MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................1
NỘI DUNG...........................................................................................................1
I. Phân tích hiện tượng tha hóa của con người.................................................1
1. Khái niệm tha hóa:..........................................................................................2
2. Nguồn gốc của tha hóa:...................................................................................4
3. Khắc phục sự tha hóa:....................................................................................5
II. Vấn đề giải phóng con người trong triết học Mác – Lênin.........................5
1. Khái lược về triết học Mác- Lênin.................................................................5
2. Nội dung vấn đề giải phóng con người trong triết học Mác – Lênin..........6
III. Tha hóa về quyền lực với tính cách là nguyên nhân phát sinh nạn tham
nhũng ở nước ta hiện nay.................................................................................10
1. Khái niệm tha hóa về quyền lực và khái niệm tham nhũng......................10
2. Cơng tác phịng, chống tham nhũng tại Việt Nam hiện nay......................11
2.1. Thành tựu của công tác PCTN tại Việt Nam hiện nay.................................12
2.2. Những khó khăn, vướng mắc, tồn tại, hạn chế.............................................13
2.3. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế......................................................14
2.4. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác PCTN......15
KẾT LUẬN........................................................................................................15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................17
LỜI MỞ ĐẦU
Khi bắt đầu sự nghiệp triết học của mình, C.Mác đã chịu ảnh hưởng rất
lớn của triết học Hêghen. Cũng giống như các môn đệ khác của phái Hêghen trẻ,
C.Mác bắt đầu nghiên cứu về phạm trù tha hóa - một phạm trù triết học nổi bật
nhất, trung tâm nhất của triết học Đức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Cách
tiếp cận của C.Mác về tha hóa được dựa trên nền tảng hiện thực, nói cách khác
quan niệm duy vật lịch sử về tha hóa đã được tuân thủ và áp dụng triệt để 1. Vậy,
cách tiếp cận để nghiên cứu tha hóa hiện thực hay thực chất của sự tha hóa được
C.Mác trình bày như thế nào? Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề trên, nhóm 8 xin lựa
chọn đề tài “Phân tích hiện tượng tha hóa của con người? Vấn đề giải phóng
con người trong triết học Mác - Lênin? Tha hóa về quyền lực với tính cách là
nguyên nhân phát sinh nạn tham nhũng ở nước ta hiện nay?” làm đề tài cho bài
tập nhóm lần này.
Trong q trình nghiên cứu, tìm hiểu, do tài liệu còn hạn chế, kiến thức
lý luận và thực tiễn chưa nhiều… bài viết không tránh khỏi những thiếu sót.
Kính mong nhận được góp ý của thầy cô và các học viên trong lớp để bài làm
của chúng tơi được hồn thiện hơn.
Chúng tơi xin chân thành cảm ơn!
1
PGS, TS Ngơ Đình Xây - Học viện Báo chí và Tuyên truyền - Bài viết: “Từ cách tiếp cận của C.Mác về tha
hóa đến các hiện tượng tha hóa ở Việt Nam hiện nay” đăng trên báo điện tử Lý luận chính trị ngày 28/05/2018.
Link dẫn: />
1
NỘI DUNG
I. Phân tích hiện tượng tha hóa của con người
Khi nghiên cứu sự hình thành và phát triển con người trong quá trình
lịch sử, triết học C.Mác đã khẳng định bên cạnh mặt chủ đạo của con người là
sáng tạo, cịn có hiện tượng tha hóa con người2.
1. Khái niệm tha hóa
Tha hóa là khái niệm nói lên quá trình mà trong đó những sản phẩm do con
người tạo ra (sản phẩm lao động, đồng tiền, các quan hệ xã hội…) cũng như những
thuộc tính hoặc năng lực nào đó của con người trong những điều kiện lịch sử nhất
định, lại biến thành những thứ độc lập với con người và chi phối con người3.
Chằng hạn, trong lĩnh vực tôn giáo, Thượng đế là sự chuyển dịch của
bản chất con người, khiến cho con người từ chủ thể biến thành khách thể, có
nghĩa Thượng đế do con người bày đặt ra, nhưng trở lại thống trị con người (tha
hóa tơn giao).v.v4. Theo C.Mác sự tha hóa thể hiện ở chỗ “tư liệu sinh hoạt của
tôi thuộc về người khác, ở chỗ đối tượng mong muốn của tôi là vật sở hữu của
người khác mà tôi không với tới được, cũng như ở chỗ bản thân mỗi vật hóa ra
là một cái khác với bản thân nó, ở chỗ hoạt động của tơi hóa ra là một cái khác
nào đó và cuối cùng - điều này cũng đúng cả đối với nhà tư sản, - lực lượng
khơng phải người nói chung thống trị tất cả”5.
