Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

Đề tài thực tế chính trị xã hội “tình hình phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ở huyện bình xuyên từ khi tái lập huyện đến nay (1998 2020)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (127.33 KB, 20 trang )

LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian 4 tuần kiến tập, nghiên cứu, tơi đã hồn thành báo cáo
kiến tập của mình với đề tài: “Tình hình phát triển Cơng nghiệp – Tiểu thủ
cơng nghiệp ở huyện Bình Xun từ khi tái lập huyện đến nay (1998-2020)”.
Tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới chú Phan Mạnh Hà - Trưởng Ban
Tuyên giáo Huyện uỷ; chú Nguyễn Anh Tuấn - Phó Trưởng Ban Tuyên giáo
Huyện uỷ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tơi có thể hồn thành đề tài
của mình. Tơi cũng chân thành cảm ơn các anh, các chị trong Ban Tuyên giáo
Huyện uỷ, đặc biệt là chị Nguyễn Thị Thu Hằng - người đã trực tiếp hướng
dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tơi trong suốt quá trình kiến tập tại Ban
Tuyên giáo Huyện uỷ Bình Xun.
Tơi cũng xin cảm ơn các bác, các cơ chú và anh (chị) trong Huyện ủy UBND huyện Bình Xun, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tơi tìm kiếm, thu
thập tài liệu nghiên cứu trong suốt thời gian kiến tập.
Tuy nhiên, do thời gian kiến tập có hạn và khả năng bản thân còn nhiều
hạn chế nên đề tài báo cáo kiến tập của tơi vẫn cịn nhiều thiếu sót. Vì vậy, tơi
mong nhận được sự đóng góp ý kiến của q thầy cơ cùng tồn thể bạn đọc
để tơi có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình
nghiên cứu các đề tài khoa học sau này và giúp tơi có được những kỹ năng
khi bước vào thực tế công việc chuyên môn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !

1


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................3
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.............................................4
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn.......................................................................5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.............................................5
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................6


6. Bố cục của đề tài........................................................................................6
NỘI DUNG.......................................................................................................6
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN TỚI VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ HUYỆN BÌNH XUYÊN6
CHƯƠNG 2. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CƠNG NGHIỆP- TIỂU THỦ
CƠNG NGHIỆP Ở HUYỆN BÌNH XUN TỪ KHI TÁI LẬP HUYỆN
ĐẾN NAY (1998-2020).................................................................................8
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN CÔNG NGHIỆP- TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP HUYỆN BÌNH
XUYÊN TỪ NAY ĐẾN NĂM 2025...........................................................15
KẾT LUẬN.....................................................................................................17
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................19

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cách đây 22 năm, (ngày 01/09/1998), huyện Bình Xuyên được tái lập
và đi vào hoạt động. Huyện có 3 vùng sinh thái là đồng bằng, trung du và
miền núi nên Bình Xun có điều kiện tự nhiên phong phú và đa dạng, nhất là
tiềm năng về đất đai và lực lượng lao động dồi dào, thuận lợi cho phát triển
công nghiệp, dịch vụ; nhân dân Bình Xun cần cù, sáng tạo, đồn kết xây
dựng quê hương. Đó là những tiền đề quan trọng để Đảng bộ và nhân dân các
dân tộc trong huyện thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh
tế - xã hội. Bên cạnh những thuận lợi, Bình Xun cũng gặp khơng ít khó
khăn, đó là kết cấu hạ tầng phục vụ kinh tế - xã hội, đô thị còn yếu và chưa
đồng bộ; các nguồn lực đầu tư cho phát triển còn hạn hẹp. Song được sự quan
tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự giúp đỡ của các
sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh Vĩnh Phúc. Đặc biệt là sự đoàn kết, quyết tâm

của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện và nhân dân các dân tộc trong huyện đã
phát huy truyền thống cách mạng, tinh thần đoàn kết, cần cù, sáng tạo và vận
dụng linh hoạt chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn, xây dựng Bình
Xun ngày càng phát triển tồn diện, nhất là lĩnh vực của đời sống kinh tế văn hóa - xã hội.
Sau 22 năm kể từ ngày tái lập đến nay, Bình Xun ln nỗ lực phấn
đấu trong quá trình phát triển. Năm 1998, khi mới tái lập, kinh tế của huyện
kém phát triển, thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp, tổng giá trị sản xuất trên địa
bàn chỉ đạt 225,4 tỷ đồng. Đến năm 2000, giá trị sản xuất trên địa bàn đạt 275
tỷ đồng, cơ cấu kinh tế: Tỷ trọng nông nghiệp chiếm 65%, công nghiệp chiếm
18%, dịch vụ chiếm 17%; tổng thu ngân sách 24,8 tỷ đồng; cơ sở hạ tầng còn
yếu kém... Đến năm 2012 tổng giá trị sản xuất theo giá thực tế đạt 14.765,5 tỷ
đồng, (tăng gấp 53,6 lần năm 2000), tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 25,1%, cơ
cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng Ngành công nghiệp
- xây dựng, giảm dần tỷ trọng Ngành nông - lâm - thủy sản, cụ thể: Công
3


