Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Thứ tự
Kí hiệu viết tắt
Khơng viết tắt
1
SKKN
Sáng kiến kinh nghiệm
2
GV
Giáo viên
3
HS
Học sinh
4
SGK
Sách giáo khoa
5
CTGD2018
Chương trình giáo dục 2018
6
THPT
Trung học phổ thông
7
GDĐT
Giáo dục đào tạo
8
GAĐT
Giáo án điện tử
9
CNTT
Công nghệ thông tin
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
MỤC LỤC
TRANG BÌA................................................................................................................................. 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ..................................ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED.
MỤC LỤC ............................................................................................................................... ....3
TÊN SÁNG KIẾN................................................................................................................... ....4
BÁO CÁO SÁNG KIẾN ............................................................................................................ 5
I. ĐIỀU KIỆN TẠO RA SÁNG KIẾN ..................................................................................... 5
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP ........................................................................................................... 10
1. Giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến .................................................................................. 10
2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến ........................................................................... 11
3. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................................................. 15
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................... 16
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................ ....17
6. Giới hạn đề tài ....................................................................................................................... 18
7. Những đóng góp của sáng kiến ........................................................................................... 19
III. HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN ĐEM LẠI ........................................................................... ....19
1. Hiệu quả kinh tế.................................................................................................................... 19
2. Hiệu quả về mặt xã hội ......................................................................................................... 68
3. Khả năng và nhân rộng ........................................................................................................ 78
IV. CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN QUYỀN ............................ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................ 84
1. Tên sáng kiến: NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP, KIỂM TRA,
ĐÁNH GIÁ, THÍ NGHIỆM CỦA HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG
PHÁP SỬ DỤNG 05 PHẦN MỀM.
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Hiện nay ở nước ta đang đổi mới giáo dục, thay đổi chương trình SGK
GDPT 2018, việc cung cấp các thiết bị thí nghiệm trong thời gian tới là chưa đáp
ứng kịp thời, phương pháp dạy học phù hợp với CTGD2018 mơn Vật lí theo
phương thức trắc nghiệm, chuyển dịch định hướng HS THPT sang định hướng
nghề nghiệp, dạy học sinh cách áp dụng kiến thức đã học để tạo ra các sản phẩm
cho chính mình (STEM).
Lí do chọn đề tài: Cách mạng 4.0 cũng như những cuộc cách mạng trước đó đã tác
động tới mọi mặt của đời sống xã hội với những mức độ và chiều hướng khác nhau.
Giáo dục là một trong những ngành chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của cuộc cách
mạng 4.0 vì sản phẩm của đào tạo phải đáp ứng với nhu cầu của thị trường lao
động đang có sự thay đổi nhanh chóng. Vì vậy, giáo viên phải có áp dụng cơng
nghệ thông tin vào trong giảng dạy để đáp ứng với xu hướng hiện nay.
Do bộ mơn Vật lí là một bộ mơn có tính đặc thù, khi người học chủ động, tích
cực thì kết quả học tập sẽ được nâng cao. Việc này địi hỏi trong q trình giảng
dạy giáo viên phải kết hợp được những phương pháp dạy học để truyền hứng thú,
đam mê cho người học, trong đó kiểm tra kết quả học tập của học sinh là một khâu
quan trọng trong dạy học, là một trong những yếu tố quyết định chất lượng dạy và
học.
Trong một tiết học để học sinh tiếp thu được nội dung thấu đáo bài học là một
điều trăn trở của rất nhiều giáo viên, nhất là ngày nay CNTT có rất nhiều phần
mềm mà giáo viên cần và rất cần phải khai thác, mỗi một hoạt động của học sinh
giáo viên cần ứng dụng các phần mềm khác nhau để học sinh có một tư duy đơn
giản nhưng đạt hiệu quả nhất. Sau đây tôi ứng dụng 05 phần mềm chủ đạo trong
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
một
tiết
học:
PowerPoint;
PhEt;
DroidCamApp;
ShubClassroom,
Ispringsuite10.
Bộ mơn Vật lí là bộ mơn khoa học thực nghiệm. Tư tưởng chủ đạo của các
sách giáo khoa Vật lí trung học phổ thơng là nội dung kiến thức mới được hình
thành phần lớn thơng qua các thí nghiệm thực hành, phương pháp giảng dạy. Điều
đó khơng chỉ tích cực hố việc học tập của học sinh mà cịn rèn luyện kỹ năng sử
dụng thiết bị, đồ dùng trong cuộc sống, rèn luyện thái độ, đức tính kiên trì, tác
phong làm việc của những người làm khoa học trong thời đại cơng nghệ, đặc điểm
này địi hỏi giáo viên vật lí phải tăng cường sử dụng thiết bị thí nghiệm và các
phương pháp trực quan trong quá trình dạy học. Đó là một yếu tố có tính đột phá
đối với chiến lược đổi mới phương pháp dạy học vật lí hiện nay. Bởi việc sử dụng
thí nghiệm và phương tiện trực quan dạy học vật lí sẽ góp phần tích cực vào đổi
mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học
sinh. Vì như chúng ta đều biết, thí nghiệm và phương tiện trực quan giữ vai trò
quan trọng trong dạy học Vật lí ở trường THPT, bởi nó khơng chỉ là nguồn cung
cấp thơng tin mà cịn là yếu tố kích thích hứng thú, khuyến khích tính tích cực, chủ
động và sáng tạo của học sinh trong học tập bộ môn.
Thực tế dạy học trong nhiều năm qua, chất lượng thiết bị, thời gian thí nghiệm,
thói quen có rất nhiều hạn chế, gây nhiều lúng túng cho giáo viên và học sinh. Mặt
khác, trong chương trình Vật lí THPT ngồi các bài thí nghiệm được chỉ định tối
thiểu và đã có các thiết bị đi kèm, thì rất nhiều nội dung thí nghiệm khác trong sách
giáo khoa chưa có dụng cụ thí nghiệm.
Do đất nước ta vừa thoát ra khỏi dịch bệnh, kinh tế khó khăn do những bất ổn,
xung đột trên thế giới, chỉ số CPI tăng cao, việc các trường học có đầy đủ dụng cụ
thí nghiệm để giáo viên làm thí nghiệm kiểm chứng cho học sinh trong một sớm,
một chiều là chưa đáp ứng kịp. Từ đó, dẫn đến học sinh không kiểm chứng được,
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
khó hình dung nội dung bài học …. Đây cũng chính là điều lo lắng và trăn trở của
khi nhiều giáo viên lên lớp.