Như vậy, tha hóa chính là cái xuất phát từ con người, từ xã hội loài
người, song trong những điều kiện và hoàn cảnh bất thuận đã trở thành cái xa lạ,
quay trở lại chi phối, thống trị con người và xã hội loài người. Rõ ràng, cách
hiểu của C.Mác về tha hóa khác về chất so với cách hiểu của những nhà lý luận
tôn giáo khác như Phoiơbắc, Pruđông và kể cả Hêghen, mặc dù trong giai đoạn
đầu của sự nghiệp triết học, C.Mác đã một vài lần sử dụng thuật ngữ “vật hóa” thuật ngữ mà Hêghen thường dùng để luận giải về tha hóa6.
2
TS. Ngọ Văn Nhân - Tập bài giảng Chuyên đề 6 - Ý thức xã hội và Triết học về con người, tr.47.
3
TS. Ngọ Văn Nhân - Tập bài giảng Chuyên đề 6 - Ý thức xã hội và Triết học về con người, tr.47.
4
TS. Ngọ Văn Nhân - Tập bài giảng Chuyên đề 6 - Ý thức xã hội và Triết học về con người, tr.47.
5
C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.196.
6
PGS, TS Ngơ Đình Xây - Học viện Báo chí và Tuyên truyền - Bài viết: “Từ cách tiếp cận của C.Mác về tha
hóa đến các hiện tượng tha hóa ở Việt Nam hiện nay” đăng trên báo điện tử Lý luận chính trị ngày 28/05/2018.
Link dẫn: />
2
Tha hóa cịn chỉ những hiện tượng, những quan hệ xã hội nào đó biến
thành một cái gì khác với bản thân chúng, trở thành cái thống trị con người, trở
thành mục đích sống của con người7.
Tha hóa là hiện tượng xã hội: Hêghen cho rằng tha hóa là một thuộc tính
phổ biến, một q trình phổ biến của cả tự nhiên, xã hội và tư duy. Với các nhà
lý luận tơn giáo, tha hóa là một quan hệ thuần túy mang tính tư tưởng. Ở
Pruđơng, tha hóa chỉ đơn giản là một phạm trù thuần túy “kinh tế chính trị” (lý
thuyết thuần túy). Ở Phoiơbắc, tha hóa chính là q trình hịa tan bản chất con
người vào bản chất tơn giáo (chính xác hơn là Cơ đốc hóa bản chất con người).
Cịn với C.Mác, tha hóa chỉ là một loại quan hệ xã hội, tha hóa chỉ tồn tại ở con
người và xã hội lồi người. Nói cách khác,nội dung của phạm trù tha hóa chỉ
phản ánh và thể hiện những cái, những hiện tượng, những q trình có liên quan
đến con người và xã hội lồi người8.
Tha hóa với tư cách là quan hệ xã hội là “quan hệ kép”. Một mặt, đó là
quan hệ của người lao động với chính lao động của anh ta và mặt khác, là quan
hệ của hành vi lao động với sản phẩm lao động của anh ta 9. C.Mác lý giải:
“Chúng ta đã xét một mặt, xét lao động bị tha hóa trong quan hệ của nó với bản
thân người cơng dân, nghĩa là quan hệ của lao động bị tha hóa với bản thân nó.
Chúng ta đã tìm thấy quan hệ sở hữu của con người - không - phải - công - nhân
với người công nhân và với lao động với tính cách là sản phẩm hay kết quả tất
nhiên của quan hệ đó. Sở hữu tư nhân, với tính cách là biểu hiện vật chất khái
quát của lao động bị tha hóa, bao gồm hai quan hệ: quan hệ của công nhân với
lao động, với sản phẩm lao động của mình và với người - khơng - phải - công -
7
TS. Ngọ Văn Nhân - Tập bài giảng Chuyên đề 6 - Ý thức xã hội và Triết học về con người, tr.47
8
PGS, TS Ngơ Đình Xây - Học viện Báo chí và Tuyên truyền - Bài viết: “Từ cách tiếp cận của C.Mác về tha
hóa đến các hiện tượng tha hóa ở Việt Nam hiện nay” đăng trên báo điện tử Lý luận chính trị ngày 28/05/2018.
Link dẫn: />9
PGS, TS Ngơ Đình Xây - Học viện Báo chí và Tuyên truyền - Bài viết: “Từ cách tiếp cận của C.Mác về tha
hóa đến các hiện tượng tha hóa ở Việt Nam hiện nay” đăng trên báo điện tử Lý luận chính trị ngày 28/05/2018.
Link dẫn: />
3
nhân, và quan hệ của người - không - phải - công - nhân với người công nhân
và với sản phẩm lao động của người cơng nhân”10.
Theo đó, tha hóa là quá trình con người tự đánh mất “những năng lực
bản chất người” của mình, trở thành một thực thể khác. Như vậy, tha hóa trước
hết là một q trình xã hội, trong đó hoạt động của con người và những sản
phẩm của nó biến thành lực lượng đối lập, thù địch và chống lại con người11.