nghiệp - xây dựng chiếm 88,05%, nông - lâm - thủy sản chiếm 5,34%, dịch vụ
- thương mại chiếm 6,61%. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội phát triển, an ninh
chính trị, trật tự an tồn xã hội được giữ vững, cơng tác xây dựng Đảng, chính
quyền, MTTQ và các đoàn thể vững mạnh, đời sống của nhân dân từng bước
được cải thiện, nâng cao.
Những thành quả trên tiếp tục là động lực để Đảng bộ, nhân dân huyện
Bình Xuyên phát huy truyền thống tự lực, tự cường, năng động sáng tạo trong
từng giai đoạn cách mạng, sẵn sàng khắc phục khó khăn để vươn lên xây
dựng Bình Xun ngày càng giàu đẹp. Ghi nhận những thành tích đã đạt được
của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện nhà, năm 2003 Đảng và Nhà
nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ
kháng chiến chống thực dân Pháp, tặng thưởng Huân chương Lao động hạng
Ba (năm 2002), Huân chương Lao động hạng Nhì (năm 2008), Huân chương

Lao động hạng Nhất (năm 2013); được Chính phủ tặng Cờ thi đua năm 2002
và năm 2008. Đây là niềm vinh dự và tự hào của tồn Đảng bộ, chính quyền
và nhân dân các dân tộc huyện Bình Xuyên.
Hiện nay, Bình Xuyên đang phấn đấu trở thành huyện công nghiệp của
tỉnh. Vinh dự, tự hào về sự phát triển nhanh chóng của q hương Bình
Xun, nơi mà tôi đã được sinh ra, lớn lên và học tập nên kỳ kiến tập chuyên
môn là cơ hội thuận lợi để tơi có điều kiện được nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn
về q trình phát triển cơng nghiệp ở huyện Bình Xuyên với tên đề tài là
“Tình hình phát triển Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp ở huyện Bình
Xuyên từ khi tái lập huyện đến nay (1998-2020). Hy vọng đề tài sẽ nhận được
sự quan tâm của quý thầy cô cùng đông đảo bạn đọc mỗi khi nghiên cứu về
“đất và người Bình Xun”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu
+ Đề tài nghiên cứu “Tình hình phát triển Cơng nghiệp – Tiểu thủ cơng
nghiệp ở huyện Bình Xun từ khi tái lập huyện đến nay (1998-2020)”

4


+ Làm rõ những thành tựu phát triển trong lĩnh vực Cơng nghiệp TTCN mà huyện Bình Xun đạt được từ sau tái lập huyện đến nay. Trọng
tâm của đề tài là đi sâu nghiên cứu quá trình phát triển Cơng nghiệp - TTCN
của huyện Bình Xun, từ đó đưa ra những quan điểm, mục tiêu và định
hướng phát triển Công nghiệp - TTCN của huyện trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích, đề tài từng bước giải quyết các nhiệm vụ
sau:
- Thứ nhất: Nêu được thực trạng huyện Bình Xuyên, kể từ sau khi
huyện Bình Xuyên tái lập.
- Thứ hai: Chủ trương chỉ đạo của Đảng bộ huyện Bình Xuyên về vấn

đề phát triển Công nghiệp - TTCN.
-Thứ ba: Đánh giá những kết quả mà Bình Xuyên đạt được trong quá
trình phát triển Công nghiệp - TTCN.
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Đề tài giúp khái quát tiến trình phát triển Cơng nghiệp - TTCN ở
huyện Bình Xun từ khi tái lập đến nay. Làm nổi bật vai trò của một vùng
đất có bề dày lịch sử văn hóa ở của tỉnh, đồng thời, khẳng định vị trí, vai trị
của một huyện cơng nghiệp trong q trình CNH - HĐH và hội nhập kinh tế
của tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đề tài cịn là nguồn tư liệu tham khảo trong cơng tác, nghiên cứu, sưu
tầm, biên soạn lịch sử địa phương, cũng như trong việc giảng dạy bộn môn
này; là nguồn tài liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu về văn hóa – con
người – xã hội huyện Bình Xun.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình phát triển Cơng nghiệp – Tiểu
thủ cơng nghiệp ở huyện Bình Xuyên từ khi tái lập huyện đến nay (19982020).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
5


