơ sở.
c, Khách thể: 20 cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở để tác động tâm lý (nhóm thực
nghiệm) và 20 cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở tham gia vào nhóm đối chứng.
d, Địa điểm thực nghiệm: huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
e, Cơ sở đề xuất các biện pháp tác động tâm lý: Từ kết quả nghiên cứu thực
trạng ĐKG về PC và NL đối với CBNLĐCCS, chúng tôi thấy rằng:
- Những khách thể nào có quan niệm sai lầm về giới, ĐKG thì sẽ có ĐKG đối
với PC và NL của CBNLĐCCS ở mức độ cao.
- Khi các khách thể có cái nhìn nhận thiên lệch về vị trí và vai trò của ngời
phụ nữ trong gia đình và ngoài XH thì mức độ ĐKG đối với PC và NL của các
lãnh đạo nữ cơ sở sẽ tăng.
f) Các biện pháp tác động tâm lý
- Biện pháp 1: Tổ chức học tập trên lớp nhằm tăng cờng tri thức về giới và
ĐKG cho các khách thể nhóm thực nghiệm. Từ đó thiết lập và củng cố những
quan niệm đúng đắn về giới và ĐKG cho nghiệm thể.
- Biện pháp 2: Nâng cao vị thế của ngời phụ nữ ngoài xã hội bằng cách tăng
cờng những hiểu biết về PC, NL, vai trò và hiệu quả công việc của họ trong
các lĩnh vực XH.
g) Tổ chức tiến hành thực nghiệm: gồm 3 giai đoạn: xác định thực trạng ĐKG
về PC và NL của khách thể đối với CBNLĐCCS; thực hiện các biện pháp tác
động tâm lý; lợng giá và kết thúc.



11

Chơng 3
kết quả nghiên cứu
3.1. Thực trạng ĐKG đối với CBNLĐCCS
3.1.1. ĐKG về PC đối với CBNLĐCCS
Kết quả khảo sát thực tiễn những biểu hiện ĐKG về 4 nhóm PC (chính
trị, đạo đức, ý chí và t duy) đối với cán bộ nữ lãnh đạo cấp cơ sở đợc hiển thị
ở biểu đồ 3.1.
Biểu đồ 3.1. ĐKG về PC đối với CBNLĐCCS
Xét về tổng thể, toàn bộ khách thể tham gia khảo sát đều có ĐKG về
PC đối với các cán bộ nữ lãnh đạo cấp cơ sở và ở mức trung bình (ĐTB=2,52).
Trong đó, PC ý chí là PC chịu nhiều ĐK nhất, thứ hai là PC chính trị, thứ ba là
PC đạo đức và ít bị ĐK nhất là PC t duy (ĐTB là 2,58; 2,51; 2,50; và 2,49).
Theo mức độ ĐK, kết quả khảo sát cho thấy, có trên dới ba phần t số
ngời tham gia khảo sát có ĐKG về PC ở mức trung bình, tỷ lệ số ngời có
ĐKG ở mức độ cao và mức độ thấp là tơng đơng nhau (12,8% và 12,7%).
Xét theo các nhóm khách thể, ở cùng một mức độ ĐK trung bình nh
nhau nhng mỗi nhóm khách thể khác nhau lại không có cách nhìn nhận
giống nhau khi đánh giá các PC của CBNLĐCCS.
Các khách thể nam đều có quan điểm mang tính ĐK về cả 4 loại PC
đợc khảo sát và chúng đều nằm ở mức trung bình. Trong đó, phẩm chất ý chí
của CBNLĐCCS là PC đợc các khách thể nam này nhìn nhận sai lệch nhất
(ĐTB = 2,63) và ít bị ĐK nhất là PC đạo đức (ĐTB=2,51).
Các đồng nghiệp nam có ĐK đối với CBNLĐCCS về PC ý chí và PC t
duy cao hơn cán bộ nam cấp trên (với độ chênh lệch về ĐTB là 0,12; 0,04 và
P<0,05). Chỉ có duy nhất ĐKG về PC đạo đức đối với CBNLĐCCS là đợc tất
cả nam khách thể thuộc 3 nhóm (cán bộ lãnh đạo cấp trên, cấp cơ sở và ngời
dân) nhìn nhận ở mức thấp nhất.

2.51
2.5
2.58
2.49
2.44
2.46
2.48
2.5
2.52
2.54
2.56
2.58
2.6
Phẩm chất chính trị Phẩm chất đạo đức Phẩm chất ý chí Phẩm chất t duy
Điểm trung bình


12

Bảng 3.2. ĐKG về PC đối với CBNLĐCCS
xét theo các nhóm khách thể khác nhau (ĐTB)