2. Nguồn gốc của tha hóa
Nguồn gốc của sự tha hóa là do sự phát triển của phân công lao động xã
hội và sự xuất hiện của chể độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Sự ra đời của phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với chế độ tư hữu tư bản về tư liệu sản xuất đã
tập trung những tư liệu sản xuất cơ bản của xã hội vào trong tay một số nhà tư
bản, một số nhà tư bản làm tuyệt đại đa số người lao động trở thành vô sản. Nhu
cầu sinh tồn đã buộc những con người không có tư liệu sản xuất này tự nguyện
một cách cưỡng bức đến với các nhà tư sản và họ trở thành những người làm
thuê cho nhà tư bản. Và do đó q trình người bóc lột người, q trình lao động
bị tha hóa đã diễn ra12.
Triết học Mác đã chỉ ra những dấu hiệu đặc trưng của sự tha hóa từ các
phương diện: sự tha hóa của điều kiện lao động và kết quả của lao động; sự tha
hóa của thiết chế chính trị-xã hội và tư tưởng. Mặt khác, tha hóa cịn là q trình
con người tự tước bỏ năng lực sáng tạo của mình, trở nên thụ động trước thế
giới khách quan, do chính những tiện ích xã hội mà con người sáng tạo nên
“chiều hư” con người13.
3. Khắc phục sự tha hóa
Đây là một q trình lâu dài mà trước hết là phải gắn với việc xóa bỏ chế
độ tư hữu. Triết học Mác – Lênin chính là lý luận triết học về khắc phục sự tha
hóa của con người, trước hết là lý luận giải phóng con người khỏi mọi áp bức,
bóc lột14. Nguyên nhân sản sinh ra tha hóa là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất
10
C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, t.42 NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.144, tr.145.
11
TS. Ngọ Văn Nhân - Tập bài giảng Chuyên đề 6 - Ý thức xã hội và Triết học về con người, tr.47.
12
C.Mác và Ăngghen: Tồn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.4, tr.596, tr.600.
13
TS. Ngọ Văn Nhân - Tập bài giảng Chuyên đề 6 - Ý thức xã hội và Triết học về con người, trang 48
14
TS. Ngọ Văn Nhân - Tập bài giảng Chuyên đề 6 - Ý thức xã hội và Triết học về con người, tr.48
4
nên “xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu với tính cách là sự khẳng định sinh
hoạt của con người là sự xóa bỏ một cách tích cực mọi sự tha hóa”15.
Như vậy, triết học Mác – Lênin, trên cơ sở quan điểm suy vật biện chứng
về lịch sử, tiếp cận con người trong tính chỉnh thể của nó, đem lại một hình ảnh
tồn vẹn, đúng đắn về con người. Đây là cơ sở để bác bỏ những luận điểm tư sản,
xét lại cho rằng triết học Mác bỏ quên vấn đề con người, không xây dựng học
thuyết về con người, chỉ xây dựng học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp16.
II. Vấn đề giải phóng con người trong triết học Mác – Lênin
1. Khái lược về triết học Mác- Lênin
Triết học của C.Mác và Ph. Ăngghen là bước ngoặt quan trọng trong lịch
sử phát triển triết học của nhân loại. Đối với hai ông, nghiên cứu triết học khơng
phải là mục đích tự thân mà nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra.
Logic lý luận của Mác và Ăngghen là đưa thực tiễn vào triết học, đưa ra quan
niệm đúng đắn về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với đời sống xã hội; từ
đó giải đáp được những bí ẩn bế tắc của mọi lý luận triết học cũ17.
Triết học Mác ra đời trong bối cảnh kinh tế- xã hội của thế kỷ XIX ở Tây
Âu, là kết quả của sự kế thừa và phát triển những giá trị tư tưởng nhân loại và
những thành tựu của khoa học tự nhiên thời kỳ đó. Ở thời kỳ đó sự phát triển
của cách mạng cơng nghiệp đã chứng minh tính ưu việt của phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa so với phương thức sản xuất phong kiến. C.Mác và Ph.
Ăngghen nhấn mạnh: “ Có thế kỷ nào trước đây lại ngờ được rằng có những lực
lượng sản xuất như thế vẫn nằm tiềm tang trong lòng lao động xã hội”18.
Trong lịch sử triết học nhân loại, kể từ khi triết học xuất hiện cho đến
thời đại ngày nay thì sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện
chứng duy vật, nhất là quan niệm duy vật về lịch sử của C.Mác và Ph.Ăngghen
thực sự đã làm nên một cuộc cách mạng trong lịch sử của triết học. Nguyên lý
đầu tiên của chủ nghĩa duy vật lịch sử là sản xuất vật chất, coi đây là cơ sở, nền
15
Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình Triết học (Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh khơng thuộc
chun ngành triết học), NXB. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2007, tr 531.
16
TS. Ngọ Văn Nhân - Tập bài giảng Chuyên đề 6 - Ý thức xã hội và Triết học về con người, tr.48
17
TS. Ngọ Văn Nhân - Tập bài giảng Chuyên đề 6 - Ý thức xã hội và Triết học về con người, tr.48.
