Tải bản đầy đủ (.docx) (22 trang)

Trình Bày Các Giải Pháp Nhằm Bảo Đảm Hiệu Quả Trong Việc Tăng Cường Tuyên Truyền, Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Trong Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Nước Ta Hiện Nay.docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (123.95 KB, 22 trang )

MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
I. Khái quát chung về tham nhũng.................................................................2
1. Khái niệm về tham nhũng....................................................................2
2. Đặc điểm về tham nhũng......................................................................2
II. Thực trạng, nguyên nhân và hậu quả của tham nhũng..........................3
1. Thực trạng về tham nhũng...................................................................3
2. Nguyên nhân của tham nhũng.............................................................4
3. Hậu quả của tham nhũng...................................................................10
III. Giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả trong việc tăng cường tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong cơng tác phịng chống tham
nhũng nước ta hiện nay.................................................................................11
1. Về quá trình quản lý, điều hành trong hoạt động của các cơ quan, tổ
chức..........................................................................................................11
2. Hoàn thiện, bổ sung, sửa đổi chính sách pháp luật..........................12
3. Giải pháp trong việc phát hiện và xử lý tham nhũng........................14
4. Khắc phục tính suy đồi đạo đức.........................................................15
5. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức trong công
dân...........................................................................................................16
C. KẾT LUẬN........................................................................................................17
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................18



A. MỞ ĐẦU
Tham nhũng và cuộc đấu tranh chống tham nhũng là vấn đề nóng bỏng, phức
tạp, nan giải và bức xúc nhất hiện nay ở nước ta. Tham nhũng đã và đang đe dọa
đến sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây cũng chính
là vấn đề liên quan nhiều nhất, chi phối đến quá trình xây dựng và phát triển của
đất nước. Nhiều vụ tham nhũng lớn, phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng tồn tại từ
lâu đã bị phát hiện, xử lý; việc xử lý kỷ luật nghiêm khắc đối với những cán bộ đã


dính líu vào tham nhũng; rồi những bản án tử hình, tù chung thân và bắt buộc phải
bồi thường tiền, tài sản đã tham nhũng của Nhà nước, của nhân dân, làm cho tệ
tham nhũng từng bước được kiềm chế. Song, tình trạng tham nhũng, lãng phí hiện
nay vẫn cịn nghiêm trọng, phạm vi rộng, tính chất phức tạp, làm cho nhân dân lo
lắng, giảm lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước.
Vậy nguyên nhân xuất phát từ đâu hình thành tội phạm tham nhũng và Nhà
nước ta đã có hướng giải quyết đối với tội phạm này như thế nào để làm rõ hơn vấn
đề này. Nhóm đã quyết định chọn đề tài “Trình bài các giải pháp nhằm đảm bảo
hiệu quả trong việc tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
trong cơng tác phịng chống tham nhũng nước ta hiện nay”.

1


B. NỘI DUNG
I. Khái quát chung về tham nhũng
1. Khái niệm về tham nhũng
Tại khoản 1 Điều 3 Luật phòng chống tham nhũng 2018 cũng có định nghĩa về
tham nhũng như sau: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã
lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”.
Trong đó: Người có chức vụ quyền hạn là người do bổ nhiệm, bầu cử, do tuyển
dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng
lương, được giao nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi
thực hiện nhiệm vụ, cơng vụ đó.
Vụ lợi là việc người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn
nhằm được lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng.
2. Đặc điểm về tham nhũng
Thứ nhất, chủ thể tham nhũng là người có chức vụ quyền hạn. Đặc điểm tham
nhũng là chủ thể thực hiện hành vi phải là người có chức vụ, quyền hạn. Người có
chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng

hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc khơng hưởng lương, được giao
thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực
hiện nhiệm vụ, cơng vụ đó. (khoản 2 Điều 3, Luật phòng, chống tham nhũng năm
2018) [6].
Thứ hai, Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao. Đặc điểm
thứ hai của tội phạm tham nhũng là người phạm tội tham nhũng phải sử dụng “chức
vụ, quyền hạn” của mình như một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, gia
đình mình hoặc cho những người khác, đây là yếu tố cơ bản để xác định xem hành
vi phạm tội tham nhũng với các hành bi tội phạm khác.
2