Cán bộ lnh đạo
cấp trên
Cán bộ lnh
đạo cấp cơ sở

Ngời dân Các nhóm

khách thể

ĐKG về
Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ
1. PC chính trị 2,53 2,49 2,53
2,48
2,52 2,48
2. PC đạo đức 2,51 2,50 2,50
2,47
2,51 2,49
3. PC ý chí 2,55 2,50 2,67
2,51
2,67 2,60
4. PC t duy 2,51 2,34 2,55
2,45
2,58 2,47
Nhóm PC 2,53 2,48 2,56
2,48
2,57 2,51
ĐKG về PC ý chí đối với CBNLĐCCS đều bị các nam khách thể thuộc
3 nhóm cán bộ lãnh đạo cấp trên, lãnh đạo cấp cơ sở và ngời dân nhìn nhận
khắt khe nhất (với ĐTB là 2,55; 2,67 và 2,67). Điều đặc biệt là ĐKG nằm ở
mức độ cao nhất lại cũng thuộc về các đồng nghiệp nam và nhóm ngời dân là
nam giới khi họ đánh giá PC ý chí của CBNLĐCCS (với độ chênh lệch về ĐTB
đều là 0,16 và P< 0,05).
Nh vậy, đối với CBNLĐCCS, ĐKG về PC của cán bộ cấp trên là thấp
nhất (với ĐTB của nhóm nam là 2,53 và nhóm nữ là 2,48) và của ngời dân là
cao nhất (ĐTB của nhóm nam là 2,57 và nhóm nữ là 2,51).
CBNLĐCCS có ĐKG về PC đối với chính bản thân họ và 4 loại ĐKG
đều nằm ở mức trung bình. Trong đó, PC ý chí đợc tự nhìn nhận sai lệch nhất
(ĐTB 2,51) và ít chịu ĐK nhất là PC t duy (ĐTB 2,45). ở các nhóm nữ khách
thể khác nhau, mức độ ĐK đối với CBNLĐCCS tơng tự nh nhau về cả 4 loại

PC. Các biểu hiện ĐKG về cả 4 loại PC đối với CBNLĐCCS đợc chính những
ngời phụ nữ nhìn nhận ở mức độ thấp hơn những khách thể là nam giới (bảng
3.2).
Xét theo tính chất tập huấn, dù ở mức độ nào và xét theo khía cạnh nào
thì tỷ lệ số ngời tham gia tập huấn về giới đều có ĐKG về PC đối với
CBNLĐCCS thấp hơn số ngời cha tham gia.
Theo địa bàn nghiên cứu, kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ ĐKG
về PC đối với CBNLĐCCS ở các nhóm khách thể theo hớng thấp dần từ Thái
Nguyên, Hng Yên và cuối cùng là ở Hà Nội.
Kết quả phân tích tơng quan giữa các mức độ ĐKG đối với PC của
CBNLĐCCS cho thấy cả 4 ĐKG này đều có mối tơng quan tỷ lệ thuận có ý
nghĩa thống kê với P < 0,01, trong đó cặp tơng quan giữa ĐKG về PC ý chí
và ĐKG về PC t duy là chặt chẽ hơn cả (với hệ số r = 0,736).
3.1.2. ĐKG về NL đối với CBNLĐCCS
Biểu đồ 3.6 thể hiện kết quả khảo sát thực tiễn ĐKG về 4 nhóm NL


13

(NL chung, NL tổ chức, NL trí tuệ và NL ra quyết định) đối với CBNLĐCCS.
Biểu đồ 3.6. ĐKG về NL đối với CBNLĐCCS

Nhìn chung, bên cạnh ĐKG về PC, nữ lãnh đạo cấp cơ sở còn phải
chịu ĐKG đối với NL của họ ở mức cao hơn chút ít (ĐTB 2,55 so với 2,52).
Có 1,7% khách thể không có ĐK về NL đối với CBNLĐCCS. Những ngời
tham gia khảo sát có ĐKG đối với CBNLĐCCS về NL chung cao nhất, tiếp
đến là NL ra quyết định, sau đó là NL tổ chức và cuối cùng là NL trí tuệ.
Theo mức độ ĐKG về NL thấy, có trên dới ba phần t số ngời tham
gia khảo sát có ĐKG về NL ở mức trung bình. Khác với ĐKG về PC, tỷ lệ số
ngời có ĐKG về NL hay về mỗi loại NL nói riêng (NL chung, NL ra quyết

định, NL trí tuệ, NL tổ chức) ở mức độ thấp đều ít hơn số ngời có ĐKG về
các NL này ở mức độ cao (11,5% so với 18,2%; 12,1% so với 17,2%; 8,7% so
với 16,7%; 13,0% so với 18,4% và 12,2% so với 20,4%). Nh vậy, với cùng
mức độ cao, tỷ lệ khách thể có ĐK về NL nhiều hơn ĐK về PC.
Sự khác biệt về ĐKG đối với CBNLĐCCS xét theo các nhóm khách
thể khác nhau đợc thể hiện tơng đối rõ trong bảng 3.5.

2.64
2.54
2.47
2.56
2.35
2.4
2.45
2.5
2.55
2.6
2.65
2.7
Năng lực
chung
Năng lực tổ
chức
Năng lực trí
tuệ
Năng lực ra
quyết định
Điểm trung bình



14

Bảng 3.5. ĐKG về NL đối với CBNLĐCCS
xét theo các nhóm khách thể khác nhau (ĐTB)