18
Trịnh, T. N. (2012). Vấn đề giải phóng con người - từ triết học Mác đến triết lý Hồ Chí Minh. Luận văn thạc
sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Việt Nam
5
tảng của sự tồn tại và phát triển đời sống xã hội. Tiền đề mọi lịch sử xã hội là
con người hiện thực, con người thực tiễn, trước hết là thực tiễn lao đông sản
xuất. Sản xuất vật chất là phương thức cơ bản biểu hiện bản chất con người và
lối sống xã hội.19
2. Nội dung vấn đề giải phóng con người trong triết học Mác – Lênin
Bản chất của triết học Mác – Lênin là học thuyết giải phóng con người,
vì sự phát triển tồn diện của con người. Vấn đề con người là một vấn đề triết
học đã được đặt ra từ rất sớm trong lịch sử phát triển của nhân loại, đây luôn là
tâm điểm nghiên cứu của các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà triết học.
C.Mác đã khẳng định: “Bản chất con người không phải là một cái trừu
tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con
người là tổng hòa những quan hệ xã hội”. 20 Như vậy C.Mác không chỉ luận giải
mối quan hệ con người - tự nhiên - xã hội, mà còn tiến hành phân tích vị thế chủ
thể, vai trị sáng tạo lịch sử của con người.
Xem xét vị thế của con người trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân
loại, C. Mác đi đến quan niệm rằng, khuynh hướng chung của tiến trình phát
triển lịch sử nhân loại được quy định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất “kết quả của nghị lực thực tiễn của con người”. Hoạt động thực tiễn này, đến
lượt nó, lại bị quy định bởi những điều kiện sinh tồn của con người, bởi “một
hình thức xã hội đã tồn tại trước khi có những lực lượng sản xuất ấy”. Mỗi thế
hệ con người bao giờ cũng nhận được những lực lượng sản xuất ấy do thế hệ
trước tạo ra và sử dụng chúng làm phương tiện cho hoạt động sản xuất mới. Nhờ
sự chuyển giao lực lượng sản xuất này mà con người đã “hình thành nên mối
liên hệ trong lịch sử lồi người, hình thành lịch sử lồi người”. Lực lượng sản
xuất và do đó, cả quan hệ sản xuất - quan hệ xã hội của con người, ngày càng
phát triển thì “lịch sử đó càng trở thành lịch sử lồi người”. Với quan niệm này,
C. Mác kết luận: “Xã hội... là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con
người” và “lịch sử xã hội của con người luôn chỉ là lịch sử của sự phát triển cá
nhân của những con người”21. Khẳng định bản chất xã hội của con người và vị
19
TS. Ngọ Văn Nhân - Tập bài giảng Chuyên đề 6 - Ý thức xã hội và Triết học về con người, tr.48.
20
C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 11
21
C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 27, tr. 657, 658
6
thế chủ thể sáng tạo lịch sử của con người, C.Mác cịn đi đến quan niệm rằng,
trình độ giải phóng xã hội luôn được thể hiện ra ở sự tự do của xã hội; giải
phóng cá nhân tạo ra động lực cho sự giải phóng xã hội và đến lượt mình, giải
phóng xã hội lại trở thành điều kiện thiết yếu cho sự giải phóng cá nhân; con
người tự giải phóng mình và qua đó, giải phóng xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội.22
Sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng nhân loại theo C.Mác: “chỉ có
thể thực hiện được khi chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất
chủ yếu được xóa bỏ và lực lượng xã hội có sứ mệnh lịch sử thực hiện thành cơng
sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng xã hội và giai cấp vơ sản” 23. Những
thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đã
mang lại năng suất lao đổng rất cao. Trong”Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”,
C.Mác và Ph. Ăngghen đã đánh giá rất cao vai trò của giai cấp tư sản trong lịch
sử: “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã
tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của
tất cả các thế hệ trước kia gộp lại24”. Tuy nhiên, Ph.Ăngghen cho rằng để “lật đổ
trật tự xã hội trên toàn thế giới, nhất là ở châu Âu, bằng cách tập trung của cải
trong tay thiểu số và đầy đọa tuyệt đại đa số trong cảnh bần cùng”. Như vậy, sản
xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo ra khối lượng của cải to lớn cho xã hội nhưng đồng
thời cũng tạo ra sự bần cùng cho những người lao động, bởi sự giàu có của giai
cấp tư sản được tạo ra trên lưng những người lao động, người lao động chỉ có thể
tồn tại bằng sức lao động của mình để đổi lấy tiền cơng đủ để tồn tại “không phải
như một con người mà như một công nhân và khơng phải để người cơng nhân duy
trì lồi người mà duy trì giai cấp nơ lệ”. C.Mác đã kết luận rằng: “Anh ta tạo ra
càng nhiều giá trị thì bản thân anh ta lại càng mất giá trị, càng bị mất phẩm
cách; sản phẩm của anh ta tạo sáng càng đẹp thì anh ta càng què quặt; vật do
anh ta tạo dáng càng văn minh thì bản thân anh ta càng giống với người dã man;
lao động càng hùng mạnh thì người cơng nhân càng ốm yếu; cơng việc của anh
ta làm càng phức tạp thì bản thân anh ta càng trống rỗng về trí tuệ và càng bị nơ
lệ vào giới tự nhiên”. Đây chính là nghịch lý trong xã hội tư bản. Khi lao động bị
22
PGS.TS. Đặng Hữu Toàn , Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Học thuyết về con
người, giải phóng và phát triển con người - một giá trị làm nên sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác
23
TS. Ngọ Văn Nhân - Tập bài giảng Chuyên đề 6 - Ý thức xã hội và Triết học về con người, tr.48.