Thứ ba, Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. Hành vi tham nhũng là
hành vi cố ý, nếu chủ thể thực hiện hành vi không cố ý thì hành vi đó khơng là
hành vi tham nhũng. Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh
thần mà người có chức vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thơng qua
hành vi tham nhũng[6].
II. Thực trạng, nguyên nhân và hậu quả của tham nhũng
1. Thực trạng về tham nhũng
Riêng năm 2018, đã kết thúc điều tra 23 vụ/222 bị can (tăng 43,75% số vụ so
với năm 2017); đã truy tố 20 vụ/251 bị can (tăng 66,7% số vụ so với năm 2017); đã
xét xử sơ thẩm 23 vụ/304 bị cáo (gấp gần 5 lần số vụ so với năm 2017) [7].
Năm 2019, các cơ quan tiến hành tố tụng Trung ương và địa phương đã đẩy
nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xác minh các vụ việc, đã xử lý dứt
điểm 13 vụ án, 24 vụ việc; khởi tố mới 10 vụ án, phục hồi điều tra 07 vụ án; kết
thúc điều tra 21 vụ án/127 bị can; ban hành cáo trạng truy tố 18 vụ án /98 bị can;
xét xử sơ thẩm 12 vụ án/41 bị cáo; xét xử phúc thẩm 13 vụ án/156 bị cáo; đã tạm
giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, ngăn chặn giao dịch tài sản giá trị trên
10.000 tỷ đồng .[7]
Năm 2020, các Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân đã thụ lý điều tra 508

vụ án, 1.186 bị can phạm tội về tham nhũng; trong đó khởi tố mới 286 vụ, 606 bị
can (tăng 15 vụ, 58 bị can so với cùng kỳ năm 2019); kết luận điều tra đề nghị truy
tố 231 vụ, 650 bị can; tạm đình chỉ điều tra 29 vụ, 55 bị can; đình chỉ điều tra 08
vụ; 02 bị can; xử lý khác (thay đổi tội danh, chuyển vụ án, nhập vụ án…) 15 vụ, 21
bị can; hiện đang điều tra 225 vụ, 458 bị can.[8]
Qua số liệu về tội phạm tham nhũng qua các năm kể trên, ta thấy được tội phạm
tham nhũng ở nước ta biến động tăng giảm qua từng năm, do đó đặt ra vấn đề về sự
3


nỗ lực trong việc phòng chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước cũng như toàn thể
nhân dân ta.
2. Nguyên nhân của tham nhũng
2.1 Nguyên nhân sâu xa
Thứ nhất, do tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường. Nó chứa đầy những
tiêu cực, tệ nạn với sức mạnh của đồng tiền, của sự trỗi dậy chủ nghĩa cá nhân vụ
lợi, vị kỷ cực đoan, kích thích tâm lý hưởng thụ và làm giàu bằng mọi giá. Bên
cạnh đó, phẩm chất chính trị đạo đức của đội ngũ có chức, có quyền bị suy thối
đặc biệt là suy thối tư tưởng chính trị. Họ sẵn sàng bỏ qua lợi ích chung, lợi ích
tập thể để trục lợi, làm giàu bất chính cho bản thân, gia đình, họ hàng mình.
Thứ hai, Lịch sử để lại cho xã hội những tàn dư lạc hậu, lỗi thời làm cho điều
kiện của nhân dân vô cùng cơ cực. Xuất pháp từ bản chất là nhà nước vơ sản- giai
cấp bị trị nên có địa vị kinh tế thấp dẫn đến địa vị chính trị cũng thấp kém. Mặt
khác, xét về bản tính thì người phương Tây thẳng thắn, bộc trực, công bằng trong
khi người phương Đơng có tính sĩ diện, hình thức, kên cượng.. [9]
Thứ ba, về mặt bằng kinh tế - xã hội. Những tàn dư lạc hậu, lỗi thời, cùng với
những tì vết của thực dân - phong kiến còn kết đọng rất nặng nề, chưa giải tỏa hết.
Từ đó ta có thể thấy hệ quả tất yếu của những việc này sẽ khiến cho xã hội bất
cơng, phân hóa thu nhập, phân hóa giàu nghèo có xu hướng gia tăng, khơng kiểm
soát được biến động tài sản và thu nhập.[9]

2.2 Nguyên nhân trực tiếp
2.2.1 Những hạn chế trong chính sách, pháp luật
Thứ nhất, hạn chế trong việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước.