Cán bộ lnh
đạo cấp trên
Cán bộ lnh
đạo cấp cơ sở

Ngời dân Các nhóm

khách thể

ĐKG về
Nam

Nữ Nam Nữ Nam

Nữ
1. NL chung 2,55

2,65 2,66
2,62

2,77

2,62

2. NL tổ chức 2,46


2,60 2,55
2,49

2,67

2,53

3. NL trí tuệ 2,46

2,41 2,54
2,39

2,54

2,44

4. NL ra quyết định 2,63

2,61 2,60
2,50

2,72

2,54

Nhóm NL 2,53

2,57 2,59
2,50


2,67

2,53


ĐKG về NL tổ chức, NL trí tuệ và NL ra quyết định đều đợc chính
bản thân các cán bộ lãnh đạo nữ nhìn nhận ở mức độ thấp nhất. Một điều đáng
lu ý là, tất cả các khách thể là nữ đều có cái nhìn khắt khe đối với
CBNLĐCCS hơn chính bản thân các nữ lãnh đạo này.
Những khách thể là nam giới thuộc nhóm ngời dân có cái nhìn thiên
lệch nhất khi đánh giá NL của các CBNLĐCCS (ĐTB = 2,67) và tiếp đó là các
cán bộ nam đồng nghiệp (ĐTB = 2,59).
Nghiên cứu ĐK về NL của chính bản thân CBNLĐCCS đối với họ,
trong số 4 NL đợc khảo sát thì CBNLĐCCS có quan điểm mang tính ĐK cao
nhất khi đánh giá về NL chung (ĐTB 2,62) và thấp nhất khi nhìn nhận NL trí
tuệ của mình (ĐTB 2,39).
Các khách thể nam đều có ĐKG về NL đối với CBNLĐCCS và 4 loại
ĐKG về NL đều nằm ở mức trung bình. Trong đó, NL chung là NL đợc nhìn
nhận sai lệch nhất (ĐTB 2,66) khi họ đánh giá NL của các CBNLĐCCS và ít
chịu ĐK nhất là NL trí tuệ (ĐTB 2,51).
Tơng tự với PC, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê xét theo tính
chất tập huấn và địa bàn sinh sống của khách thể. Có thể nói, các buổi tập
huấn phần nào có tác dụng làm giảm ĐK về một số biểu hiện NL cụ thể của
những ngời đã tham dự; mức độ ĐKG tăng dần theo khu vực nếu tính từ miền
núi đến đồng bằng.
Hệ số tơng quan giữa các cặp ĐKG về NL đối với các CBNLĐCCS
cho thấy đây là các cặp yếu tố đồng biến thiên tỷ lệ thuận với nhau từng đôi
một với P < 0,01. Khác với các cặp tơng quan trong các ĐKG về PC, hệ số
tơng quan giữa các cặp ĐKG về NL đều tơng đơng nhau (từ 0,540 đến

0,778).


15

3.1.3. Tiêu chuẩn kép trong đánh giá về phẩm chất và năng lực của nam và
nữ lnh đạo cấp cơ sở
Tiêu chuẩn kép trong đánh giá về PC và NL của nam và nữ lãnh đạo
cấp cơ sở đợc xem xét dới 3 góc độ:
Khi xét theo những đặc điểm mô tả về ngời lnh đạo, cùng một
hành vi hay đặc điểm tính cách nh nhau nhng mức độ tán thành của khách
thể đối với nam hay nữ lãnh đạo là khác nhau. Tất cả các biểu hiện xông xáo
việc cơ quan, thờng nổi nóng, khô khan về tình cảm, thích thể hiện uy
quyền, nhiều tham vọng thăng tiến mức độ chấp nhận của khách thể đối với
nam lãnh đạo đều cao hơn đối với nữ lãnh đạo (3,30 so với 2,99; 2,14 so với
1,90; 2,00 so với 1,81; 2,30 so với 2,03 và 2,89 so với 2,72). Bên cạnh đó,
những đặc điểm đi ngợc với quan niệm, niềm tin, hành vi phổ biến trong xã
hội hiện nay thì hành vi của nam lãnh đạo vẫn đợc dễ dàng chấp nhận hơn nữ
lãnh đạo (nam thích làm việc nội trợ 2,42 so với nữ không biết làm nội trợ
1,75; nam không biết uống bia/rợu 2,16 so với nữ thờng xuyên uống bia
rợu 1,86).
Có sự khác nhau trong quan điểm của khách thể về phụ nữ/nam giới, về
ngời lnh đạo nam/lnh đạo nữ. Với phụ nữ, gia đình đợc đánh giá cao
nhất, sau đó mới đến sự nghiệp. Ngợc lại, đối với nam giới, sự thành đạt
trong sự nghiệp luôn đợc đặt lên hàng đầu, tiếp đến mới là gia đình.
Trong đánh giá về tiềm năng lnh đạo của phụ nữ so với nam giới,
kết quả cho thấy, những PC nào đợc phần lớn khách thể cho là đúng nhất với
nam lãnh đạo lại hoàn toàn trùng khớp với những PC đợc cho là cần thiết nhất
đối với ngời lãnh đạo. Trong khi đó, những PC đợc đánh giá là đúng với nữ
lãnh đạo lại rơi vào số những PC đợc rất ít ngời cho là cần thiết với ngời

lãnh đạo. Nói cách khác, những PC cần phải có của ngời lãnh đạo thì có
nhiều điểm tơng đồng với PC của nam giới hơn là của nữ giới. Có thể khẳng
định đó là biểu hiện của ĐKG theo kiểu nghĩ đến lnh đạo, nghĩ đến nam
giới.
3.2. Một số yếu tố tác động đến ĐKG đối với CBNLĐCCS
3.2.1. Những biểu hiện của một số yếu tố chủ quan và khách quan
3.2.1.1 Những biểu hiện của một số yếu tố chủ quan
Quan niệm về giới và ĐKG
Trên thực tế, nhiều ngời đã đánh đồng những khác biệt giữa nam và
nữ về vai trò giới với những khác biệt về mặt sinh học (16,7% - hoàn toàn
đúng và 38,3% - phần lớn là đúng). Số ngời có quan niệm không đúng về
ĐKG chiếm tỷ lệ phần trăm không nhỏ trong những ngời đợc hỏi. Mức độ
nhận thức đúng về giới và ĐKG của những ngời đã từng tham gia cao hơn
những ngời cha tham gia tập huấn về giới.