Chương trình CTGD 2018 là sự phân hóa và định hướng lựa chọn nghề
nghiệp, STEM, tạo ra tính sáng tạo trong học tập, nghĩa là giáo viên dạy lý thuyết
để học sinh áp dụng kiến thức đã học để mục đích tạo ra một sản phẩm. Do bộ mơn
Vật lí là một bộ mơn có tính đặc thù, khi người học chủ động, tích cực thì kết quả
học tập sẽ được nâng cao việc này đòi hỏi trong quá trình giảng dạy giáo viên phải
kết hợp được những phương pháp dạy học để truyền hứng thú, đam mê cho người
học là một trong những yếu tố quyết định chất lượng dạy và học. Trong một tiết
học để học sinh tiếp thu được nội dung bài học thấu đáo là một điều trăn trở của rất
nhiều giáo viên, mục đích học sinh có một tư duy đơn giản nhưng đạt hiệu quả nhất
, trong bối cảnh hiện nay CTGD 2018 có rất nhiều các thí nghiệm để học sinh hiểu,
kiểm chứng lý thuyết, biết vận dụng lý thuyết đã học để tạo ra các sản phẩm để ứng
dụng trong cuộc sống là mục tiêu đổi mới theo chương trình.
Có rất nhiều yếu tố để tạo ra một giờ dạy học hiệu quả nhưng trong phạm vi
bài viết này tôi chỉ đề cập đến sử dụng 05 phần mềm như sau:
- PowerPoint - mục đích dùng để trình chiếu bài giảng, tăng cường tính trực
quan, góp phần nâng cao chất lượng lĩnh hội và nắm vững kiến thức, phát triển
nâng cao năng lực tư duy, độc lập và sáng tạo của học sinh, tôi kết hợp phần mềm
PowerPoint với PhEt vì hai phần mềm này tương thích với nhau.
- PhEt - mục đích để làm các thí nghiệm kiểm chứng trực quan có liên quan
đến nội dung bài học, khắc phục được phần lớn: các thí nghiệm hiện đang thiếu,
giảm thời gian đấu nối các thiết bị thí nghiệm, tránh tình trạng hỏng hóc, số lượng
thiết bị cung cấp có hạn, khơng phải vận chuyển các thí nghiệm, HS khơng phải tư
duy trừu tượng, HS có thể xem, làm được các thí nghiệm mọi lúc, mọi nơi, tiết
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
kiệm ngân sách cho nhà nước nhưng vẫn đảm bảo HS đặc biệt quan trọng nhất là
rất an toàn cho HS nhất là an toàn điện, tránh tiếp xúc với các hóa chất độc hại, dễ
nổ, dễ cháy; trong nhà trường các thiết bị thí nghiệm được cấp về số lượng có hạn,
do sự trùng tiết học một số GV khi muốn thực hiện thí nghiệm nhưng khơng đủ về
số lượng giáo viên lại sử dụng phương pháp trình chiếu, thì PhEt khắc phục được
yếu tố này.
Việc tiến hành thí nghiệm, giải thích hoặc tiên đốn kết quả thí nghiệm đòi hỏi
học sinh phải phát huy, huy động các kiến thức đã học ở nhiều thành phần khác
nhau của Vật lí. Do đó, các kiến thức mà học sinh đã lĩnh hội được củng cố đào
sâu, mở rộng và hệ thống hoá kiến thức, việc sử dụng các dụng cụ thí nghiệm mà
HS tự làm ở nhà trong dạy học Vật lí ở THPT là rất cần thiết. Vì trong nhiều trường
hợp, các chi tiết của thiết bị thí nghiệm hiện đại có thể che lấp bản chất Vật lí của
hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm mà học sinh cần phải quan sát.
- Ispringsuite10- mục đích dùng để tạo các câu hỏi kéo thả, ghép câu ... tùy
theo thiết kế của GV có thể cho các em làm lại khi đã chọn đáp án bao nhiêu lần,
chúng cũng được tương thích trên phần mềm PowerPoint.
- DroidCamApp - mục đích dùng chụp, quay video kết quả hoạt động nhóm
bằng điện thoại thông minh, điện thoại trông minh kết nối với Laptop, Laptop kết
nối với máy chiếu, dùng để trình chiếu kết quả hoạt động của mỗi nhóm để HS cả
lớp cùng xem, suy nghĩ, nhận xét, bổ sung những ưu điểm, khuyết điểm và cho
điểm nhóm bạn. GV có kết quả từ HS tự đánh giá cũng có cho điểm khách quan
hơn, HS cũng cảm thấy trong tâm trí đồng ý với việc cho điểm, nhận xét ưu điểm,
khuyết điểm từ đó điều chỉnh việc học của bản thân trên tinh thần tự nhận thấy để
khắc phục
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
- ShubClassroom - mục đích dùng để giao bài tập, hoàn thành các phiếu học
tập, bài tập, mà thu được kết chính xác và nhanh .
Về phía giáo viên: Giúp cho giáo viên dạy bộ mơn Vật lí được thuận lợi trong
việc chuẩn bị cũng như tổ chức kiểm tra cho học sinh. Đồng thời đây cũng là
phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả trong dạy học,
giao bài tập về nhà, tài liệu tham khảo....
Về phía học sinh: Tạo hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em rèn luyện
tính độc lập cao trong kiểm tra, làm quen được một trong những phương pháp
kiểm tra đánh giá trực tuyến đang phổ biến hiện nay.
Thu được kết quả HS hồn thành trên ShubClassroom trình chiếu cho cả lớp
để đánh giá.
Giảm được chi phí về photo tài liệu cũng như tiết kiệm được thời gian phát
phiếu học tập.
Giảm thời gian chấm bài của giáo viên cũng như những sai sót trong việc
chấm bài của giáo viên. Khi không áp dụng CNTT giáo viên mang bài về nhà
chấm, tiết học tới mới điều chỉnh được quá trình học của những HS yếu.