4


Những chính sách này đã thể hiện bản chất tốt đẹp của xã hội nước ta, thế
nhưng việc thực thi các chính sách này cịn nhiều hạn chế, bất cập. Trên thực tế, khi
triển khai các chính sách như đền bù, hỗ trợ dịch bệnh, bão lũ, vạy ưu đãi, chính
sách hỗ trợ người nghèo,.., cịn chưa rõ ràng, thiếu sự công khai, minh bạch khiến
cho những người thuộc đối tượng này khó có thể tiếp cận với các nguồn hỗ trợ.
Ngồi ra, có một số trường hợp cán bộ còn làm giả hồ sơ, khai quá số lượng thuộc
diện chính sách để tham ơ tài sản của nhà nước.
Thứ hai, hạn chế trong hệ thống pháp luật.
Mặc dù trong thời gian qua, cơ quan lập pháp đã cố gắng hoàn thiện hệ thống
pháp luật tạo khung pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội nhưng hệ thống pháp
luật nước ta vẫn thiếu chặt chẽ, chưa đồng bộ, còn nhiều khe hở làm cho tham
nhũng gia tăng. Những hạn chế về pháp luật thể hiện qua những điểm sau:Thiếu
hoàn thiện của hệ thống pháp luật;Sự chồng chéo, mâu thuẫn trong các quy định
của pháp luật; Sự bất cập, thiếu minh bạch và kém khả thi trong nhiều quy định của
pháp luật.
Chẳng hạn, trong vụ bạo loạn ở Thái Bình năm 1997, nguyên nhân bắt nguồn từ
bộ máy quan liêu sai phạm quyền hạn thu hồi – đấu thầu đất đai, tham nhũng và sử
dụng ngân sách lãng phí, lạm dụng đóng góp của người dân, một số công chức áp
bức người dân và bao che cho nhau và do mâu thuẫn nội bộ giữa cán bộ và quần
chúng nhân dân v.v... từ vụ việc này cho thấy việc tham nhũng bắt nguồn một phần
từ hệ thống pháp luật lỏng lẻo, thiếu minh bạch, kém khả thi cộng thêm hệ thống
cán bộ, công chức, viên chức cậy quyền, lợi dụng người dân để trục lợi cho mình.
2.2.2.Những hạn chế trong quản lý, điều hành nền kinh tế và trong hoạt động

của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội
Thứ nhất, hạn chế trong quản lý và điều hành nền kinh tế.
5


Cơ chế quản lý mới được xây dựng theo cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa còn chưa theo kịp với trình độ phát triển của nền kinh tế nên đã tạo ra
những sơ hở, bất cập. Bên cạnh đó, cơng cuộc hiện đại hóa ở nước ta đòi hỏi phải
gia tăng về phương tiện cũng như số lượng cơng chức trong bộ máy hành chính
nhằm đáp ứng những nhu cầu mới phát sinh.
Những hạn chế, bất cập đó được thể hiện qua những điểm sau:Hạn chế trong
việc phân công, trách nhiệm, quyền hạn giữa các chủ thể quản lý;Hạn chế trong
việc cơng khai, minh bạch hóa các cơ chế quản lý kinh tế;Chính sách quản lý, điều
hành kinh tế của Nhà nước còn chưa thực sự hợp lý.
Thứ hai, hạn chế trong cải cách hành chính.
Cải cách hành chính và cải cách tư pháp khơng triệt để, mục tiêu xây dựng một
nền hành chính khơng minh bạch, phục vụ người dân và doanh nghiệp không đạt
được như mong muốn, nhất là cải cách thủ tục hành chính, Một phần do ảnh hưởng
nặng nề bởi cơ chế kinh tế cũ nên các thủ tục hành chính tuy đã được rà soát và loại
bỏ những tàn dư song vẫn cịn nhiều phức tạp, rườm rà, gây nhiều khó khăn trong
tiếp cận, cũng như áp dụng. Ngồi ra, có những thủ tục hành chính cịn kéo dài, làm
cho những người khơng có thời gian, hoặc những người mong muốn có kết quả
nhanh chóng, điển hình như giấy tờ trong đất đai, xây nhà ở, mua bán,.. thì buộc họ
phải đưa hối lộ.
Thứ ba, bất cập trong cơ chế tiền lương.
Có thể thấy, đã nhiều lần được điều chỉnh theo hướng lương cơ bản song vẫn
chưa đáp ứng được những nhu cầu cơ bản thiết yếu, bởi thực tế đang diễn ra tình
trạng “lương tăng nhưng khơng theo kịp giá tăng”. Cộng với sự tác động của nhiều
yếu tố tiêu cực trong cơ chế thị trường đã làm nảy sinh một số cán bộ có tư tưởng