16

Nhận thức về vị trí, vai trò của phụ nữ
Số ngời có cách nhìn nhận đúng đắn nhiều hơn những ngời có cái
nhìn mang tính ĐKG về vị trí, vai trò của phụ nữ (ĐTB 2,35). Không có sự
khác biệt trong nhận thức về vị trí và vai trò của phụ nữ giữa các nhóm khách
thể.
Trạng thái xúc cảm của khách thể trong quan hệ giao tiếp với phụ nữ
Trong quan hệ giao tiếp với phụ nữ, các khách thể có tâm trạng tích
cực ở mức độ cao tâm trạng tiêu cực (ĐTB = 3,03 so với 1,81). Cảm thông,
thoải mái và dễ chịu là 3 biểu hiện mạnh nhất thể hiện trạng thái xúc cảm tích
cực của những ngời đợc hỏi (với ĐTB = 3,28; 3,17 và 3,13). Những biểu
hiện tích cực mà khách thể ít trải nghiệm hơn cả là tin tởng và vui vẻ (ĐTB là
2,51 và 2,43). ấm ức, căng thẳng, bực bội, thất vọng (ĐTB = 1,98; 1,95; 1,91

và 1,88) là những biểu hiện xúc cảm tiêu cực mà các khách thể thờng xuyên
trải nghiệm hơn. Dè dặt, khép mình (ĐTB là 1,57 và 1,55) là những trạng thái
xúc cảm mà các khách thể ít trải nghiệm nhất.
3.2.1.2. Những biểu hiện của một số yếu tố khách quan
Theo đánh giá của những ngời tham gia nghiên cứu này, hình ảnh
ngời phụ nữ trên các phơng tiện truyền thông đại chúng vẫn gắn liền với
những vai trò giới truyền thống.
Giáo dục gia đình vẫn đang tiếp tục củng cố những khuôn mẫu về
giới thể hiện ở sự phân công lao động theo giới và định hớng giá trị truyền
thống đối với mỗi giới. Trong gia đình Việt Nam, con trai luôn đợc chờ đợi
để làm chuyện đại sự, chuyện lớn và con gái đợc chuẩn bị rất sớm để làm
những công việc nội trợ.
Xu hớng giáo dục cho học sinh theo giới của chúng còn đợc thể
hiện ở trờng học thông qua hình ảnh của thầy cô giáo, qua hình ảnh nam nữ
trong sách vở và những khoảng cách giới trong giáo dục.
Trong quan hệ bạn bè, tồn tại quan niệm rằng, đã là nam giới thì phải
là ngời mạnh mẽ, chủ động và ga lăng, còn nữ giới lại không nên thể hiện
quá nhiều nam tính.
ở nơi làm việc, ĐKG thể hiện qua sự phân công công việc (nữ quýet
nhà, pha trà ) và cách ứng xử giữa đồng nghiệp nam và nữ.
Văn hoá truyền thống là một trong những biểu hiện yếu tố khách
quan. Phần lớn khách thể cho rằng, phụ nữ nên quan tâm tới việc chăm sóc gia
đình, nam giới nên quan tâm tới sự nghiệp. Những đánh giá về khả năng con
ngời cũng chịu ảnh hởng của những những t tởng nh phụ nữ ít làm đợc
những việc lớn, ít nhìn xa trông rộng nh nam giới.


17

3.2.2. Tơng quan giữa mức độ ĐKG và một số yếu tố tác động đến ĐKG

3.2.2.1. Tơng quan giữa mức độ ĐKG với một số yếu tố chủ quan và khách
quan tác động đến ĐKG
Tơng quan giữa mức độ ĐKG và một số yếu tố chủ quan
Quan niệm về giới và về ĐKG có mối tơng quan nghịch với mức độ
ĐKG về PC (r là - 0,125 và - 0,113; P < 0,01), về NL (r là - 0,201 và - 0,151; P
< 0,01). Trong các mối quan hệ này thì mối tơng quan giữa nhận thức về giới
và mức độ ĐKG về NL là mạnh nhất so với các tơng quan khác. Những ngời
có nhận thức đúng hơn về giới hoặc ĐKG sẽ có cái nhìn ít thiên lệch hơn khi
đánh giá về PC và NL của CBNLĐCCS.
Nhận thức về vị trí, vai trò của phụ nữ có tơng quan nghịch với mức
độ ĐKG về PC và NL đối với CBNLĐCCS (r= - 0,393; - 0,445 và P < 0,01).
Khi các khách thể đánh giá thấp vị trí, vai trò của ngời phụ nữ thì mức độ
ĐKG ở họ sẽ tăng và ngợc lại, khi các khách thể nhìn nhận cao vai trò của
phụ nữ thì mức độ ĐKG về PC và NL đối với CBNLĐCCS sẽ giảm.

Hình 3.3. Tơng quan giữa mức độ ĐKG
và một số yếu tố chủ quan tác động đến ĐKG

ĐKG ĐKG
về PC về NL
r=-0,201
**

r=-0,125
**
r=-0,393
**
r=-0,445
**



r=-0,133
**
r=-0,151
**



Quan niệm Quan niệm Nhận thức Xúc cảm Xúc cảm
về giới về ĐKG về vị trí, vai trò tích cực tiêu cực

Ghi chú: trên hình chỉ hiển thị những hệ số tơng quan có ý nghĩa thống kê với
r
**
khi P < 0,01, r là hệ số tơng quan pearson.

Các số liệu đợc hiển thị ở hình 3.3 cho thấy mức độ ĐKG về PC và
mức độ ĐKG về NL không có tơng quan với xúc cảm tích cực cũng nh tiêu
cực của những ngời tham gia khảo sát trong quan hệ giao tiếp với phụ nữ.