- Về thời gian: Từ khi tái lập huyện cho đến nay (1998 – 2020).
- Về không gian: Xung quanh q trình xây dựng và phát triển Cơng
ngiệp – TTCN ở Đảng bộ huyện Bình Xuyên.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong q trình làm báo cáo thực tập chun ngành, tơi đã sử dụng rất
nhiều phương pháp khác nhau như: Thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh,
chọn lọc, đánh giá … nhưng quan trọng nhất là phương pháp: Lịch sử và
phương pháp logic, đứng trên quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử biện chứng
kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic, để hoàn thành đề tài.

6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu, giới
thiệu tổng quan về huyện Bình Xun.
Chương 2: Tình hình phát triển Cơng nghiệp – Tiểu thủ cơng nghiệp ở
huyện Bình Xun từ khi tái lập huyện đến nay (1998-2020).
Chương 3: Quan điểm, nhiệm vụ và định hướng phát triển Công nghiệp
- TTCN huyện Bình Xuyên cho đến năm 2025.

6


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN TỚI VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ HUYỆN BÌNH XUN
1.1. Những vấn đề lý luận
1.1.1. Khái niệm cơng nghiệp
Cơng nghiệp là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được
“chế tạo, chế biến, chế tác, chế phẩm” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ
hoạt động kinh doanh tiếp theo cho cuộc sống con người .
1.1.2. Khái niệm tiểu thủ công nghiệp
Ngành tiểu thủ công nghiệp là ngành nghề sản xuất phi tập trung quy mô
nhỏ, thường hoạt động trong một khu vực nhỏ tại gia, hơn là một cơ sở xây
dựng có mục đích.
1.2. Giới thiệu tổng quan về huyện Bình Xuyên
Từ thời dựng nước, Bình Xuyên đã thuộc bộ Văn Lang của nước Văn
Lang. Trải qua hàng ngàn năm biến động lịch sử vùng này đã thay đổi nhiều
tên gọi. Dưới thời nhà Trần Bình Xun vốn có tên là Bình Ngun, sau đến
đời Lê Hồng Đức (1469) vì kiêng tên húy của Lê Thái Tơng (1433 - 1442)
mới đổi thành huyện Bình Tuyền, thuộc phủ Phú Bình, thuộc Ninh Sóc thừa

tun. Đời Nguyễn, năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) vì kiêng tên húy của vua
Thiệu trị là Nguyễn Phúc Tuyền, huyện Bình Tuyền được đổi thành huyện
Bình Xuyên thuộc tỉnh Thái Nguyên.
Khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách cai trị ở nước ta, năm 1890
chúng phân chia lại địa giới hành chính một số tỉnh ở Bắc kỳ, lập thêm đạo
Vĩnh Yên, đặt lỵ sở tại Hương Canh, nhưng chỉ được một thời gian ngắn lại
giải thể, song vẫn để một viên quan đại diện ở Hương Canh trông coi cơng
việc thay quyền Tổng đốc Sơn Tây.
Ngày 29-12-1899, Tồn quyền Đông Dương Pôn Đume (Poll Doumer)
ra nghị định thành lập tỉnh Vĩnh Yên, gồm 1 phủ Vĩnh Tường và 4 huyện Yên
Lạc, Tam Dương, Lập Thạch (thuộc đất Sơn Tây) và huyện Bình Xuyên từ
Thái Nguyên sang, đặt tỉnh lỵ ở làng Tích Sơn [1;10].
7