6


trục lợi, họ sẵn sàng đòi hối lộ, nhận hối lộ mặc dù bản thân quá hiểu như thế nào là
tham nhũng.
2.2.3 Những hạn chế trong việc phát hiện và xử lí tham nhũng
Thứ nhất, Hạn chế trong việc khuyến khích tố giác hành vi tham nhũng .
Theo khoản 1 điều 4 Luật phòng chống tham nhũng đã quy định: “Mọi hành vi
tham nhũng đều phải được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh”.
Việc phát hiện hành vi tham nhũng ở nước ta hiện nay còn rất hạn chế. Hành vi
tham nhũng chủ yếu được phát hiện thông qua việc tố giác của cán bộ, công chức,
viên chức và thông qua các công cụ phát hiện tham nhũng. Tuy nhiên, cả hai hình
thức này hiện nay đều cịn nhiều hạn chế. 
Thời gian qua tình trạng người dân tố cáo tham nhũng, tiêu cực rất nhiều nhưng
đổi lại việc tố cáo tham nhũng được khen thưởng thì ít mà rước họa thì nhiều. Rất
nhiều trường hợp người tố cáo tham nhũng bị trù dập như chuyển công tác, bị nhắn
tin đe dọa, bị gây thương tích và khủng bố tinh thần cá nhân và những người thân
trong gia đình…
Thứ hai, hạn chế trong hoạt động của các cơ quan phát hiện tham nhũng
Các cơ quan, tổ chức có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán chưa
phát huy triệt để vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của mình trong phát hiện tham
nhũng. Hệ thống tổ chức, phương thức thanh tra, kiểm tra, giám sát còn chậm đổi
mới, chưa theo kịp yêu cầu và sự phát triển đa dạng, phức tạp của đời sống xã hội
cũng như các hành vi tham nhũng. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm
toán đối với các cơ quan nhà nước để phát hiện tham nhũng chưa được tiến hành
thường xuyên và toàn diện dẫn đến hiệu quả của việc phát hiện tham nhũng còn
hạn chế.
Thứ ba, Hạn chế trong hoạt động của các cơ quan tư pháp hình sự.
7



Công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng vẫn còn hạn
chế. Tỷ lệ phát hiện các vụ án tham nhũng chưa cao, vẫn cịn hiện tượng bỏ lọt tội
phạm, chuyển từ xử lí hình sự sang xử lí hành chính hay xử lí kỉ luật. Hình phạt áp
dụng cho những người có hành vi tham nhũng cịn chưa nghiêm khắc, chưa đảm
bảo tính răn đe, phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
Thứ tư, hạn chế trong việc phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, tổ chức trong
phòng, chống tham nhũng.
Hiện nay vẫn còn thiếu một cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan Nhà
nước với các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội
nghề nghiệp trong hoạt động phòng, chống tham nhũng. Điều này làm giảm hiệu
quả hoạt động phòng, chống tham nhũng đồng thời làm cho hành vi tham nhũng
phát sinh mà không bị ngăn chặn.
2.2.4 Những hạn chế trong nhận thức, tư tưởng của cán bộ, công chức cũng như
trong hoạt động bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ
Thứ nhất, sự xuống cấp về đạo đức, phẩm chất của một bộ phận cán bộ, công
chức, viên chức .
Do nền kinh tế kế hoạch đã tồn tại rất lâu ở nước ta, nên nhiều cán bộ, công
chức, viên chức nước ta vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của các tư tưởng, tâm lí tiêu
cực của thời kì quan liêu, bao cấp. Nhiều người vẫn duy trì những thái độ tiêu cực
như hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu gây khó khăn cho người dân, kéo dài thời
hạn.
Đặc biệt, gần đây sự kiện gây xôn xao cộng đồng mạng liên quan đến lĩnh vực y
tế. Người xưa có câu: “ lương y như từ mẫu”, thế nhưng giá trị của nó ngày một
phai mờ bởi những con người bị đồng tiền lu mờ làm giảm giá trị đạo đức, phẩm
chất. Như Báo Lao Động đưa tin vừa qua, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an
8


(C03) đã khởi tố ông Nguyễn Quang Tuấn - Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai về tội

"Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng". Sai phạm của ông
Nguyễn Quang Tuấn xảy ra liên quan đến đấu thầu thiết bị y tế khi ông làm Giám
đốc Bệnh viện Tim Hà Nội. Chưa công bố cụ thể song Bộ Công an xác định hành
vi sai phạm của ông Tuấn và các bị can khác gây thiệt hại cho Nhà nước khoảng 40
tỉ đồng liên quan đến hoạt động đấu thầu, nâng giá thiết bị y tế.[10]
Thứ hai, hạn chế trong công tác quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ.
Công tác quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ thời gian qua đã có nhiều đổi mới
nhưng nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị vẫn chưa thực hiện tốt. Tư tưởng cục bộ, địa
phương, bè phái trong công tác bổ nhiệm cán bộ vẫn còn tồn tại cũng làm gia tăng
tệ tham nhũng. Vẫn cịn tình trạng chỉ lựa chọn, bổ nhiệm những cán bộ cùng quê,
cùng bè phái để từ đó hình thành các đường dây tham nhũng khép kín, vơ hiệu hóa
cơ chế kiểm sốt, thanh tra nội bộ.
2.2.5 Những hạn chế trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật
về tham nhũng
Thứ nhất, về phạm vi thực hiện. Hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật về phòng chống tham nhũng chỉ mới thực hiện trong nội bộ các cơ quan,
tổ chức mà chưa được tiến hành rộng rãi đến mọi tầng lớp nhân dân.
Thứ hai, về hình thức tuyên truyền. Hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
phòng, chống tham nhũng còn khá đơn sơ, chủ yếu thực hiện bằng hình thức phổ
biến, giải thích dài dịng ít nói đến trọng tâm gây cho người nghe sự nhàm chán,
khó hiểu, khó tiếp thu.
Thứ ba, về nội dung tuyên truyền. Nội dung tuyên truyền, giáo dục, phổ biến về
tham nhũng chưa thực sự phù hợp với đối tượng cần phổ biến, chính vì điều này đã
gây ra sự nhàm chán, khó hiểu, khó tiếp thu đối với nhiều người dân như nông dân,
9


công nhân, dân tộc thiểu số... làm cho công tác tun truyền trở thành hình thức,
khơng đạt được hiệu quả.
3. Hậu quả của tham nhũng

3.1 Hậu quả về mặt chính trị
Hiện nay, tham nhũng ở nước ta đã ở mức vô cùng nghiêm trọng dẫn đến nhiều
hậu quả nghiêm trọng. Tham nhũng không chỉ xảy ra ở cấp Trung ương, ở những
chương trình, dự án lớn mà cịn xuất hiện ở cả những cấp chính quyền cơ sở những cơ quan tiếp xúc với nhân dân hàng ngày.
Tệ nạn tham nhũng, hối lộ, ăn chơi phung phí gây tác hại rất lớn, làm tổn hại
thanh dành của Đảng gây bất bình đối và giảm lịng tin của nhân dân đối với chính
phủ, nhà nước đẫn đến hệ quả là gây nên sự phản ứng mạnh mẽ và tiềm ẩn các
xung đột lợi ích giữa các tầng lớp nhân dân.
3.2 Hậu quả về mặt kinh tế
Tham nhũng gây ra những thiệt hại rất lớn về tài sản của Nhà nước, của tập thể
và của công dân.Trong những năm vừa qua, tham nhũng diễn ra trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội và gây ra nhiều hậu quả không mong muốn. Đặc biệt, tác
hại của tham nhũng trong vấn đề kinh tế là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi này gây
thiệt hại lớn đến tài sản của Nhà nước, tiền bạc, công sức và thời gian của nhân
dân.
3.3 Hậu quả về mặt xã hội
Đối với khía cạnh xã hội, hậu quả tham nhũng chính là làm thay đổi, đảo lộn
những chuẩn mực đạo đức xã hội, làm tha hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.
Trước những lợi ích bất chính có được khi thực hiện hành vi tham nhũng; nhiều
người có chức vụ, quyền lợi đã khơng giữ được phẩm chất đạo đức của mình. Chức
vụ, quyền lực được giao khơng cịn được sử dụng để phục vụ nhân dân mà đang
10


hướng tới các lợi ích bất chính, bất chấp việc vi phạm luật pháp, làm trái công vụ,
trái đạo đức.
Đáng báo động hơn nữa là dường như tham nhũng đang trở thành một điều bình
thường trong quan niệm của một bộ phận cán bộ nhà nước. Điều này chính là biểu
hiện của sự suy thoái, xuống cấp về đạo đức; xâm hại đến những giá trị đạo đức
truyền thống của dân tộc.

III. Giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả trong việc tăng cường tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục pháp luật trong cơng tác phịng chống tham nhũng nước ta
hiện nay
1. Về quá trình quản lý, điều hành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức
Đi đôi với tập trung chỉ đạo công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, cơng tác xây
dựng thì việc hồn thiện thể chế về quản lý kinh tế - xã hội và phòng chống tham
nhũng phải được đẩy mạnh, từng bước hoàn thiện cơ chế phịng ngừa chặt chẽ để
“khơng thể tham nhũng”. Đảng, pháp luật của Nhà nước phải đưa ra nhiều quy định
về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chính sách quản lý kinh tế - xã hội phù hợp và phòng
chống tham nhũng được ban hành và tổ chức thực hiện quyết liệt, đi vào cuộc sống,
vừa có tác dụng giáo dục, phòng ngừa, ngăn chặn, vừa là căn cứ để phát hiện và xử
lý các sai phạm, tham nhũng.[11]
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cải cách hành chính, hồn thiện các quy định xây
dựng nền cơng vụ minh bạch, liêm chính phục vụ, công khai minh bạch. Sửa đổi
quy định về tặng quà và nhận quà, về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan tổ
chức đơn vị trong phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng. Khắc phục những
hạn chế của việc chuyển đổi vị trí cơng tác nhằm phòng ngừa tham nhũng.
Đổi mới chế độ tiền lương và các chính sách đãi ngộ cho cán bộ, cơng chức,
viên chức nhà nước còn được xem là một phương án phòng, chống hữu hiệu đối với
11


nạn tham nhũng, nhất là tệ nạn “tham nhũng vặt”. Cần phải có chính sách đãi ngộ
đối với cán bộ, công chức và nâng mức lương của cán bộ, công chức đủ ni sống
bản thân, gia đình và có tích luỹ thì mới hạn chế được tham nhũng, nhất là “tham
nhũng vặt” ở Việt Nam hiện nay.
2. Hoàn thiện, bổ sung, sửa đổi chính sách pháp luật
Một là, Luật phịng chống tham nhũng cần tiếp tục sửa đổi để quy định một cách
toàn diện, bao quát, nhất là quy định cụ thể các biện pháp để bảo đảm thực hiện
việc công khai, minh bạch đầy đủ, kịp thời các hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn

vị để mọi người biết. Ngồi ra, Luật Phịng, chống tham nhũng cần quy định các
biện pháp hữu hiệu để quản lý, xác minh các tài sản, thu nhập của những người có
chức vụ, quyền hạn; cần có các cơ quan, tổ chức chuyên trách quản lý, xác minh
các bản kê khai tài sản, thu nhập xem có đúng khơng, có trung thực, chính xác
khơng.[12]
Hai là, hồn thiện pháp luật hình sự. Để đấu tranh phịng, chống tham nhũng có
hiệu quả hơn, chúng tơi cho rằng cần tiếp tục hồn thiện pháp luật về hình sự, cụ
thể: bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với tội phạm đưa hối lộ và xây
dựng chế tài thích hợp với pháp nhân. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định trách
nhiệm hình sự của pháp nhân và giới hạn trong 31 tội danh, trong đó, khơng có tội
đưa hối lộ.
Ba là, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kiện dân sự để thu hồi tài sản tham
nhũng. Thông thường cách thức tốt nhất để xử lý tham nhũng và thu hồi tải sản
tham nhũng là điều tra và truy tố hình sự. Tuy nhiên, biện pháp hình sự này cũng có
một số hạn chế, bao gồm yêu cầu tiêu chuẩn cao về bằng chứng buộc tội. Theo
nghiên cứu của chúng tôi, việc thu hồi tài sản tham nhũng có thể khởi kiện về tài
sản theo pháp luật dân sự và tố tụng dân sự.[15]
12


Bốn là, bổ sung quy định pháp luật về vấn đề từ thiện. các vụ việc từ thiện gần
đây liên quan vấn đề “sao kê”, minh bạch là hệ quả của việc làm từ thiện mà thiếu
khung pháp lý rõ ràng. Hiện nay khơng có một quy định cụ thể đối với các cá nhân,
tổ chức đứng ra kêu gọi đóng góp, phương tiện cũng như cam kết thực hiện. Các
hoạt động gây quỹ đều thông qua mạng xã hội và ủng hộ chủ yếu dựa vào niềm tin
cá nhân chứ khơng có một sự cam kết, trách nhiệm ràng buộc nào bằng văn bản hay
quy định pháp luật. Chính vì vậy, Nhà nước cần đưa ra quy định pháp luật về vấn
đề này để hoàn thiện cơ chế pháp luật để việc thiện nguyện trở nên minh bạch hơn.
Năm là,tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu.
Trên thực tế vẫn còn một số hành vi lách luật hoặc không tuân thủ đầy đủ quy định