18

Tơng quan giữa mức độ ĐKG và một số yếu tố khách quan

Hình 3.4. Tơng quan giữa mức độ ĐKG
và một số yếu tố khách quan tác động đến ĐKG

Truyền thông đại chúng

r = 0,208
**
r = 0,210
**
Giáo dục trong GĐ
r = 0,199
**
r = 0,305
**
Giáo dục r = 0,437
**

ĐKG r =0,363
**
ở trờng học ĐKG
về PC r = 0,312
**
r = 0,329
**
về NL
Bạn bè
r = 0,286
**
r = 0,301
**
Phân công công việc
r = 0,286
**
ở cơ quan r = 0,301
**




Văn hoá truyền thống

Ghi chú: trên hình hiển thị những hệ số tơng quan có ý nghĩa thống kê; r
**
khi
P < 0,01 , r là hệ số tơng quan pearson.

Mỗi yếu tố khách quan đều có tơng quan thuận với mức độ ĐKG về
PC và NL đối với CBNLĐCCS trong đó mối tơng quan với NL chặt chẽ hơn
với PC. Có thể nói rằng, khi các phơng tiện truyền thông đại chúng, khi trong
trờng học, trong giáo dục gia đình, trong quan hệ bạn bè càng chứa đựng,
chuyển tải nhiều thông điệp không đầy đủ, chính xác, mang tính phân biệt đối
xử về giới thì các khách thể có ĐKG về PC và NL ở mức độ càng cao.
3.2.2.2. Dự báo mức độ ĐKG khi các yếu tố tác động thay đổi
Dự báo khi các yếu tố tác động riêng lẻ
Những trải nghiệm xúc cảm tích cực và tiêu cực trong quan hệ giao
tiếp với phụ nữ của các khách thể không có khả năng dự báo mức độ ĐKG về
PC và NL. Các yếu tố còn lại đều có thể dự báo đợc mức độ ĐKG về PC và
NL đối với CBNLĐCCS. Khả năng dự báo mức độ ĐKG về PC và NL của các
yếu tố này không cao lắm, chỉ có một vài yếu tố có khả năng dự báo mức độ
ĐKG trên 10%
(xem bảng 3.18).




19


Bảng 3.18. Các yếu tố dự báo mức độ ĐKG về PC và về NL
đối với CBNLĐCCS một cách độc lập
Các biến phụ thuộc (R
2
)

Các biến dự báo
ĐKG về PC

ĐKG về NL
Các yếu tố chủ quan:
1. Quan niệm về giới
2. Quan niệm về ĐKG
3. Nhận thức về vị trí, vai trò của phụ nữ

0,114
***
0,052
***
0,155
***


0,130
***
0,067
***
0,198
***

Các yếu tố khách quan:
1. Truyền thông đại chúng
2. Giáo dục trong GĐ
3. Giáo dục ở trờng học
4. Quan hệ bạn bè
5. Phân công công việc ở cơ quan
6. Các đặc trng văn hoá truyền thống

0,043
***
0,039
***
0,132
***
0,098
***
0,082
***

0,082
***


0,044
***
0,093
***
0,191
***
0,108

***
0,091
***

0,091
***

Ghi chú: R
***
khi P < 0,001.
Mỗi yếu tố độc lập đơn nhất trong nhóm yếu tố khách quan và chủ
quan (ngoại trừ trải nghiệm xúc cảm tích cực và tiêu cực) đều ảnh hởng đến
mức độ ĐKG về PC và NL đối với CBNLĐCCS và quan niệm về giới, nhận
thức về vị trí, vai trò của phụ nữ là các yếu tố tác động mạnh hơn cả.
Dự báo của các cụm yếu tố
Tất cả các cụm yếu tố đợc xem xét dới đây đều có khả năng dự báo
mức độ ĐKG về PC và NL với P < 0,001. Tuy nhiên, mức độ dự báo của các
cụm yếu tố đối với mức độ ĐKG về PC cũng nh về NL không hoàn toàn nh
nhau (xem bảng 3.19).
Bảng 3.19. Cụm các yếu tố dự báo mức độ
ĐKG về PC và NL của CBNLĐCCS
Biến phụ thuộc (R
2
)

Cụm các biến số độc lập
ĐKG
về PC
ĐKG
về NL

1. Các yếu tố chủ quan
0,183
***

0,246
***

2. Các yếu tố khách quan
0,135
***

0,210
***

3. Quan niệm về giới và các yếu tố khách quan
0,212
***

0,267
***

4. Quan niệm về ĐKG và các yếu tố khách quan
0,198
***

0,255
***

5. Nhận thức về vị trí, vai trò của phụ nữ và các yếu
tố khách quan

0,194
***

0,214
***

6. Trạng thái xúc cảm và các yếu tố khách quan
0,187
***

0,235
***

7. Các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan
0,245
***

0,298
***

Ghi chú: R
***
khi P< 0,001.
Mức độ dự báo cao nhất thuộc về cụm tổng hợp các yếu tố và nó giải