Giáo viên thu nhận được điểm số từ bài làm của HS, từ điểm số đó GV có thể
điều chỉnh q trình dạy, cần quan tâm đến những HS yếu, để những HS đó điều
chỉnh q trình học.
Việc đánh giá các nhóm hoạt động trên lớp học cũng cịn thụ động, lí do giáo
viên chấm thì học sinh thụ động mang lại hiệu quả chưa cao, việc để các nhóm tự
đánh giá giữa các nhóm, học sinh học được cách đánh giá và rút ra được phần bài
tập của nhóm mình chưa ưu điểm bằng nhóm khác, kích thích học sinh hơn nữa,
tạo tính thi đua giữa các nhóm. Do vậy, giáo viên kết hợp điện thoại thông minh
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
với máy tính và hình ảnh đó được đưa lên máy chiếu. Học sinh nhìn một cách trực
quan, mặc khác tiết kiệm được chi phí khi dùng giấy A0.
Về nghiên cứu tôi sử dụng cách thu thập dữ liệu bằng cách phát phiếu để các
em đánh mức độ hài lòng về tiết học đó, theo cấu trúc đa cơ sở AB.
Về kết quả thu được là đáng khích lệ có độ tin cậy và độ giá trị cao, đối với
tiết học có sử dụng cơng nghệ thơng tin thì học sinh thu được kiến thức cao hơn (
thông qua bài kiểm tra) so với tiết học truyền thống. Vậy công nghệ thơng tin có
ảnh hưởng rất lớn tới việc giúp học sinh tiếp thu được kiến thức mới.
Về phía giáo viên giúp cho giáo viên dạy bộ mơn Vật lí được thuận lợi trong
việc giảng bài mới trên lớp để các em tiếp thu bài hiệu quả, phịng thí nghiệm
khơng thể trang bị đầy đủ các thiết bị thí nghiệm, qua đó giáo viên có thể sử dụng
thí nghiệm phù hợp với nội dung bài học để học sinh hạn chế được tư duy trìu
tượng, hơn nữa làm bài giảng thêm sinh động tạo hứng thú và tư duy của học sinh.
Về phía học sinh tạo hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em tiếp thu bài
học mới hiệu quả hơn.
Xuất phát từ lí do trên tơi chọn đề tài nghiên cứu “ Nâng cao hiệu quả học tập
của học sinh bằng cách ứng dung công nghệ thông tin vào trong học tập”
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1. Giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
Chương trình giáo dục 2006 thơng thường giáo viên lên lớp trình chiếu bài
giảng điện tử chạy trên phần mềm PowerPoint, thông thường học sinh ghi từng đề
mục, có những thí nghiệm ảo, việc đánh giá kết quả học tập của học sinh dựa trên
phát phiếu học tập cho học sinh hoạt động cá nhân/ nhóm và sau đó gọi học sinh trả
lời. việc học sinh làm thí nghiệm ở nhà là điều khơng thể thự hiện được, các câu
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
hỏi chỉ thực hiện 01 lần đã biết kết quả mà không làm lại lần 2 được, không thực
hiện được tuần tự các câu hỏi trắc nghiệm, tài liệu chuyển giao cho học sinh thường
photo, bài giảng mà học sinh muốn xem lại không thực hiện được, các tài liệu này
khi học sinh lên lớp cao hơn thường rất nhiều khó tìm kiếm, khó đánh giá được
chính xác kết quả của từng học sinh…Để khắc phục những nhược điểm trên tôi
viết sáng kiến này.
2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến.
Qua thời giảng dạy bộ mơn Vật lí ở trường THPT Trực Ninh B, tôi luôn trăn
trở làm thế nào để học sinh học tập tích cực hơn? Làm thế nào để có kết quả khả
quan hơn? Một giải pháp tôi thực hiện là kết hợp 05 phần mềm trong 1 tiết học để
tiến hành giảng dạy, làm thí nghiệm số, củng cố kiến thức, vận dụng kiến thức đã
học để giải quyết các dạng bài tập phát sinh, kiểm tra, làm hoạt động nhóm … phù
hợp với CT 2018. Do đó hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan được áp dụng
cả trong các bài kiểm tra thường xuyên, ngay cả những bài kiểm tra miệng hay các
bài tập ôn tập cũng áp dụng câu hỏi trắc nghiệm cho học sinh giải dưới các hình
thức như làm cá nhân hoặc làm theo nhóm...
Đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học
môn Vật lí thực hiện một cách cấp thiết cùng với xu hướng đổi mới giáo dục
phù hợp CT 2018, tạo sự sáng tạo của HS, phải có thí nghiệm kiểm chứng, ,
STEM, nhất là định hướng nghề trong tương lai của HS, như vậy việc đổi mới
phương pháp dạy học phải là điều tất yếu để phù hợp với chương trình, bắt
nhịp với xã hội cùng phát triển, theo đúng sự định hướng của chỉ đạo của
Đảng và nhà nước, phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học
sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực
tiễn, đem lại niềm vui, hứng thú, hạnh phúc học tập cho học sinh”.
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
Sự đổi mới của nội dung, chương trình SGK đặt ra yêu cầu phải đổi mới
phương pháp dạy học, khắc phục lối truyền thụ một chiều, phải công nhận
kiến thức, chiếu chép, đọc chép, không rèn phát triển được tư duy sáng tạo
của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện,
thí nghiệm số vào trong quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian
tự học, tự nghiên cứu của học sinh học mọi lúc, mọi nơi.
Tuy nhiên, hiện nay chất lượng giảng dạy, học tập, đổi mới CTGD chưa
thực sự làm cho xã hội an tâm. Vì thế việc đổi mới CTGD phải đổi mới cách
truyền thụ kiến thức của GV, đổi mới cách tiếp nhận kiến thức của HS một
cách tồn diện về suy nghĩ, óc sáng tạo lẫn phương pháp dạy học Vật lí là vơ
cùng cần thiết. Phương pháp dạy học phù hợp với CT 2018 đòi hỏi GV phải
am hiểu, chịu khó tìm tịi, hiểu sâu hơn về CNTT để áp dụng vào bài học đó là
một điều tương đối khó đối với một số GV. Tất cả đều nhằm mục đích tích
cực hố hoạt động của học sinh, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, đánh
giá kết quả tiếp thu bài học, học sinh đánh giá với nhau ...