24
C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Tuyển tập, t.1, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 557
7
tha hóa, nỗi bất hạnh lớn nhất của con người ở đây chính là “con người bị tha hóa
bản chất người của mình”.
Xã hội tư bản, theo Mác, là một bước tiến trong lịch sử phát triển của
nhân loại. Nội dung bước tiến ấy là cơ sở cho sự phát triển của bản chất con
người, là điều kiện cho sự giải phóng xã hội, giải phóng nhân loại. Nhưng trong
khn khổ của chủ nghĩa tư bản, khi mà tư liệu sản xuất chủ yếu còn nằm trong
tay giai cấp tư sản thì con người chưa thực sự được giải phóng về chính trị, cũng
chưa được giải phóng về kinh tế, văn hóa. 25 Do vậy, nếu khơng xóa bỏ nó (chế
độ tư hữu tư sản) thì tuyệt đại đa số nhân dân lao động sẽ khơng có sở hữu, tình
trạng con người chịu sự nơ lệ vào người khác cịn tồn tại. Từ đó, C. Mác và Ph.
Ăngghen đã khẳng định: “Khơng thể thực hiện được một sự giải phóng thực sự
nào khác nếu khơng thực hiện sự giải phóng ấy trong thế giới hiện thực và bằng
những phương tiện hiện thực”. Xóa bỏ đi kiểu quan hệ sản xuất tư bản chủ
nghĩa cũng đồng thời với việc lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, là cơ sở để
xóa bỏ tận gốc mọi điều kiện con người bị áp bức. Chính điều này, trong “Tun
ngơn của Đảng Cộng sản”, C. Mác và Ph. Ăngghen đã nói, cuộc cách mạng xã
hội do giai cấp công nhân lãnh đạo khơng xóa đi cái quyền sở hữu cơ bản của
con người, mà chỉ xóa đi cái hình thức sở hữu mà nhờ nó người ta dùng để nơ
dịch người khác. Và xã hội cộng sản chủ nghĩa sẽ là chế độ tốt đẹp nhất trong
lịch sử nhân loại, đảm bảo cho những quyền của con người, giải phóng con
người một cách triệt để nhất.
Đồng thời C.Mác và Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ nhiệm vụ trong sứ mệnh
lịch sử thế giới của giai cấp cơng nhân “giai cấp vơ sản chỉ có thể tự giải phóng
mình nếu đồng thời và vĩnh viễn giải phóng cho tồn xã hội”. Giai cấp vơ sản
xố bỏ đi chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, chế độ mà giai cấp tư
sản dựa vào đó để bóc lột, thống trị nhân dân lao động chứ khơng phải là sự xố
bỏ quyền sở hữu của cá nhân về những sản phẩm xã hội của họ. Trong Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác và Ph. Ăng-ghen khẳng định: “đặc trưng của
chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xóa bỏ
chế độ sở hữu tư sản...”, “Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái khả
25
TS. Ngọ Văn Nhân - Tập bài giảng Chuyên đề 6 - Ý thức xã hội và Triết học về con người, tr.49
8
năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ
quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác”26
Mục tiêu cuối cùng của giai cấp công nhân, của cách mạng xã hội chủ
nghĩa là giải phóng con người, giải phóng xã hội. Chủ nghĩa xã hội không chỉ
dừng lại ở ý thức, ở khẩu hiệu giải phóng con người, mà từng bước thực hiện
việc giải phóng con người trên thực tế, biến con người từ “vương quốc của tất
yếu sang vương quốc của tự do”, tạo nên một sự liên hiệp, trong đó sự phát triển
tự do của mỗi con người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi
người. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới là giải pháp tối ưu cho các vấn đề xã hội liên
quan tới sự phát triển xã hội và con người. Sự tự do đem lại cho con người
quyền được lao động, được phân phối công bằng của cải vật chất và tinh thần,
được tham gia vào tất cả các công việc xã hội, được phát triển và vận dụng các
năng lực của mình với tư cách sự thực hiện những nhu cầu cơ bản, quyền được
nghỉ ngơi. Tự do cá nhân trong chủ nghĩa xã hội không chỉ biểu hiện trong các
quyền cá nhân mà còn được biểu hiện trong nghĩa vụ, trách nhiệm cá nhân. Chỉ
có chủ nghĩa xã hội mới là giải pháp tối ưu cho các vấn đề xã hội liên quan tới
sự phát triển xã hội và con người.27
III. Tha hóa về quyền lực với tính cách là nguyên nhân phát sinh
nạn tham nhũng ở nước ta hiện nay
1. Khái niệm tha hóa về quyền lực và khái niệm tham nhũng
Tha hóa trước hết là một q trình xã hội, trong đó, hoạt động của con
người và những sản phẩm của nó biển thành lực lượng đối lập, thủ địch và
chống lại con người28.