20

thích đợc 24,5% và 29,8% cho mức độ ĐKG về PC và NL. Nh vậy, khi các
khách thể có quan niệm cha đúng về giới, về ĐKG, có nhận thức về vị trí, vai

trò của phụ nữ mang đậm nét truyền thống, có cảm xúc âm tính trong quan
hệ giao tiếp với phụ nữ và sống trong những hoàn cảnh XH thuận lợi cho việc
phát triển những nhìn nhận thiên lệch đối với phụ nữ thì họ là những ngời có
ĐKG về PC và NL đối với CBNLĐCCS ở mức cao.
Cụm yếu tố có khả năng dự báo cao thứ hai là cụm quan niệm về giới
và các yếu tố khách quan (21,2% và 26,7% - mức độ ĐKG về PC và về NL).
Tiếp theo là các cụm yếu tố giữa quan niệm về ĐKG hay nhận thức về vị trí,
vai trò của phụ nữ cùng và các yếu tố khách quan.
Khả năng dự báo mức độ ĐKG về PC của mỗi cụm yếu tố trong 7 cụm
yếu tố đều thấp hơn mức dự báo ĐKG về NL (xem bảng 3.19). Tập hợp cụm
yếu tố chủ quan giải thích đợc 18,3% cho sự biến thiên của mức độ ĐKG về
PC và 24,6% cho mức độ ĐKG về NL, tập hợp cụm yếu tố khách quan là
13,5% và 21,0% đối với mức độ ĐKG về PC và về NL.
Trải nghiệm xúc cảm trong quan hệ giao tiếp với phụ nữ khi đứng độc
lập không có tác động trực tiếp đến mức độ ĐKG, nhng khi kết hợp với một
số yếu tố chủ quan khác hoặc các yếu tố khách quan thì các tập hợp này lại có
ảnh hởng đến mức độ ĐKG (18,3% và 18,7% - đối với ĐKG về PC; 24,6% và
23,5% - đối với ĐKG về NL).
Tóm lại, sự kết hợp giữa các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan
có khả năng dự báo cho mức độ ĐKG về PC và NL đối với CBNLĐCCS cao
hơn hẳn so với từng yếu tố độc lập riêng lẻ. Kết quả này cho thấy những ngời
có quan niệm cha đúng về giới và ĐKG, cha có nhận thức đúng về vị trí, vai
trò của phụ nữ khi sống trong những điều kiện khách quan có những thiên lệch
khi đánh giá về phụ nữ chính là nguyên nhân dẫn đến việc có ĐKG về PC và
năng lực đối với các nữ lãnh đạo cơ sở.
3.3. Thực nghiệm tác động
Kết quả thực nghiệm chứng tỏ rằng, sau khi tác động:
- Nhận thức về giới và ĐKG ở những ngời tham gia khảo sát đã thay đổi. Tuy
còn một số khách thể vẫn có nhận định sai lệch trong quan niệm về giới, ĐKG
và có cách nhìn nhận cha đúng về vị trí, vai trò của phụ nữ, nhiều ngời đã có

quan niệm đúng đắn hơn về giới và có cách đánh giá chính xác hơn về thuật
ngữ ĐKG.
- Nhiều ngời trong nhóm thực nghiệm đã thấy đợc, đối với phụ nữ, ngoài
việc chăm lo cho hạnh phúc riêng của mình, muốn đợc coi là thành công thì
cần có công việc, có sự nghiệp riêng.
- Mức độ ĐKG về PC và NL đã thay đổi theo hớng tích cực. Tuy không


21

nhiều, nhng tất cả các mức độ ĐKG về PC chính trị, PC đạo đức, PC ý chí và
PC t duy, các mức độ ĐKG về NL chung, NL tổ chức, NL trí tuệ, NL ra quyết
định đối với CBNLĐCCS đều đã giảm.
Nh vậy, kết quả thực nghiệm có thể cho phép chúng tôi nhận xét
rằng, các biện pháp tác động đợc sử dụng trong luận án này là phù hợp với
việc tăng cờng quan niệm đúng đắn về giới, ĐKG và nâng cao nhận thức về
vị trí, vai trò của phụ nữ, từ đó làm giảm mức độ ĐKG về PC và NL đối với
CBNLĐCCS. Tuy nhiên, đây không phải là những biện pháp có thể đem lại
thành công tuyệt đối nên cần có sự kết hợp các biện pháp tác động khác và
những nhân tố khác có ảnh hởng đến mức độ ĐKG này.
Kết luận và kiến nghị
1. Kết luận
1.1 Nghiên cứu lý luận cho thấy, ĐKG đối với CBNLĐCCS là sự nhìn
nhận, phán xét, đánh giá mang tính tiêu cực, bất hợp lý về PC và NL trong
hoạt động quản lý lãnh đạo của các nữ lãnh đạo cơ sở. Trong khi nhiều báo
cáo thống kê gần đây cho thấy vị trí, vai trò của phụ nữ nói chung đã đợc cải
thiện đáng kể, nhng rõ ràng vẫn còn những ĐKG với phụ nữ trong lĩnh vực
lãnh đạo, quản lý. Các lý thuyết nghiên cứu đã chỉ ra con đờng hình thành
ĐKG ở một ngời có thể do học tập những khuôn mẫu giới, những hành vi liên
quan đến giới từ ngời khác, chủ động tạo ra những suy nghĩ của chính bản