Khi sử dụng CNTT để xây dựng bài giảng điện tử được xem là một trong
những cơng cụ đem lại hiệu qủa tích cực trong việc đổi mới dạy và học nhưng
việc thiết kế, tích hợp các phần mềm tương thích với nhau để tạo ra một sâu
chuỗi thì cần phải am hiểu về CNTT lại có một sự chuẩn bị bài thấu đáo, giải
quyết được các tình huống phát sinh trong tiết dạy một cách hợp lý thì cần
phải có một kĩ năng được thực hiện, trải nghiệm khi dạy, chiều sâu về kiến
thưc, chịu khó cập nhật những thơng tin gần nhất, phải đắn đo, phải suy nghĩ,
GV phải đặt mình vào vai trị HS thì mới phát huy được, giải quyết trọn vẹn
bài giảng. Thực hiện giáo án điện tử hay bài giảng điện tử giáo viên cần có sự
hỗ trợ của máy tính. Các hoạt động dạy và học được thiết kế hợp lý trong một
cấu trúc chặt chẽ, sử dụng 04 phần mềm phải có tính tương hỗ, kết hợp được
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
vơi nhau: các hình ảnh, âm thanh, thí nghiệm số minh hoạ để chuyển tải tri
thức và điều khiển người học. Khi lên lớp bằng bài giảng điện tử, giáo viên
phải thực hiện một bài giảng với toàn bộ hoạt động giảng dạy đã được chương
trình hóa một cách sinh động nhờ sự hỗ trợ của các công cụ đa phương tiện đã
được thiết kế trong bài giảng điện tử.
Từ thực tiễn dạy và học bộ mơn Vật lí của giáo viên và học sinh với
phương pháp dạy học cũ khơng cịn phù hợp với CTGD 2018, thụ động trong
học tập, chưa có thí nghiệm mà HS tự làm mà chỉ có thí nghiệm GV làm HS
quan sát, chưa tạo được học mọi lúc, mọi nơi, việc tìm tài liệu liên quan đến
bài học cũng khó thì trong đề tài SKKN này tơi sẽ giải quyết được vấn đề đó.
Trong thời đại bùng nổ CNTT GV áp dụng vào dạy học nhiều nhưng kết quả
chưa cao vì vẫn cịn chuyển tiếp chương trình CTGD 2006, chưa có định
hướng rạch rịi về định hướng nghề nghiệp. Nhiều giáo viên chỉ biết đưa ra
những hình ảnh nhưng khơng biết khai thác hình ảnh, thí nghiệm đó như thế
nào, hoặc nếu thí nghiệm bị hỏng thì GV dùng thí nghiệm ảo, trình chiếu HS
ở dưới quan sát và làm theo yêu cầu của GV đưa ra, theo tôi như vậy là chưa
đủ để tạo ra tính sáng tạo của HS. Qua việc tiếp cận CNTT tơi ln ln tìm
tịi, khám phá, học hỏi các bạn đồng nghiệp để làm sao cho bài giảng có tính
ứng dụng CNTT đạt được hiệu quả cao nhất, gây hứng thú học tập bộ môn
cho học sinh. Từ thực tế như vậy, yêu cầu giáo viên phải có phương pháp
đúng để gây được hứng thú học tập đối với HS.
Khi giảng dạy bằng bài giảng điện tử dùng nhiều phần mềm có tính
tương thích, kết hợp được với nhau có những ưu điểm của nó. Đối với giáo
viên, tuy phải đầu tư khá nhiều thời gian và công sức để chuẩn bị một bài
giảng nhưng việc dạy học Vật lí bằng bài giảng điện tử giúp giáo viên hạn chế
bớt phần giảng giải, có thời gian hoạt động nhóm, thảo luận và tăng cường
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
kiểm tra đối với học sinh, thơng qua thí nghiệm số, GV đặt ra những câu hỏi
để kiểm tra sự hiểu bài của HS. Sử dụng CNTT giúp GV đa dạng hố hình
thức kiểm tra, thu được dữ liệu, số liệu đáng tin cậy, đặc biệt trong SKKN này
tơi cịn biết được những HS nào mà mình cần phải chú ý, giúp đỡ, không bỏ
lại các em HS này ở phía sau, như vậy tiết học như vậy theo quan điểm cá
nhân mới thành công, người GV thông qua các phần mềm cung cấp cho học
sinh một khối lượng kiến thức liên quan đủ đáp ứng học bài mới của HS…
liên quan đến nội dung bài học Vật lí mà học sinh được học, như vậy mà tiết
học trở nên sôi nổi và sinh động hơn chuyển sang tiếp nhận kiến thứ chủ
động, chuyển được trạng thái, HS tự hình thành kiến thức, GV chỉ đóng vai
trị giải quyết khó khăn khi HS khơng giải thích được, chuyển hóa q trình
quan sát thí nghiệm, giờ đây HS tự làm thí nghiệm trở thành kĩ năng, qua
SKKN này tơi có quan điểm chuyển hóa HS với tư duy “ mắt nhìn để quan
sát, tai nghe, tay thực hiện hiện, óc suy nghĩ và sang tạo theo quan điểm
riêng của cá nhân mình”. Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy bằng bài
giảng điện tử cũng không tránh khỏi những bất cập mà bản thân giáo viên nào
cũng phải tìm cách khắc phục... Đối với học sinh, việc học tập Vật lí thơng
qua việc ứng dụng các phần mềm tin học tạo nhiều hứng thú cho các em trong
học tập, giúp HS tiếp cận, nhận thức, sơi nổi hơn, có thể hỏi được tất cả các
thành viên trong lớp học “ học thầy khơng tày học bạn” chính các em hỏi
nhau, trả lời cho bạn theo tơi là rất cần thiết, vì các em gần gũi với nhau, cùng
trang lứa do vậy trả lời theo cách của bản thân mình, trả lời cho bạn đó cũng
là một cách học chủ động, cùng nhau tiếp thu kiến thức. Khi có những vấn đề
phát sinh mà HS với HS không trả lời dduocjwj hoặc trả lời sai thhif GV có
sự can thiệp, định hướng lại, thậm trí trả lời, sửa sai trực tiếp cho HS đó
nhưng cả lớp đều biết được cách trả lời, giải thích của GV trên lớp học ảo, từ
đó nội dung kiến thức Vật lí học sinh thu thập đầy đủ hơn và khắc sâu hơn
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
kiến thức vào trong trí nhớ của các em mà khơng phải học một cách máy móc
có câu nói “ Tôi nghe tôi quên, tôi làm tôi nhớ”, trong SKKN này tơi sẽ để HS
tự làm các thí nghiệm số, các thí nghiệm này dễ thay đổi các thơng số, tư duy
trực quan hơn, dễ hiểu bài hơn, theo tôi thì phần mềm PhEt đáp ứng được
CTGD2018.