Tha hóa về quyền lực là q trình con người tự đánh mất “những năng
lực bản chất người” của mình đối với quyền lực, trở thành một thực thể khác,
phụ thuộc vào quyền lực. Trong phạm vi bài tiểu luận này chỉ tập trung vào tha
hóa quyền lực nhà nước.
Chủ thể quyền lực trong tha hóa quyền lực nhà nước, đó là cán bộ, công
chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chun nghiệp, cơng nhân quốc phịng
26
C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Tồn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995,
27
TS. Ngọ Văn Nhân - Tập bài giảng Chuyên đề 6 - Ý thức xã hội và Triết học về con người, tr.48
28
Xem trang 47, 48, Chuyên đề 6: Ý thức xã hội va triết học về con người của Tiến sĩ Ngọ Văn Nhân
9
trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp
vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công
an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước; cán bộ,
lãnh đạo quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;
người được giao thực hiện nhiệm vụ, cơng vụ có quyền hạn trong khi thực hiện
nhiệm vụ cơng vụ.
Tha hóa về quyền lực của các chủ thể nêu trên trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ được biểu hiện cụ thể hóa ở rất nhiều hành vi như: Nhận hối lộ; tham
ô tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ để vụ lợi; lạm
quyền trong khi thi hành công vụ để vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh
hưởng đối với người khác để vụ lợi; không thực hiện nhiệm vụ công để vụ lợi;
lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài chính cơng, tài sản cơng…
Có thể thấy, những chủ thể nêu trên, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để
thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhằm mục đích thu về các lợi ích vật chất,
tinh thần cho mình, cho gia đình hoặc cho cơ quan, đơn vị, tổ chức của mình.
Đó chính là sự tha hóa về quyền lực.
Tham nhũng có nguồn gốc từ tha hóa về quyền lực. Tham nhũng tồn tại
ở mọi quốc gia, hiện diện trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội,
không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển. Hiện nay, cịn có nhiều
quan điểm khác nhau về tham nhũng. Theo Từ điển tiếng Việt do Hồng Phê
làm chủ biên, thì: “Tham nhũng là những hành vi của các cá nhân lợi dụng
quyền lực nhà nước, nhũng nhiễu để lấy của cải, vật chất” 29. Liên hợp quốc và
một số tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới Tổ chức Minh bạch quốc tế thì
cho rằng: Tham nhũng là sự lạm dụng chức vụ cơng vì lợi ích tư. Cịn theo Luật
Phòng, chống tham nhũng năm 2005 của nước CHXHCN Việt Nam thì “Tham
nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền
hạn đó vì vụ lợi”30.
2. Cơng tác phịng, chống tham nhũng tại Việt Nam hiện nay
Tham nhũng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây ra những thiệt hại về
vật chất, tinh thần cho xã hội, gây mất ổn định, thậm chí đe dọa tới sự tồn vong
29
Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 1988.
30
Khoản 2, Điều 1, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005.
10
của chế độ và được xem là giặc “nội xâm”. Vì vậy, Đảng và Nhà nước và tồn
thể nhân dân ta phải đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN).
2.1. Thành tựu của công tác PCTN tại Việt Nam hiện nay31
Kết quả PCTN đã được quốc tế đánh giá cao; Tổ chức Minh bạch Quốc tế
công bố Chỉ số nhận thức tham nhũng (CPI) năm 2021, trong đó, Việt Nam được
đánh giá đạt 39/100 điểm, đứng thứ 87 trong số 180 quốc gia, vùng lãnh thổ
(tăng 3 điểm, 17 bậc so với năm 2020). Kết quả đáng ghi nhận đó thể hiện ở một
số nội dung chính sau:
Thứ nhất, việc thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ
quan, tổ chức, đơn vị. Chính phủ và nhiều bộ, ngành, địa phương đã tổ chức họp
báo định kỳ để cung cấp thơng tin cho báo chí. Nhiều bộ, ngành, địa phương
công khai các văn bản quy phạm pháp luật, thủ tục hành chính trên cổng hoặc
trang thơng tin điện tử của cơ quan, đơn vị. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi để
người dân, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức nắm bắt thông tin,tham gia kiểm tra,
giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước góp phần PCTN.
Thứ hai, về xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn. Năm
2022, Chính phủ đã ban hành 163 Nghị định, 200 Nghị quyết; Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành 33 Quyết định, 27 Chỉ thị về quản lý, điều hành các lĩnh vực
qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và PCTN. Các bộ, ngành,
địa phương đã ban hành 9.955 văn bản về quy định định mức, tiêu chuẩn, chế độ;
huỷ bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung 2.665 văn bản; rà soát, kiểm tra 4.217 văn bản; kiến
nghị xử lý 61 văn bản. Tiến hành 3.927 cuộc kiểm tra việc thực hiện các định
mức, tiêu chuẩn, chế độ, đã phát hiện 283 vụ việc, đã chấn chỉnh và xử lý 386
người có vi phạm (tăng 2,6% so với năm 2021).