thân về giới, tiếp thu các ĐKG thông qua quá trình nội tâm hoá mẫu hình của
cha hoặc mẹ, thực hành ĐKG để thoả mãn những mong đợi gắn giới tính với
các vai trò xã hội.
1.2 Kết quả nghiên cứu thực tiễn cho thấy, những ngời tham gia khảo
sát đã có ĐKG đối với PC và NL của CBNLĐCCS ở mức trung bình và ĐKG
về NL cao hơn ĐKG về PC. Toàn bộ những ngời đợc hỏi đều có ĐKG về PC
nhng không phải tất cả trong số họ đều có ĐKG về NL, một bộ phận khách
thể chiếm tỷ lệ phần trăm rất nhỏ hầu nh không có ĐKG này đối với
CBNLĐCCS. Mức độ ĐKG về PC và NL đối với CBNLĐCCS của các nhóm
khách thể sẽ không nh nhau khi họ sống ở các địa bàn khác nhau. Những
ngời đã từng tham gia tập huấn về giới thờng có ĐKG về PC và NL ở mức
độ thấp hơn những ngời cha từng tham gia một khoá tập huấn nào về giới.
Trong tình huống đánh giá về cùng một hành vi hay đặc điểm tính cách nh
nhau nhng mức độ tán thành của khách thể đối với nam hay nữ lãnh đạo là
khác nhau. Những phẩm chất, tính cách cần phải có của ngời lãnh đạo thì
đợc các khách thể tham gia nghiên cứu cho rằng có nhiều điểm tơng đồng
với phẩm chất, tính cách của nam giới hơn là của nữ giới.
1.3 Có một tỷ lệ không nhỏ khách thể đã đánh đồng giới với những khác
biệt về mặt sinh học. Tơng tự nh vậy, số ngời có quan niệm không đúng về


22

ĐKG cũng chiếm một tỷ lệ tơng đối lớn trong những ngời tham gia khảo sát
(trong số này có cả những ngời đã từng tham gia các khoá tập huấn về Giới).
Tuy vậy, khi bày tỏ quan điểm về vị trí, vai trò của phụ nữ, những ngời có
cách nhìn nhận đúng đắn nhiều hơn ngời có cái nhìn ĐKG.
1.4 Khi quan hệ giao tiếp với phụ nữ, những ngời đợc hỏi thờng có
trạng thái xúc cảm tích cực nh thoải mái, cảm thông, dễ chịu. Bên cạnh trạng
thái tích cực, những ngời này còn trải nghiệm những xúc cảm tiêu cực nh

căng thẳng, bực bội, dè dặt nhng ở mức độ ít thờng xuyên hơn rất nhiều.
Những trải nghiệm xúc cảm tích cực cũng nh tiêu cực của các khách thể
trong quan hệ giao tiếp với phụ nữ không tác động trực tiếp đến ĐKG của họ,
nhng khi kết hợp với quan niệm về giới, ĐKG và nhận thức về vị trí, vai trò
của phụ nữ cũng nh các yếu tố tác động khách quan khác thì sẽ tạo thành
những tập hợp các yếu tố có ảnh hởng đến mức độ ĐKG đối với PC và NL
của CBNLĐCCS.
1.5 Ngoại trừ những trải nghiệm xúc cảm tích cực và tiêu cực mà các
khách thể cảm nhận đợc trong quan hệ giao tiếp với phụ nữ, tất cả các yếu tố
chủ quan và khách quan đợc xem xét trong nghiên cứu này đều có ảnh hởng
đến mức độ ĐKG đối với PC và NL của CBNLĐCCS. Sự kết hợp giữa các yếu
tố tác động chủ quan và các yếu tố tác động khách quan có khả năng dự báo
cho mức độ ĐKG này cao hơn hẳn so với từng yếu tố độc lập riêng lẻ. Điều
này có nghĩa là ĐKG đối với PC và NL của CBNLĐCCS đợc dự báo bởi
nhiều yếu tố và nhiều nguyên nhân khác nhau. Những ngời có quan niệm
cha đúng về giới và ĐKG, cha có nhận thức đúng về vị trí, vai trò của phụ
nữ nếu sống trong những điều kiện khách quan có những thiên lệch khi đánh
giá về phụ nữ chính là nguyên nhân dẫn đến việc họ sẽ có ĐKG đối với PC và
NL của các nữ lãnh đạo cơ sở.
1.6 Tập huấn nâng cao nhận thức (quan niệm về giới, về ĐKG và nhận
thức về vị trí, vai trò của phụ nữ) là một biện pháp làm giảm thiểu những ĐKG
đối với các nữ lãnh đạo cấp cơ sở. Sau thực nghiệm tác động, mức độ ĐKG ở
các khách thể nhóm thực nghiệm thấp hơn hẳn ĐKG của các khách thể nhóm
đối chứng. Điều này có nghĩa là có nhiều khách thể đã đánh giá vị trí, vai trò
của phụ nữ tích cực hơn chính họ trớc tác động và hơn những ngời thuộc
nhóm đối chứng. Để đạt đợc sự thay đổi qua biện pháp tập huấn, cần lu ý
thay đổi một số nhận thức sai lầm về giới để ngời tham gia tập huấn có đợc
nền tảng nhận biết và thay đổi ĐKG ở bản thân mình.
1.7. Nghiên cứu này đã tập trung làm rõ thực trạng ĐKG với nữ lãnh
đạo ở cấp cơ sở tại 3 địa bàn (Hà Nội, Hng Yên, Thái Nguyên) đại diện cho 3

vùng thành thị, đồng bằng và miền núi. Những kết quả thu đợc gợi mở hớng
nghiên cứu tiếp theo trên cơ sở mở rộng địa bàn (ví dụ 3 khu vực Bắc, Trung,
Nam) và khách thể nghiên cứu (ví dụ cán bộ lãnh đạo cấp trung ơng, cấp