Việc soạn đề và tiến hành kiểm tra trắc nghiệm mất khá nhiều thời gian của
giáo viên. Hầu hết công việc soạn câu hỏi trắc nghiệm đều thực hiện bằng phần
mềm máy tính giúp giáo viên dễ dàng lưu trữ lâu dài trên máy tính. Đối với việc
kiểm tra trắc nghiệm, giáo viên phải photo đề phát cho học sinh, tuy nhiên cách làm
này thường chỉ thực hiện khi giáo viên tiến hành kiểm tra định kỳ, cịn đối với kiểm
tra miệng hay ơn tập hầu như làm trên phiếu học tập. Ngoài ra, trong giờ học Vật lí
các em thường bị động, trong tiết kiểm tra có thể có tình trạng quay cóp cũng như
xem bài của nhau rất nhiều, việc chấm bài của GV cũng mất khá nhiều thời gian
mới cho được thông tin ngược từ HS nhưng từ khi tôi kết hợp ShubClassroom
trong khi giảng dạy, tôi thu được kết quả ngay, có thể trình chiếu kết quả làm bài
của từng HS, hay nhóm HS với mục đích để HS tự đánh giá, so sánh bài của mình
(nhóm mình) với bài của bạn ( nhóm bạn) để đánh giá chéo nhau đáp ứng được
chương trình đổi mới giáo dục hiện nay. Khi chưa sử dụng phần mềm thường GV
chỉ hỏi được các câu hỏi ngắn hoặc đúng, sai nhưng khi sử dụng phần mềm nạy
lồng ghép vào trong tiết học có cái nhìn mới hơn, đánh giá chính xác các nhóm, vị
thứ của từng HS, để học sinh có cái nhìn khách quan cho điểm, đánh giá của GV.
HS tâm phục về điểm, sự đánh giá của thầy, cô để điều chỉnh cách học của mình.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ đưa ra một số ứng dụng CNTT dựa trên kinh nghiệm giảng dạy,
thực tế học tập của học sinh và qua nghiên cứu tài liệu của các giáo viên trong tổ.
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
Sáng kiến kinh nghiệm tập trung nghiên cứu và đưa ra một số kinh
nghiệm trong tổ chức dạy học có ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hứng thú
cho học sinh trong học tập bộ mơn Vật lí.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
Giúp học sinh có cách học phù hợp với CT 2018.
4.1. Mục đích:
Một trong những phương pháp đặc trưng của bộ mơn Vật lí là phải gây
được hứng thú, phát huy được tính tích cực học tập của học sinh đó là sử
dụng đồ dùng, thí nghiệm số, cơng cụ dạy học đúng mục đích, u cầu của
việc nhận thức. Ở đây người thầy có vai trị đặc biệt quan trọng giúp học
sinh sử dụng đúng có hiệu quả theo nội dung của bài học. Bởi dạy học bằng
ứng dụng CNTT rất phong phú, đa dạng, sinh động như: thí nghiệm kiểm
chứng, hình ảnh, sơ đồ,...do đó người thầy phải giúp học sinh khai thác đúng
mục đích tránh dư thừa, làm rối, HS không định hướng được nội dung bài
học. Từ đó các em có được sự hứng thú trong học tập và phát huy được tính
sáng tạo, phát triển khả năng tư duy, hình thành các kỹ năng khi giải thích
các hiện tượng Vật lí. Ứng dụng cơng nghệ thơng tin trong dạy học Vật lí
tạo hứng thú hơn cho học sinh trong học tập nhằm nâng cao chất lượng đào
tạo. Đặc biệt người thầy phải định hướng cho HS tránh tình trạng chiếu
chép, mỗi một lớp học thì GV phải cần điểu chỉnh phương pháp, nội dung
bài giảng tránh nhàm chán, dập khuôn một cách máy móc, khơng phát huy
được tính sáng tạo, địi hỏi GV phải soạn bài, chuẩn bị , định hướng, khu trú
HS, lường trước được tình huống phát sinh để giải quyết các tình huống đó
phù hợp, trơi chảy nhất => HS tiếp thu được kiến thức tốt nhất.
4.2. Nhiệm vụ:
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
Nghiên cứu một số vấn đề liên quan trực tiếp đến nội dung của đề tài:
tìm hiểu nội dung CT 2018, phương pháp, vị trí, nhiệm vụ của bộ mơn, kĩ
năng tiếp nhận kiến thức của học sinh đối với bộ mơn Vật lí.
Đề xuất một số giải pháp góp phần gây hứng thú học tập, kiểm tra cho
học sinh khi ứng dụng CNTT, nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn.
5. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối 11 trường THPT Trực Ninh B, huyện
Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Chọn lớp 11G, 11H là nhóm đối chứng và nhóm thực
nghiệm. Khi nghiên cứu đề tài này tôi áp dụng phương pháp thực nghiệm qua thực
tế áp dụng vào quá trình học kết hợp với, phân tích, nhận xét.
- Phương pháp quan sát: Người thực hiện đề tài tự tìm tịi nghiên cứu, tiến
hành dự giờ thăm lớp của đồng nghiệp.
- Phương pháp trao đổi, thảo luận: Sau khi dự giờ của đồng nghiệp, có thực
hiện ứng dụng CNTT trong giờ giảng để tiến hành trao đổi, thảo luận để từ đó rút
ra những kinh nghiệm cho tiết dạy.
- Phương pháp thực nghiệm: Giáo viên tiến hành dạy theo mục đích, yêu cầu
của tiết học theo kế hoạch, kịch bản đã ... phù hợp với CT 2018.