Thứ ba, về minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Năm 2022
đã có 542.337 người thực hiện kê khai tài sản, thu nhập; đã xác minh tài sản, thu
nhập đối với 7.662 người; đã được kiểm tra việc thực hiện kiểm soát tài sản, thu
nhập đối với 4.934 số cơ quan, tổ chức, đơn vị. Qua xác minh có 74 người kê
khai chưa đúng, đã chấn chỉnh, xử lý theo quy định.
31
Số liệu được lấy từ Báo cáo số 411/BC-CP ngày 13/10/2022 của Chính phủ về Cơng tác phịng,
chống tham nhũng năm 2022.
11
Thứ tư, thành lập Ban Chỉ đạo PCTN từ trung ương đến địa phương; nâng
cao trách nhiệm của người đứng đầu; tăng cường công tác phát hiện, xử lý các vụ
việc tham nhũng; tịch thu, sung công tài sản tham nhũng, tài sản có nguồn gốc từ
tham nhũng. Năm 2022, cả nước có 19 người bị xử lý do thiếu trách nhiệm để
xảy ra tham nhũng.
Thứ năm, nhiều hình thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục được thực
hiện như: Tổ chức các cuộc họp, lớp học tuyên truyền về đấu tranh PCTN; phát
hành các tài liệu hỏi đáp về PCTN; phát sóng các chương trình về PCTN trên
đài phát thanh, truyền hình; xây dựng phim tài liệu, phóng sự, các chuyên trang,
chuyên mục về PCTN; nhấn mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh… Năm 2022, đã xuất bản hơn 656 nghìn đầu sách, tài liệu
tuyên truyền về PCTN, tiêu cực; tổ chức hơn 96 nghìn lớp cho 3,2 triệu lượt cán
bộ, đảng viên, cơng chức, viên chức tham gia…"
2.2. Những khó khăn, vướng mắc, tồn tại, hạn chế32
Cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế - xã hội trên một số lĩnh vực vẫn
còn thiếu chặt chẽ, chưa đáp ứng yêu cầu của cơng tác quản lý; một số quy định
cịn sơ hở, chồng chéo, bất cập nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung.
Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng chưa được tổ chức thực hiện đồng
bộ và toàn diện, một số biện pháp hiệu quả thấp. Việc xử lý trách nhiệm người
đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng, chuyển đổi vị trí cơng tác, kiểm sốt tài sản,
thu nhập, nộp lại q tặng cịn hạn chế.
Cơng tác tun truyền, phổ biến, giáo dục về PCTN hiệu quả chưa cao,
chưa tạo được sự chuyển biến căn bản về nhận thức và hành động của cán bộ,
đảng viên, công chức và người dân về PCTN.
Công tác tổ chức, cán bộ và quản lý cán bộ để phòng ngừa tham nhũng
còn hạn chế. Một số bộ, ngành, địa phương có tình trạng xét duyệt, bổ nhiệm cán
bộ lãnh đạo quản lý thiếu chặt chẽ; thiếu kiên quyết trong việc điều chuyển, thay
thế cán bộ khi có dư luận hoặc có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, uy tín thấp.
Tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong
giải quyết công việc chưa được ngăn chặn hiệu quả. Công tác tự kiểm tra, phát
hiện tham nhũng trong nội bộ cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa có chuyển biến rõ nét.
32
Báo cáo số 411/BC-CP ngày 13/10/2022 của Chính phủ về Cơng tác phịng, chống tham nhũng năm 2022
12
2.3. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế
Một là, việc đổi mới hệ thống chính trị nói chung và tổ chức bộ máy nhà
nước nói riêng chưa đồng bộ, chưa theo kịp sự đổi mới kinh tế.
Hai là, pháp luật về PCTN còn một số hạn chế bất cập như: Cơ chế pháp
lý về kiểm soát quyền lực theo Hiến pháp chưa được ban hành cụ thể,chi tiết;
pháp luật về giám sát phản biện xã hội chậm được hoàn thiện; pháp luật về kinh
tế, tài chính vẫn cịn khe hở hoặc không phù hợp để cán bộ, công chức lợi dụng;
pháp luật về hình sự chưa đủ răn đe để những ai tham nhũng sợ mà không dám
tham nhũng…
Ba là, chủ yếu là chống tham nhũng mà chưa đề cao vai trò của phòng
tham nhũng.
Bốn là, chế độ tiền lương đối với đội ngũ cán bộ, công chức,viên chức cịn
bất hợp lý, lương khơng đủ đảm bảo nhu cầu cuộc sống, chậm cải cách tiền lương…
Năm là, tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận khơng
nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu
cơ quan, tổ chức, đơn vị là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hành vi thiếu trách
nhiệm trong lãnh đạo, quản lý hoặc tiêu cực, tham nhũng khi có điều kiện. Cịn
có sự bao che, thiếu kiên quyết, nể nang, né tránh trong xử lý các hiện tượng
tham nhũng. Đôi khi việc đấu tranh PCTN trong một số trường hợp đặt người
đứng đầu vào tình huống xung đột lợi ích, ví dụ nếu tích cực kiểm tra phát hiện
tham nhũng trong nội bộ thì có thể phải đối mặt với việc xử lý trách nhiệm
người đứng đầu hoặc ảnh hưởng đến uy tín,thành tích của cá nhân, đơn vị.