23

tỉnh/thành) để xem xét sự khác biệt ở các vùng miền, các nhóm khách thể về
mức độ ĐKG đối với phẩm chất, năng lực của CBNLĐCCS cũng nh của cán
bộ nữ nói chung.
2. Kiến nghị
2.1. Cần triển khai các nghiên cứu lý luận có chiều sâu và đa ngành về ĐKG
(nguồn gốc hình thành, biện pháp khắc phục ) phục vụ cho việc xây dựng các
giáo trình tập huấn giới và công tác hoạch định chính sách. Đối với cấp hoạch
định và thực thi chính sách, bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống luật pháp
chính sách và các qui định liên quan tới bình đẳng giới, cần tăng cờng hơn
nữa công tác quản lý giám sát và có những chế tài thởng phạt cụ thể trong tổ
chức thực hiện các qui định đó trong thực tế. Song song với một số giải pháp
mang tính chất can thiệp (nh định ra chỉ tiêu cụ thể tỷ lệ nữ tham gia lnh
đạo) thì cần có những biện pháp tác động cụ thể có nhạy cảm giới (ví dụ, nếu
nh khẩu hiệu sáng suốt lựa chọn những ngời có đức có tài để bầu vào Hội
đồng nhân dân các cấp đợc thay bằng một khẩu hiệu mang thông điệp giới
hơn ví dụ nh sáng suốt lựa chọn những phụ nữ và nam giới có đức có tài
thì ít nhất, có thể có tác dụng nhắc nhở cử tri khi đi bầu cử về sự hiện diện
của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo).
Cần có các chính sách hỗ trợ gia đình tốt hơn để ngời phụ nữ nói
chung và CBNLĐCCS có nhiều cơ hội hơn tham gia các hoạt động xã hội.
2.2. Hầu hết những ngời tham gia khảo sát có ĐKG ở mức trung bình
đối với PC và NL của CBNLĐCCS (kết quả nghiên cứu thực trạng), do vậy,
công tác tập huấn, tuyên truyền cần xác định, lựa chọn các đối tợng u tiên

trong tuyên truyền nâng cao nhận thức giới mà trớc hết là những cán bộ lãnh
đạo (huyện, tỉnh, trung ơng), đội ngũ cán bộ phóng viên truyền hình, báo chí,
giáo viên và đặc biệt những nhà lãnh đạo chủ chốt. Đây là nhóm nòng cốt có
tầm ảnh hởng quan trọng đến nhận thức giới của những nhóm mục tiêu khác.
Để tăng cơ hội tiếp cận các vị trí lãnh đạo cho phụ nữ thì trớc hết các nhóm
đối tợng này phải không có ĐKG trong đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ nữ.
2.3. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức và giảng viên về giới cần quan tâm hơn
nữa đến nội dung chơng trình và cách thức tổ chức các lớp tập huấn về giới.
Nh trong nghiên cứu đã chỉ ra, bản chất về giới và ĐKG vẫn dễ bị đánh đồng
với những khác biệt sinh học giữa nam và nữ vì vậy cần dành nhiều thời gian
để cùng trải nghiệm những khác biệt do học đợc và do di truyền mà có. Mặt
khác, liên quan đến tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức giới, cần tăng cờng
sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong các hoạt động cung cấp thông tin,
tri thức, các giải pháp hỗ trợ nâng cao nhận thức giới trong cộng đồng nói
chung, nhóm phụ nữ/nam giới nói riêng, đặc biệt là ở cấp cơ sở.

Để giảm thiểu ĐKG với CBNLĐCCS, ngoài công tác tập huấn nâng


24

cao nhận thức giới, bản thân ngời CBNLĐCCS cũng cần tự rèn luyện mọi
mặt đặc biệt là những kiến thức chuyên môn, kỹ năng cần thiết cho công tác
lãnh đạo, quản lý để vợt qua mặc cảm tự ti của bản thân mình.
2.4. ĐKG với CBNLĐCCS là rất đa dạng, phức tạp và không dễ nhận
biết. Vì vậy, đối với cấp ủy đảng, chính quyền ở cơ sở (là môi trờng làm việc
trực tiếp của ngời CBNLĐCCS), để góp phần hạn chế ĐKG đối với
CBNLĐCCS, ở các xã/phờng/thị trấn, cần xây dựng những qui chế, tiêu chí
trong nội bộ đơn vị về quy hoạch, đào tạo bồi dỡng, bố trí sử dụng, bổ nhiệm,
khen thởng mang tính nhạy cảm giới, kích thích tiềm năng của cán bộ nữ

trong công tác lãnh đạo, quản lý.
Văn hoá tổ chức có nhạy cảm giới trong môi trờng làm việc này cũng
là nhân tố quan trọng ảnh hởng đến ĐKG đối với CBNLĐCCS. Do vậy, để
góp phần hạn chế ĐKG, cần tránh sự phân công công việc theo hớng bất bình
đẳng giới trong cơ quan, tổ chức. Đồng thời, cán bộ nam cũng nh các đối
tợng khác, cần đợc cung cấp và tiếp nhận một lợng thông tin cần thiết
trớc khi nhận xét, đánh giá hay tiếp xúc để tránh ĐKG đối với cán bộ nữ.
2.5. Cần định hớng triển khai nghiên cứu quy mô hơn trên cơ sở mở
rộng địa bàn và khách thể nghiên cứu để đánh giá tổng thể xem xét sự khác
biệt ở các vùng miền, các nhóm khách thể về mức độ ĐKG đối với PC, NL của
CBNLĐCCS cũng nh của cán bộ nữ nói chung. ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ
phụ nữ, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Bộ Lao động thơng binh xã hội là
những cơ quan, ban ngành có vai trò rất quan trọng trong việc triển khai các
nghiên cứu quy mô này.

×