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Giáo viên kiểm tra việc tiếp thu kiến thức
của học sinh qua giờ học để có những điều chỉnh phù hợp.
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Nghiên cứu về các thiết bị tối thiểu Bộ giáo dục quy định,
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dung thí nghiệm đơn giản trong q trình
dạy học.
Nghiên cứu nội dung sách giáo khoa Vật lí 10 chương trình THPT (CT2018).
5.2. Phương pháp xử lý số liệu.
Phương pháp sử dụng số liệu theo phương pháp xử lí số liệu theo phương pháp
thống kê đường dữ liệu theo hàm bậc 2 và bảng T – Test.
Về nghiên cứu tôi sử dụng cách thu thập dữ liệu bằng cách phát phiếu để các
em đánh mức độ hài lịng về tiết học đó, theo cấu trúc đa cơ sở AB.
Về kết quả thu được là đáng khích lệ có độ tin cậy và độ giá trị cao, đối với
tiết học có sử dụng thiết bị thí nghiệm số thì học sinh thu được kiến thức cao hơn (
thông qua bài kiểm tra, trả lời các câu hỏi) so với tiết học giáo viên tự làm thí
nghiệm. Như vậy thiết bị số có ảnh hưởng rất lớn tới việc giúp học sinh tiếp thu
được kiến thức mới.
6. Giới hạn đề tài.
- Đổi phương pháp trong dạy học, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS.
- Sử dụng một số thí nghiệm số trong dạy học.
- Thiết kế một số sile sử dụng phần mềm Ispringsute.
- Sáng kiến kinh nghiệm tập trung nghiên cứu và đưa ra một số kinh
nghiệm trong tổ chức dạy học có ứng dụng CNTT phù hợp với CTGD2018
nhằm nâng cao hiệu quả học tập, tạo hứng thú cho học sinh trong học tập bộ
mơn Vật lí, đánh giá được kết quả bài làm của HS ngay trong tiết học, HS biết
được điểm chính xác của mình, nhìn thấy phổ điểm và vị trí thứ hạng của HS
để điều chỉnh q trình học, GV có được dữ liệu nhằm khơng bỏ rơi những HS
yếu đồng thời có thơng tin dữ liệu ngược điều chỉnh quá trình dạy.
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
- Ứng dụng CNTT trong dạy học bộ môn Vật lí tại trường THPT Trực
Ninh B, khảo sát tại lớp 11G, 11H.
7. Những đóng góp của sáng kiến.
- Nghiên cứu, tổng hợp, hệ thống hóa và tiếp thu những cơ sở lí luận trong
việc xây dựng một số phương pháp để học sinh có được cách học phù hợp nhằm
với CT GDPT 2018 đạt hiệu quả cao nhất.
- Nghiên cứu, điều tra thực trạng của việc sử dụng một số phương pháp dạy
học phù hợp nhằm với CT GDPT 2018.
- Xây dựng một số giáo án sử dụng một số phương pháp dạy học phù hợp
phù hợp nhằm với CT GDPT 2018.
III - HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI.
1. Hiệu quả kinh tế.
1.1. Thực trạng đổi mới phương pháp dạy học để phù hợp với phù hợp nhằm với
CT GDPT 2018
Mục đích việc sử dụng thí nghiệm là:
Giáo viên phải nắm vững các thiết bị trong phịng thí nghiệm số để phục vụ
cho mục đích giảng dạy của bài học mình cần làm thí nghiệm ở hoạt động nào của
bài học, từ đó giáo viên sắp xếp các thí nghiệm số đó theo một quy trình.
Sử dụng thiết bị số dạy học cho thí nghiệm Vật lí có hiệu quả là việc làm sống
lại trước mắt học sinh, lôi cuốn học sinh vào các tình huống bài học cần giải quyết
và các hiện tượng số Vật lí cần nghiên cứu một cách sinh động, từ đó học sinh có
hứng thú say mê nghiên cứu khoa học, thích khám phá tìm tịi để dẫn đến hình
thành khái niệm và giúp học sinh lĩnh hội kiến thức mới sâu sắc hơn, bền vững hơn.
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
Vật lí là một bộ mơn khoa học có tính ứng dụng cao trong thực tiễn, chính vì
vậy thí nghiệm Vật lí nói chung và thí nghiệm đơn giản nói riêng, việc HS tự làm
thí nghiệm ở mọi lúc, mọi nơi có một vị trí, vai trị rất quan trọng trong việc giảng
dạy và học tập đó là: Thí nghiệm giúp học sinh có điều kiện rèn luyện các kĩ năng
cơ bản, biết ứng dụng kiến thức Vật lí để tự giải quyết được, hiểu được bài học có
cái nhìn trực quan hơn mà khơng phải suy nghĩ máy móc, cơng nhận kiến thức
truyền đạt từ GV.
Thí nghiệm số giúp giáo viên có đồ dùng dạy học để chuyển cho HS tự làm ở
nhà, nghiên cứu ở nhà trước theo ý của riêng mình, bên cạnh đó tạo động lực cho
học sinh có niềm đam mê mơn học, dãn thời gian các em dùng điện thoại vào các
mục đích khác.
1.1.1. Ưu điểm
Mặc dù có những điều kiện khách quan và chủ quan ảnh hưởng trực tiếp trong
quá trình giảng dạy nhưng tơi đã biết khắc phục vượt lên những khó khăn trước
mắt, từng bước nâng cao chất lượng giờ dạy mơn Vật lí nhằm đáp ứng mục đích
CTGD2018.
* Về phía giáo viên:
- Sử dụng nhiều thí nghiệm số dạy học phù hợp với nội dung các tiết dạy, đã
thiết kế được các bài giảng, nhiều tiết dạy Vật lí trở nên sinh động, có sức lơi cuốn,
sáng tạo.
- Bước đầu đã tiếp cận sử dụng tương đối tốt các kỹ thuật dạy học đặc trưng
bộ môn.
- Đã quen và chủ động với cách thức tổ chức các hoạt động dạy học.
- Phối hợp khá linh hoạt các kỹ thuật dạy học.
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
- Sử dụng vận hành các trang thiết bị dạy học hiện đại phục vụ tốt cho quá
trình ứng dụng CNTT trong giảng dạy.
* Về phía học sinh:
- Học sinh đã được quen dần với mơn học có sử dụng phần mềm.