Sáu là, trình độ, năng lực, chuyên môn nghiệp vụ của bộ phận làm công tác
phòng chống tham nhũng chưa đáp ứng yêu cầu của công tác PCTN hiện nay.
2.4. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
PCTN
Các cơ quan Đảng từ Trung ương đến địa phương cần tiếp tục chỉ đạo
quyết liệt và đề cao quyết tâm chính trị trong PCTN.
Hoàn thiện pháp luật về PCTN và các văn bản quy phạm pháp luật có
liên quan khác. Xây dựng và hồn thiện cơ chế kiểm sốt quyền lực nhà nước
nhằm phòng, chống hiệu quả nạn tham nhũng. Với pháp luật và cơ chế quản lý
chặt chẽ thì dù cơng chức có muốn cũng “khơng thể tham nhũng”.
13
Xây dựng cơ quan chuyên trách PCTN đủ mạnh, có khả năng độc lập
điều tra để xử lý các hành vi tham nhũng.
Phát huy vai trò của người đứng đầu cơ quan Đảng, Nhà nước và xử lý
nghiêm minh, kiên quyết, kịp thời đối với các hành vi tham nhũng. Theo đó chế
tài xử phạt phải rất nghiêm khắc, xử lý nghiêm minh để cơng chức và người có
điều kiện “khơng dám tham nhũng”.
Hồn thiện chế độ, chính sách về tiền lương cho cán bộ, công chức, viên
chức để làm giảm động cơ tham nhũng. Nếu họ được trả lương cao, có thể ni
sống gia đình, bản thân và khả năng mất việc là rất nhỏ, thì khiến họ “khơng cần
tham nhũng”.
Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến
lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ 33.
Giáo dục ý thức trách nhiệm về bổn phận, nghĩa vụ để họ “không muốn tham
nhũng”; bên cạnh đó cần có chế độ khen thưởng, bảo vệ đối với những cán bộ,
công chức làm công tác đấu tranh phịng, chống tham nhũng.
33
Nghị quyết Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam.
14
KẾT LUẬN
Hiện tượng tha hóa trong xã hội Việt Nam hiện nay đang là một thách
thức lớn cho sự phát triển của đất nước. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt
của Đảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự ủng hộ tuyệt đối của nhân
dân, tin tưởng rằng, cơng tác phịng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần
“Cắt bỏ một vài cành cây sâu mọt để cứu cả cái cây” như Bác Hồ đã từng chỉ
dạy, sẽ không những không làm ảnh hưởng mà cịn tạo sinh khí mới, quyết tâm
cao, hành động mạnh mẽ để đánh thắng “giặc nội xâm” và Đảng ngày càng
vững vàng, bản lĩnh, tiếp tục lãnh đạo toàn Đảng, tồn dân ta giành thắng lợi
trong cơng cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần củng cố niềm tin yêu của
nhân dân đối với Đảng, với chế độ34./.
34
PGS.TS Bùi Thị Tỉnh, K1, Học viện Chính trị CAND - Nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham
nhũng, tiêu cực - vấn đề quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay – Báo điện tử Đảng Cộng
Sản Việt Nam.
15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Tuyển tập, t.1, NXB. Sự thật, Hà Nội, 1980.
2. C.Mác và Ăngghen: Tồn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.
3. C.Mác và Ăngghen: Tồn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
4. Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình Triết học (Dùng cho học viên cao học và
nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), NXB. Lý luận chính trị,
Hà Nội, 2007.
5. TS. Ngọ Văn Nhân - Tập bài giảng Chuyên đề 6 - Ý thức xã hội và Triết học về
con người.
6. PGS, TS Ngô Đình Xây - Học viện Báo chí và Tun truyền - Bài viết: “Từ cách
tiếp cận của C.Mác về tha hóa đến các hiện tượng tha hóa ở Việt Nam hiện nay”
- Báo điện tử Lý luận chính trị, đăng ngày 28/05/2018.
Link dẫn: />7. Trịnh, T. N. (2012). Vấn đề giải phóng con người - từ triết học Mác đến triết lý
Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Việt Nam.
8. PGS.TS. Đặng Hữu Toàn , Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Nam, Học thuyết về con người, giải phóng và phát triển con người - một giá trị
làm nên sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác.
9. PGS.TS Bùi Thị Tỉnh, K1, Học viện Chính trị CAND - Nâng cao hiệu quả đấu
tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực - vấn đề quan trọng trong công tác xây
dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay – Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam.
10. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam
11. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 của nước CHXHCN Việt Nam.
12. Báo cáo số 411/BC-CP ngày 13/10/2022 của Chính phủ về Cơng tác phịng,
chống tham nhũng năm 2022.
16