của pháp luật đấu thầu, quá trình kiểm tra cũng đã phát hiện nhiều sai sót, sai phạm
xảy ra trong cơng tác đấu thầu. Điển hình như chỉ định thầu đối với một số gói thầu
khơng đúng quy định (có gói thầu thời gian thực hiện gói thầu vượt 18 tháng, chưa
xác định hoặc không đủ nguồn vốn khi chỉ định thầu); lập, thẩm định phê duyệt kế
hoạch đấu thầu thì khơng đủ nội dung, khơng đúng thẩm quyền, chia nhỏ gói thầu
để chỉ định thầu...
Vì vậy, chúng tơi cho rằng, trên cơ sở tính ưu việt của Luật Đấu thầu 2013 và
Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, cùng với Bộ KH&ĐT, các Bộ, ngành khác cần triển
khai soạn thảo, ban hành các quy định cụ thể, chi tiết về đấu thầu phù hợp với đặc
điểm, tính chất của từng ngành, lĩnh vực.
Ngoài ra, cần đẩy mạnh triển khai đấu thầu qua mạng. Đây là một trong những
công cụ hiệu quả của Nhà nước trong việc tăng cường công khai, minh bạch thông
tin trong đấu thầu, nâng cao hiệu quả và tiết kiệm trong hoạt động đấu thầu sử dụng
vốn nhà nước.[14]

13


Xong, tăng cường hoạt động giám sát, kiểm tra công tác đấu thầu, trong đó
thanh tra, kiểm tra, giám sát là công cụ để Nhà nước quản lý việc thực hiện công
tác đấu thầu.
Sáu là,một trong những khoảng trống lớn nhất của Luật Đất đai năm 2013 là
vấn đề tài chính đất đai và minh bạch thơng tin về đất đai. Pháp luật trao quyền thu
hồi đất của người này xong giao đất cho thuê cho một nhà đầu tư đã được nhắm tới.
Định giá như thế nào là người có thẩm quyền được quyết định? Đấy là kẽ hở, người
có thẩm quyền ln ln lợi dụng để lấy chênh lệch chia nhau.
Mặt khác, cùng một vấn đề liên quan đến đất đai hiện nay, chúng ta có quá
nhiều luật điều chỉnh phức tạp. Những vấn đề được quy định ở Luật Đất đai nhưng
khi xây dựng nhà trên miếng đất đó phải thực hiện theo Luật Nhà ở; nếu đất đó là
đất cơng thì phải tn theo Luật Đầu tư cơng. Cịn nếu đất đó được mua bán, lại

liên quan đến Luật Kinh doanh bất động sản; rồi sự thiếu đồng bộ trong phân công
quản lý về đất đai, thì giao cho ngành Tài ngun mơi trường quản lý đất, nhưng
xác định thuế đất, giá đất lại do ngành Tài chính ban hành. Vì vậy, cần có sự rành
mạch tỏng vấn đề thẩm quyền, tránh có sự mâu thuẫn, chồng chéo.
3. Giải pháp trong việc phát hiện và xử lý tham nhũng
Trước hết, phải quy định rõ và cụ thể quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của
người đứng đầu trong kiểm tra, phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí và bảo vệ
người tích cực đấu tranh phịng, chống tham nhũng. Nghiêm khắc truy cứu trách
nhiệm của tổ chức Đảng các cấp, lãnh đạo, người đứng đầu các địa phương, cơ
quan, tổ chức, đơn vị, khi để người dưới quyền tham nhũng.
Hai là, hoàn thiện các quy định tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng.
Cần ban hành quy định xem xét đơn thư tố cáo tham nhũng nặc danh thì sẽ phát

14


huy hiệu quả, tạo điều kiện cho người dưới quyền, người dân dám nói lên sự thật,
dám tố cáo người có hành vi tham nhũng.
Ba là, cần xét xử nghiêm minh, kịp thời và cơng khai, với những mức hình phạt
thích đáng đối với các hành vi và hậu quả đã gây ra. Áp dụng các biện pháp trừng
phạt một cách triệt để đối với các hành vi tham nhũng dù người đó là ai, giữ bất cứ
cương vị gì cũng phải xử lý. Giải pháp này vừa có tính trừng trị, vừa có tính răn đe
làm cho những kẻ có ý định tham nhũng sợ mà khơng dám tham nhũng.[11]
Ngoài ra, cần chú trọng kiện toàn về tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả
hoạt động và sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vịchức năng phòng chống tham
nhũng; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về phòng chống tham nhũng, từng bước mở rộng
hoạt động phòng chống tham nhũng ra khu vực ngồi nhà nước.
4. Khắc phục tính suy đồi đạo đức
Hoàn thiện các cơ chế và quy định của pháp luật về tuyển trọn, bổ nhiệm, sử
dụng cán bộ, công chức, viên chức để xây dựng đội ngũ cán bộ, cơng chức, viên