Tháng 2-1950, thực hiện Nghị quyết số 03/TTg của Thủ tướng Chính
phủ hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Phúc, Bình
Xuyên thuộc về Vĩnh Phúc. Đầu năm 1968, Vĩnh Phúc sáp nhập với Phú Thọ
thành tỉnh Vĩnh Phú, huyện Bình Xuyên lại thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Đến tháng 7
năm 1977 huyện Bình Xuyên hợp nhất với huyện Yên Lãng và thị trấn Phúc
Yên (huyện Kim Anh) thành huyên Mê Linh, địa danh huyện Bình Xuyên có
từ 1841 đến đây tạm thời gián đoạn. Đầu năm 1979, theo quyết định của nhà
nước và Thủ tướng Chính phủ, phần địa giới hành chính thuộc Bình Xun
(cũ) lại tách ra khỏi huyện Mê Linh để cùng huyện Tam Dương (cũ) hợp nhất
thành huyện Tam Đảo vẫn thuộc tỉnh Vĩnh Phú.
Ngày 1-1-1997, tỉnh Vĩnh Phúc được tách ra thành hai tỉnh cũ: Vĩnh
Phúc, Phú Thọ, nhưng phải đến ngày 9/6/1998 Chính phủ ra Nghị định số
36/1998/NĐ-CP với nội dung theo Điều 1 là: Chia huyện Tam Đảo thuộc tỉnh
Vĩnh Phúc thành huyện Tam Dương và huyện Bình Xuyên. Huyện chính thức
đi vào hoạt động từ ngày 01/09/1998, với 14 đơn vị hành chính cấp xã, thị

trấn là: Đạo Đức, Phú Xuân, Thanh Lãng, Tân Phong, Sơn Lôi, Quất Lưu,
Tam Hợp, Hương Sơn, Gia Khánh, Thiện Kế, Minh Quang, Trung Mỹ và thị
trấn Hương Canh [5; 947]. Năm 1978 xã Minh Quang được sát nhập vào
huyện Tam Đảo, Bình Xuyên cịn lại 13 đơn vị hành chính xã, thị trấn với 3
thị trấn (Hương Canh; Gia Khánh; Thanh Lãng) cho đến ngày nay. Hiện nay,
Đảng bộ có 66 chi, đảng bộ trực thuộc (gồm 13 đảng bộ xã, thị trấn, 04 đảng
bộ doanh nghiệp, lực lượng vũ trang và trường học); 49 chi bộ cơ quan, doanh
nghiệp, hành chính sự nghiệp. Chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ sở có 273, trong
đó có: 236 chi bộ trực thuộc 13 đảng bộ xã, thị trấn và 37 chi bộ trực thuộc 4
đảng bộ doanh nghiệp, lực lượng vũ trang và trường học, với hơn 4.800 đảng
viên.

8


CHƯƠNG 2. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CƠNG NGHIỆP- TIỂU THỦ
CƠNG NGHIỆP Ở HUYỆN BÌNH XUYÊN TỪ KHI TÁI LẬP HUYỆN
ĐẾN NAY (1998-2020)
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội tác động tới tình hình
phát triển Cơng nghiệp – Tiểu thủ cơng nghiệp ở huyện Bình Xun từ
khi tái lập huyện đến nay (1998-2020).
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Bình Xun là một huyện có cả ba địa hình là: Đồng bằng, trung du và
miền núi, có vị trí nằm gần trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Phúc, cách thành
phố Vĩnh Yên 7 km dọc theo quốc lộ 2, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 50km
theo hướng Tây – Tây Bắc. Hiện nay, Bình Xun có diện tích tự nhiên là
14.847,31ha; phía Bắc giáp huyện Tam Đảo và tỉnh Thái Ngun; phía Đơng
giáp thị xã Phúc n và huyện Mê Linh (thuộc Thủ đơ Hà Nội); phía Nam
giáp huyện Yên Lạc; phía Tây giáp huyện Tam Dương, Yên Lạc và TP Vĩnh
n.

Vị trí địa lý có nhiều thuận tiện cho sự giao lưu hàng hóa và phát triển
dịch vụ, nằm cách không xa các khu công nghiệp tập trung như: Bắc Thăng
Long - Nội Bài; khu công nghiệp Sài Đồng, cảng hàng không Nội Bài (Hà
Nội); nằm giữa hai trung tâm kinh tế – chính trị lớn của tỉnh là Vĩnh Yên và
Phúc Yên; có đường sắt Hà Nội – Lào Cai, Quốc lộ 2 và đường cao tốc Nội
Bài - Lào Cai chạy qua là những điều kiện rất thuận lợi để huyện phát triển
một nền kinh tế đa dạng (công nghiệp – dịch vụ và nông lâm nghiệp) và hình
thành các khu cơng nghiệp, các trung tâm dịch vụ; đồng thời có cơ hội tiếp
cận nhanh những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới phục vụ cho cơng
cuộc cơng nghiệp hóa của huyện.
Trên địa bàn huyện có hệ thống sơng Cà Lồ: Chia thành 3 nhánh:
nhánh nối với sông Phan, từ hồ Thanh Lanh, sông Cánh; nhánh nối liền với
Cầu Bịn tiêu thốt nước trực tiếp nước mưa từ dãy núi Tam Đảo và thị xã
Phúc n nhánh nối với sơng Phan tiêu thốt nước vùng trũng của hai huyện
n Lạc và Bình Xun. Sơng Cà Lồ là sông tiêu tự nhiên duy nhất trên địa
9