- Phần lớn học sinh có ý thức học tập và u thích mơn Vật lí tích cực thực
hiện được các yêu cầu, bài tập, củng cố, kiến thức, giải thích được các hiện tượng
trong tự nhiên của giáo viên sau giờ học.
1.1.2. Những tồn tại:
Như chúng ta đã nói ở trên, Vật lí là một mơn học đặc thù gắn với thực
tiễn nhiều nhất, có tính ứng dụng rất cao trong cuộc sống. u cầu bộ mơn địi hỏi,
khi nhận thức HS phải tái hiện những kiến thức đã học, biết vận dụng kiến thức đã
học không những giải thích được các hiện tượng mà yêu cầu cao hơn là làm ra các
sản phẩm đó dưới việc vận dụng kiến thức đã học. Trong lúc đó, các phương tiện
trực quan phục vụ dạy học Vật lí hiện nay cịn nhiều hạn chế. Phương tiện vừa
thiếu lại vừa khơng phù hợp với CTGD2018. Ví dụ phịng bộ mơn chỉ được cung
cấp 04 bộ thí nghiệm, nếu sáng đó dạy có 04 GV dạy 04 lớp thì Gv thứ 05 trở đi
khơng có thí nghiệm làm kiểm chứng, từ đây thí nghiệm số lại phát huy được
những tính ưu việt của nó thơng qua phần mềm PhEt, chúng ta có thể khẳng định
một điều rằng hệ thống thiết bị thí nghiệm và tranh ảnh Vật lí trong danh mục đồ
dùng do Bộ giáo dục phát hành là không đủ cho các bài dạy. Chưa kể đến các thí
nghiệm này do lâu ngày sử dụng hỏng hóc
Thí nghiệm tự số tạo tình huống có vấn đề theo ý tưởng, hiểu sâu, áp dụng
theo ý đồ mà giáo viên cần giải quyết, phù hợp với học sinh nơi giáo viên dạy, lớp
khác nhau thì GV có những u cầu khác nhau.
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
Thí nghiệm số giúp học sinh có điều kiện rèn luyện, hình thành các kĩ năng cơ
bản.
Thí nghiệm số giúp cho học sinh, tự thu thập thơng tin, xử lí thơng tin, tìm tịi,
khám phá kiến thức mới.
Thí nghiệm số nhằm kích thích học sinh tương tác với nhau, đề xuất ý tưởng
cá nhân như hoạt động STEM.
Thí nghiệm số giúp học sinh vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề phát
sinh.
Thí nghiệm số khắc phục một số thiết bị hoạt động kém, hỏng…
Các thiết bị thí nghiệm số phải thể hiện rõ các hiện tượng Vật lí cần quan sát.
Khơng cần sơ đồ lắp đặt, dễ làm thí nghiệm, việc làm thí nghiệm ít tốn thời
gian, rẻ tiền, an tồn.
Các dụng cụ thí nghiệm số này sử dụng để hình thành kiến thức mới, củng cố,
vận dụng làm bài tập, kiểm tra được kiến thức mà học sinh thu nhận được từ bài
học …
1.2. Thực trạng sử dụng thí nghiệm Vật lí thuận lợi, khó khăn sau
1.2.1. Thuận lợi
Giáo viên ý thức được việc đổi mới đối với GDPT2018 thiết bị thí nghiệm có
vai trị rất quan trọng trong bộ mơn Vật lí nói riêng hiện nay. Ngồi thiết bị có sẵn
trong phịng bộ mơn, việc tích hợp sử dụng các thiết bị thí nghiệm đơn giản thì số
lượng giáo viên sử dụng ngày càng nhiều.
Cơ sở vật chất được nhà trường đầu tư về chất lượng cũng như số lượng trong
danh mục các bộ thí nghiệm sẵn có trong phịng thí nghiệm ngày càng bổ sung
thêm.
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
Nhà trường tạo mọi điều kiện VỀ CƠ SỞ VẬT CHẤTcho giáo viên giảng dạy
như: giao cho tổ một phòng bộ mơn, 100% trong phịng bộ mơn, lớp học được
trang bị tivi, máy chiếu, thiết bị thí nghiệm, bàn ghế để giáo viên giảng dạy và sinh
hoạt chuyên môn. Hằng năm, tổ đề xuất mua tài liệu, học liệu, thiết bị thí nghiệm
phục vụ học tập đều được nhà trường đáp ứng đầy đủ.
- Các giáo viên trong tổ có sự đoàn kết thống nhất cao, tổ giao nhiệm vụ thì
các giáo viên ln hồn thành tốt và đúng thời hạn.
- GV thường xuyên trao đổi kinh nghiệm giảng dạy trong buổi sinh hoạt tổ
chuyên môn, qua tiết thao giảng, sinh hoạt chuyên đề.Từ đó, chọn ra phương pháp
giảng dạy mang lại hiệu quả nhất.
- Đổi mới phương pháp dạy học được tất cả các giáo viên trong tổ thống nhất
và thực hiện trên tinh thần chung là:
+ Bám sát KHDH của Sở, sách giáo khoa chỉ là tài liệu tham khảo.
+ Lựa chọn 01 bộ SGK KNTT phù hợp với trường.
+ Mỗi giáo viên điều chỉnh dạy học phù hợp với từng lớp dạy.
+ Thống nhất về thời gian thực hiện các chuyên đề.
1.2.2. Khó khăn
- Đối với giáo viên:
Sự thay đổi về chương trình, việc ứng dụng CNTT của một số giáo viên chưa
bắt kịp với chương trình hiện nay như chưa đổi mới phương pháp phù hợp, truyền
đạt kiến thức theo một chiều, lý thuyết suông, học sinh chỉ học lý thuyết mà xã hội
ngày nay yêu cầu học sinh cần áp dụng kiến thức đã học để tạo ra các sản phẩm,
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
định hướng nghề nghiệp, STEM... Đó cũng là trở ngại trong việc thực hiện các tiết
học trên lớp để nâng cao chất lượng dạy – học.
Ngồi ra, cịn rất nhiều yếu tố tác động đến cuộc sống hàng ngày của giáo
viên, do vậy việc đầu tư đúng mức cho các thiết bị thí nghiệm số cịn rất nhiều hạn
chế.