chức liêm chính, có tài, có đạo đức và bản lĩnh chính trị vững vàng.
Mặt khác, phải có cơ chế và quy định bảo vệ, khuyến khích những người dám
nghĩ, dám làm, bứt phá, đổi mới, sáng tạo vì sự nghiệp chung, khơng ngại va chạm,
tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Đảng phải xây dựng được các quy
định, quy chế nội bộ, Nhà nước phải hoàn thiện pháp luật về tiêu chuẩn, cách thức
đánh giá đối với đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện cơng
vụ, giữ gìn phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị và sự liêm chính.
Đồng thời, đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng,
nâng cao nhận thức về tác hại của tham nhũng, biết trọng danh dự, giữ gìn phẩm
chất, xây dựng văn hóa “cầm kiệm liên chính”, tự giác “nói khơng” với tham nhũng
trong cán bộ, đảng viên. Từ đó, giúp cho họ tự có sức “đề kháng” chống lại các
15


cám dỗ không trong sáng, ngăn chặn được sự suy thối về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, tạo sự thống nhất cao về ý chí và hành động trong Đảng và Nhà nước
về Phòng chống tham nhũng.[12]
5. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức trong công dân
Tuyên truyền, phổ biến đến đông đảo quần chúng nhân dân về các chủ trương,
chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước để cơng dân tích cực thực hiện
nghiêm chỉnh quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng; giám sát, phát hiện,
thông tin, phản ánh, tố cáo hành vi tham nhũng.
Giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ thanh niên nhận thức rằng tham nhũng
là một hành vi phi đạo đức, cần bị lên án, đấu tranh. Xây dựng nền tảng đạo đức
hướng tới một xã hội trong sạch, đề cao liêm chính, khơng chấp nhận tham nhũng
nhằm thiết lập cơ sở xã hội vững chắc ngăn ngừa tệ nạn này từ gốc.[16]
Bản thân người dân cần chủ động nâng cao ý thức làm chủ của mình, tích cực
tìm hiểu các quy định pháp luật để xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật, hành động
trên cơ sở pháp luật, có hành vi xử sự tích cực trong việc thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của mình nhằm phịng, chống tham nhũng. Từ đó, cơng dân sẽ có hiểu

biết, có ý thức thực hiện đúng quy định của pháp luật (hành xử trong phạm vi pháp
luật không cấm); ý thức được trách nhiệm công dân của mình trong đấu tranh
chống tham nhũng, tiêu cực.

16


C. KẾT LUẬN
Với thực trạng tham nhũng hiện nay có thể xem tham nhũng là một thứ giặc cực
kì nguy hiểm, cản trở nước ta thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, tiến lên xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Và để chống lại loại giặc “ nội xâm” ấy, phải huy động sức
mạnh của nhân dân. Để làm được điều đó, nhà nước ta cần tăng cường thực hiện
cơng tác phổ biến pháp luật phịng chống tham nhũng thơng qua nhiều hình thức
như thơng qua báo chí, thành lập tổ tư vấn pháp luật, thông qua các phương tiện
thông tin đại chúng, loa truyền thống, pa-nơ, áp phích, tranh cổ động, tổ chức thi
tìm hiểu pháp luật, lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ
chức chính trị, đồn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác
ở cơ sở…. nhằm nâng hiểu biết của nhân dân đối với pháp luật về phịng, chống
tham nhũng, đồng thời có ý thức tốt hơn trong việc thực hiện pháp luật và thực hiện
các hoạt động tố cáo những hành vi tham nhũng, góp phần thúc đẩy xã hội phát
triển.

17


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật phòng chống tham nhũng năm 2018
2. Bộ luật hình sự 2015
3. Luật đấu thầu 2013
4. Nghị định số 63/2014/NĐ-CPquy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu

thầu.
5. Luật đất đai 2013
6. Trang thơng tin điện tử tổng hợp ban nội chính trung ương, Những đặc trưng cơ
bản của tham nhũng, truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2021.
7. Thái Đăng (2020), “Nhìn lại đại án 2 năm qua”, Tạp chí điện tử Pháp lý,
< truy cập ngày
22/10/2021.
8. Hồng Hà (2021), “Kết quả xử lý tham nhũng và vi phạm pháp luật về phịng,
chống tham nhũng năm 2020”, Trang thơng tin điện tử tổng hợp Ban Nội chính
Trung ương, truy cập ngày 22/10/2021.
9. Nguyễn Thị Ngọc Xinh (2020), Nguyên nhân và hình thức của hành vi tham
nhũng, Báo Thanh tra Việt Nam, Tạp chí điện tử thanh tra,
truy cập ngày 21/10/2021.

18



×