bàn huyện, mực nước cao nhất 9,14m, lưu lượng lớn nhất 268m 3/s. Vào mùa
mưa lũ tập trung, nước sông Cầu dâng cao không tiêu kịp gây úng lụt cục bộ
tại khu vực trũng trong huyện.
Do điều kiện thiên nhiên ưu đãi nên trên địa bàn huyện đã hình thành
vùng có tiềm năng du lịch và nghỉ dưỡng là quần thế du lịch tâm linh sinh thái
thuộc khu vực Thanh Lanh, Mỏ Quạ của xã Trung Mỹ.
2.1.2. Điều kiện kinh tế- cơ sở hạ tầng
Bình Xun có hệ thống giao thơng khá hồn chỉnh, hệ thống giao
thơng đối ngoại gồm Quốc lộ 2, đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai, đường sắt
do Trung ương quản lý, hệ thống đường tỉnh lộ kết hợp với tuyến đường
huyện, đường sắt. Đây là thuận lợi lớn, vì nhờ hệ thống giao thơng này kinh tế
Bình Xun có thể giao thương với các địa bàn trong cả nước và chịu tác

động lan toả từ các vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Hệ thống giao thơng cịn
tạo ra nhiều lợi thế để hình thành khu công nghiệp tập trung như Quất Lưu,
Hương Canh, Sơn Lôi, Đạo Đức, Bá Thiện tạo thành một trục phát triển các
khu công nghiệp dọc theo Quốc lộ 2 từ Đạo Đức đến Hương Canh; hình thành
các đơ thị phục vụ dân cư đến lao động tại các khu công nghiệp dọc theo tỉnh
lộ 302B, tỉnh lộ 302A.
2.1.3. Điều kiện xã hội
Bình Xun là huyện có tỷ lệ dân số đông, nguồn lao động trẻ dồi dào
với truyền thống cần cù, chịu khó. Dân số trong độ tuổi lao động năm 2010 là
59,437 nghìn người, chiếm 53,42% dân số toàn huyện. Hiện tại, số lao động
đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân là khoảng 56,87 nghìn người, chiếm
95,86% lao động trong độ tuổi, trong đó khu vực nông - lâm nghiệp chỉ chiếm
khoảng 5,5% tổng lao động trong độ tuổi, khu vực phi nông nghiệp chiếm
khoảng 90%. Lao động dư thừa, nhàn rỗi, thiếu việc làm chiếm tỷ lệ nhỏ ở
khu vực nông thôn và đô thị. Lực lượng lao động có trình độ chun mơn kỹ
thuật đạt ở mức cao so với toàn tỉnh, năm 2010 tồn huyện có 27,03 nghìn lao
động đã qua đào tạo, chiếm tỷ lệ 45,48% tổng lao động trong độ tuổi. Đến
năm 2014, dân số trong độ tuổi lao động là 77.346 nghìn người, lực lượng lao
10


động có việc làm thường xun là 72.481 nghìn người, lao động dư thừa,
nhàn rỗi, thiếu việc làm chiếm tỷ lệ nhỏ ở khu vực nông thôn và thành thị.Lực
lượng lao động đã qua đào tạo nghề đạt mức cao, tồn huyện có 21.430 nghìn
lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo ngày càng được nâng cao cả về số lượng
và chất lượng. Đây là những nhân tố đáp ứng nhu cầu địi hỏi của nền sản
xuất hàng hố cơng nghiệp.
2.1.4. Điều kiện văn hóa
Nhân dân Bình Xun có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời gắn liền
với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trong hai cuộc

kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, hàng ngàn con em
Bình Xuyên đã lên đường chiến đấu và trong công cuộc xây dựng đất nước,
xây dựng quê hương giàu đẹp, nhân dân Bình Xun ln phát huy truyền
thống lao động cần cù, sáng tạo. Đây là thuận lợi để Đảng, chính quyền lãnh
đạo nhân dân cùng vững mạnh tiến lên trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện
đại hóa huyện nhà. Những cơng trình di tích lịch sử văn hóa là tài sản vô giá
cần được tôn tạo, bảo vệ, truyền lại cho các thế hệ tiếp theo để phát huy
truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của quê hương.
Từ đó khẳng định: Những điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử văn
hoá của địa phương, cùng những thắng lợi trong suốt quá trình đổi mới của
Đảng và Nhà nước ta đã trở thành động lực để Bình Xuyên phát huy lợi thế
của mình, đồn kết, tin tưởng vào cơng cuộc đổi mới của Nhà nước, thi đua
lao động sản xuất dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện Bình Xun.
2.2. Tình hình phát triển Cơng nghiệp – Tiểu thủ cơng nghiệp ở huyện
Bình Xun từ khi tái lập huyện đến nay (1998-2020).
2.2.1.Thành tựu đạt được
- Những năm qua, Đảng bộ huyện Bình Xun đã tạo được sự đồn kết,
thống nhất, vận dụng sáng tạo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức thực hiện,
đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ và quan tâm toàn diện đến các lĩnh
vực có trọng tâm, trọng điểm, xác định các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, các
11


chương trình, dự án trọng điểm để huy động và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực.
- Huyện ủy, HĐND – UBND huyện đã ban hành nhiều chủ trương,
chính sách, pháp luật đúng đắn, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động phát
triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt là phát triển ngành cơng nghiệp trong đó tập
trung chú trọng vào việc phát triển hạ tầng các khu cơng nghiệp.

- Sản xuất cơng nghiệp tăng trưởng cao, bình quân tăng 20%/năm. Từ
một huyện thuần nông, đến nay công nghiệp đã chiếm tỷ trọng trên 89,63%
(năm 20120) trong cơ cấu kinh tế và công nghiệp đang khẳng định vai trị nền
tảng trong nền kinh tế của huyện, đưa Bình Xuyên từng bước trở thành huyện
trọng điểm công nghiệp của Tỉnh. Cơ cấu sản phẩm cơng nghiệp chuyển dịch
tích cực theo hướng ngày càng tăng hàm lượng giá trị gia tăng; đã hình thành
một số ngành cơng nghiệp mũi nhọn như sản xuất vật liệu xây dựng, lắp ráp
xe máy và ngành công nghiệp phụ trợ.
- Hầu hết các chỉ tiêu đặt ra đều đạt được và vượt kế hoạch Đại hội đề
ra. Bình Xuyên tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu chuyển
dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng của một nền sản xuất công nghiệp là
chủ yếu.
- Công nghiệp, xây dựng đã có sự khởi sắc, thu hút được nhiều dự án
đầu tư, hình thành các khu, cụm cơng nghiệp. Các nhà đầu tư nước ngoài đến
các nước phát triển như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc… giúp giải quyết
việc làm cho hàng nghìn lao động, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho nhân
dân, ổn định nền kinh tế - xã hội.
- Kết quả cụ thể: Tính theo giá trị sản xuất, tốc độ tăng bình quân
giai đoạn 2000 - 2005 đạt 41,7%/năm, giai đoạn 2005 - 2010 đạt
22,45%/năm. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng từ 260,368 tỷ đồng (năm
2000) lên 2.458,925 tỷ đồng (năm 2005), 7.346,478 tỷ đồng (năm 2010),
13.000 tỷ đồng (năm 2012) và 18.033 tỷ đồng 2014. Tỷ trọng Ngành công
nghiệp chiếm 52,56% (năm 2000) trong cơ cấu kinh tế, năm 2005 chiếm
82,7%; năm 2010 là 85,3% và đến năm 2014 là 88,05%, năm 2020 là 89,63%
12


Công nghiệp phát triển, đã giải quyết việc làm cho nhiều lao động, năm
2005 lao động trong Ngành công nghiệp của huyện là 7.928 người, đến năm
2010 tăng lên 10.907 người, năm 2013 là 12.200 người và hiện nay toàn