Cơ sở vật chất, thiết bị ở trường còn chưa đáp ứng kịp, thiết bị thí nghiệm
hỏng hóc thường xun.
Việc đảm bảo an tồn khi học sinh làm thí nghiệm là hết sức quan trọng
nhưng sử dụng thí nghiệm số thật đơn giản, an tồn đối với HS.
Tơi giảng dạy bộ mơn Vật lí thường kết hợp phương pháp, ứng dụng CNTT 05
phần mềm sử dụng chúng một cách linh hoạt, để các em nắm vững lý thuyết bằng
cách sử dụng thí nghiệm số kiểm nghiệm lý thuyết đã học.
Việc đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với CT GDPT 2018 trong một
sớm chiều thu được kết quả tốt là một điều khó khăn, như vậy thời gian thực hiện
cịn ngắn nên tất cả các phương pháp phù hợp nhằm với CT GDPT 2018 đang trong
quá trình thử nghiệm và rút kinh nghiệm.
* Về phía học sinh
- Học sinh chọn mơn học ngồi mơn bắt buộc, mơn học tự chọn cũng cịn là
điều khó hiểu đối với HS.
- Tuy vậy, dưới sự hướng dẫn chỉ đạo, tư vấn của BGH, thầy, cơ giáo,
GVCN thì đa số HS đã chọn mơn học phù hợp với năng lực, sở trường, định hướng
nghề nghiệp.
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
- HS lớp 10 đối với CT GDPT 2018 còn mới mẻ đối với HS, cách học đối
với mỗi môn học, số lượng bài tập, chuyên đề nhiều thì yêu cầu học sinh phải tự
giác học tập.
- Cách đọc SGK, đọc tài liệu có liên quan đến nội dung bài học.
1.2.3. Các tài liệu phục vụ học tập
Đối với CT GDPT 2018 riêng tơi có quan điểm ngồi giảng dạy trên lớp thì
GVBM cần cung cấp các tài liệu có liên quan đến nội dung bài học, tài liệu đọc
thêm để phục vụ cho hiểu sâu vấn đề để HS hiểu bài thì giáo viên chuẩn bị sẵn các
tài liệu đó rồi ứng dụng CNTT để chuyển qua Zalo, Facebook cho các lớp nhưng
sau một khoảng thời gian, các tài liệu này tự động xóa hoặc trơi tin nhắn, việc tìm
lại là rất khó đối với HS, vì vậy tơi sử dụng ShubClassroom việc lưu trữ các tài liệu
đó cho cả 03 năm các em học ở trường THPT Trực Ninh B mục đích khu nào các
em khi cần học các em sẽ mở ra để tham khảo các tài liệu, các thí nghiệm số để
phục vụ cho việc làm thí nghiệm cho bài mới tơi cũng chuẩn bị để HS ở nhà tự làm
thí nghiệm đó với mục đích khu trú lại các thí nghiệm cũng như tài liệu, đối với HS
giao tự tìm các tài liệu, các thí nghiệm để nghiên cứu bài học mới, học bài mới với
nội dung CT GDPT 2018 theo tôi không đủ thời gian. Như vậy, việc ứng dụng
CNTT trong dạy học là rất quan trọng không thể thiếu trong thời điểm công nghệ
4.0 ngày nay. Tiết kiệm được thời gian cho cả GV và HS, tiết kiệm được một
khoản chi phí rất lớn cho Photo tài liệu.
1.4. Mục đích của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy Vật lí.
Hỗ trợ giáo viên trong việc nâng cao kiến thức, kỹ năng và thiết kế bài
dạy học bằng CNTT. Việc sử dụng cơng nghệ hiện đại địi hỏi người giáo
viên phải có kỹ năng thiết kế giáo án và sử dụng nhiều phương pháp truyền
đạt mới nhằm làm cho bài giảng được thực hiện một cách sinh động, gây
Ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy CTGDPT 2018
hứng thú và phát huy được tính tích cực, chủ động của HS. Khi GV ứng dụng
CNTT mỗi tiết giảng là mang lại một lượng lớn kiến thức, có cái nhìn trực
quan sinh động được chuyển tải đến người học. Ngun tắc trực quan trong
dạy học Vật lí đóng vai trị quan trọng, nó làm cho học sinh hứng thú và nhận
thức một cách chính xác các kiến thức, giải thích các hiện tượng trong tự
nhiên, kiểm chứng lý thuyết học bằng thí nghiệm số, từ đó HS ghi nhớ lâu
hơn.
Việc thiết kế giáo án có thể rất đơn giản với mỗi thầy, Cô giáo nhưng
khi thực hiện trên lớp để HS nắm được kiến thức nhanh, đơn giản, trực quan
thì là điều rất nhiều GV cịn trăn trở và giảng dạy sử dụng nhiều phần mềm
hỗ trợ cho nhau nhằm giúp bài giảng thu hút được sự chú ý và tạo hứng thú
cho học sinh. Hỗ trợ học sinh trong việc cung cấp kiến thức, giảm tính trừu
tượng của nội dung bài học. Học sinh hứng thú hơn trong giờ học bởi các em
có thể HS đang đắm chìm trong kiến thức vật lí tạo được, kích thích được óc
tư duy sáng tạo, tạo điều kiện cần thiết cho học sinh thực hành để hình thành
và rèn luyện các kỹ năng cho học sinh, góp phần đổi mới phương pháp dạy
học và đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Trợ giúp cho
giáo viên trong việc hướng dẫn học sinh học kiến thức mới, phát huy tính
tìm tịi, khám phá của học sinh. Chính những điều này sẽ thổi một luồng gió
mới vào lớp học, vào nhiệt huyết nghề nghiệp của giáo viên và vào cả tinh
thần hăng say học tập của học sinh để mang lại hiệu quả giáo dục cao.
1.5. Yêu cầu của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy Vật lí.
Trong thời đại bùng nổ CNTT, đối với mỗi giáo viên phải có sự thích
ứng, sáng tạo trong vận dụng CNTT trong các bài giảng Vật lí. Tuy nhiên,
khơng phải bài nào cũng ứng dụng CNTT có hiệu quả. Bởi trong thực tế
hiện nay nhiều giáo viên quá lạm dụng vào việc ứng dụng CNTT vào dạy