huyện đã tạo việc làm mới cho 2.417 lao động, tăng 21,4% so với năm 2013,
trong đó số lao động xuất khẩu là 171 người tăng 314% so với năm 2013.
Công nghiệp phát triển đã tạo điều kiện cho nhiều hộ dân sinh sống gần khu
công nghiệp chuyển từ sản xuất nơng nghiệp sang ngành cung cấp dịch vụ,
góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, thực hiện xố đói, giảm nghèo,
giải quyết việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công
nghiệp - dịch vụ.
Hiện nay, các ngành công nghiệp phát triển chủ yếu trên địa bàn huyện
là sản xuất, lắp ráp xe máy, phụ tùng ô tô, vật liệu xây dựng, thép, điện tử...
Một số tập đồn, tổng cơng ty có quy mơ sản xuất lớn, kinh doanh hiệu quả
và có thương hiệu trên thị trường đã góp phần đáng kể vào nguồn thu ngân
sách Nhà nước như: Công ty sản xuất, lắp ráp xe máy Piaggio, công ty phanh
Nissin, công ty thép Việt Đức, công ty ống thép Việt Đức, công ty cổ phần
Prime Group... Công nghiệp của huyện phát triển đã làm chuyển dịch cơ cấu
kinh tế.
Trên địa bàn huyện hiện có 6 khu cơng nghiệp (gồm: Khu cơng nghiệp
Bình Xun; khu cơng nghiệp Bình Xun II; khu cơng nghiệp Nam Bình
Xun; khu công nghiệp Bá Thiện I; khu công nghiệp Bá Thiện II; khu công
nghiệp Sơn Lôi) được quy hoạch với tổng diện tích 2.100ha. Khu cơng nghiệp
Bình Xun hiện có 46 dự án trong và ngoài nước đăng ký đầu tư với số vốn là
337,5 triệu USD và 1.593 tỷ VNĐ, thu hút 5.800 lao động vào làm việc. Cụm
công nghiệp Hương Canh có 6 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh
doanh, thu hút gần 2.000 lao động.
2.2.2. Hạn chế còn tồn tại
Bên cạnh những kết quả đạt được, q trình lãnh, chỉ đạo phát triển
cơng nghiệp - TTCN ở huyện Bình Xuyên cũng tồn tại một số hạn chế đó là:

13



- Một số chỉ tiêu về phát triển kinh tế - xã hội đạt kết quả chưa cao so
với kế hoạch đề ra. Khả năng thu hút đầu tư của một số khu cơng nghiệp cịn
thấp, dẫn đến khơng phát huy được hiệu quả vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng khu công nghiệp.
- Đầu tư phát triển các khu cơng nghiệp chưa tính hết các điều kiện về
cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngồi hàng rào, trong đó có việc xây
dựng nhà ở cho người lao động ngoại tỉnh làm việc tại các khu công nghiệp,
bảo đảm hoạt động của các khu công nghiệp.
- Nhiều nơi, nhiều địa phương do mong muốn đẩy nhanh tốc độ phát
triển công nghiệp, thu hút đầu tư nên đã hình thành các khu cơng nghiệp theo
nhiều cách khác nhau, thiếu đồng bộ dẫn đến gặp phải nhiều vấn đề trong q
trình phát triển.
- Các chính sách, biện pháp tổ chức quản lý phát triển các khu công
nghiệp trong thời gian qua còn nhiều bất cập. Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu
kinh tế của lĩnh vực dịch vụ có bước phát triển song chưa tương xứng với
tiềm năng của huyện.
- Quy mô các ngành kinh tế nhỏ, ít số lượng; trình độ cơng nghệ của
các doanh nghiệp cơng nghiệp cịn lạc hậu, chưa xây dựng được chiến lược
phát triển lâu dài, việc xây dựng những nhãn hiệu hàng hóa thương hiệu thực
phẩm, quảng bá giới thiệu sản phẩm ra các địa phương khác còn nhiều hạn
chế và chưa được nhà nước quan tâm, hỗ trợ đúng mức. Công tác đào tạo
công nhân làng nghề, bậc cao chưa được chú trọng. Sự liên kết giữa doanh
nghiệp và các trường đào tạo nghề, trung tâm dạy nghề chưa được chặt chẽ,
cơ chế cho vay, năng lực lập dự án cho vay dài hạn của doanh nghiệp và sự
hỗ trợ từ phía ngân hàng cịn nhiều hạn chế.
2.2.3. Ngun nhân
- Nguyên nhân khách quan: Điều kiện tự nhiên có nhiều bất lợi, diện
tích đồi núi, đồng chiêm trũng lớn, đất bạc màu, nghèo dinh dưỡng; điểm xuất
phát của nền kinh tế và cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội thấp, năng lực đội ngũ cán
bộ hạn chế,… tăng nhanh và quá tải; một số chính sách cuả nhà nước ban

14


hành còn chậm, chưa phù hợp với thực tiễn; trong quy hoạch và triển khai
thực hiện quy hoạch cũng như trong cơng tác quản lý chưa có sự phân loại
các khu công nghiệp.
- Nguyên nhân chủ quan: Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức
trong hệ thống chính trị có những mặt cơng tác chưa cập với u cầu của sự
phát triển; trong quản lý điều hành chưa chú trọng đến công tác quy hoạch kế
hoạch, chưa chủ động tham mưu đề xuất, các biện pháp và giải pháp tháo gỡ
khó khăn trong q trình thực hiện… Nhận thức của một số ít cán bộ của
Đảng viên cịn hạn chế chưa bắt nhịp với xu hướng phát triển chung của xã
hội; một số cơ chế, chính sách thiếu nhất quán, thiếu đồng bộ; công tác giải
quyết tồn tại, vướng mắc trong giải phóng mặt bằng chưa dứt điểm; việc triển
khai một số chương trình, dự án, kế hoạch chưa được các cấp, các ngành quan
tâm đúng mức kịp thời, đôn đốc, kiểm tra, tổng kết, rút kinh nghiệm không
kịp thời.

CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN CƠNG NGHIỆP- TIỂU THỦ CƠNG NGHIỆP HUYỆN BÌNH
XUN TỪ NAY ĐẾN NĂM 2025
3.1. Quan điểm phát triển

15


Phát triển công nghiệp là cơ sở để thúc đẩy nhanh tăng trưởng và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Mặc dù các ngành Cơng nghiệp -TTCN thường
có đóng góp cao cho tăng trưởng kinh tế, song không thể phát triển với mọi
giá mà phải xem xét, cân nhắc từ nhiều khía cạnh như khả năng vốn, cơng

nghệ, giá thành, thị trường, giải quyết việc làm, ơ nhiễm mơi trường... Bình
Xun có rất nhiều lợi thế về phát triển các ngành dịch vụ cho công nghiệp
như: cung cấp nguyên liệu, phụ kiện, sản xuất các loại hàng hóa cơng nghiệp,
máy cơng cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, chế biến một số sản phẩm từ
rừng, vật liệu xây dựng, Phát huy lợi thế so sánh về vị trí địa lý kinh tế, có thể
tận dụng các cơ hội từ bên ngồi để phát triển các ngành cơng nghiệp mới,
khơng truyền thống. Vì vậy, trước mắt chú trọng phát triển cơng nghiệp chế
biến, tăng tỷ lệ chế biến, nâng cao giá trị sản xuất tại chỗ cho các sản phẩm
địa phương, giải quyết việc làm cho người lao động, từng bước giảm dần tỷ lệ
các sản phẩm sơ chế chuyển sang các sản phẩm tinh chế, tiến tới tạo tích luỹ,
thu hút phát triển một số ngành cơng nghiệp mới, có hàm lượng khoa học
công nghệ cao để nâng cao hiệu quả kinh tế.
3.2. Mục tiêu phát triển
Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và đạt mức thu nhập bình
quân đầu người bằng 1,2-1,5 lần so với mức thu nhập bình qn tồn tỉnh vào
năm 2025, đảm bảo cơ cấu kinh tế hài hịa giữa khu vực cơng nghiệp - xây
dựng và khu vực dịch vụ; đưa cơ cấu kinh tế của huyện công nghiệp - dịch vụ
- nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững.
3.3. Định hướng phát triển các ngành công nghiệp
3.3.1. Khai thác triệt để nguồn nguyên liệu, vật liệu xây dựng tại chỗ,
lực lượng lao động dồi dào và đặc biệt là cơ hội từ khả năng lan toả nhanh
chóng của các địa bàn phát triển lân cận, đẩy mạnh phát triển một số ngành
công nghiệp phụ trợ như: công nghiệp chế biến nông, lâm sản; công nghiệp
dệt may; công nghiệp vật liệu xây dựng; cơ khí và cơng nghiệp lắp ráp và
phát triển một số lĩnh vực công nghệ cao, đáp ứng tốt nhu cầu phát triển cho
các khu công nghiệp đặt trên địa bàn huyện.
16


+ Công nghiệp chế biến nông lâm sản: thịt gia súc, gia cầm, hoa quả,

thức ăn gia súc gia cầm và chế biến lâm sản đồ gỗ gia dụng, ván ép, ván ghép
sàn, bột giấy, giấy và các sản phẩm từ giấy, tập trung tại các cụm, điểm công
nghiệp ở xã Trung Mỹ, thị trấn Gia Khánh và thị trấn Thanh Lãng.
+ Công nghiệp dệt, May, da giày: Tăng quy mơ sản xuất của các xí
nghiệp may xuất khẩu, thu hút đầu tư các nhà máy dệt kim, hoặc kéo sợi, sản
xuất nguyên liệu phụ trợ cho ngành may mặc, thuộc da, giày vải, sản xuất bao
bì nhựa.
+ Cơng nghiệp vật liệu xây dựng: Nâng công suất sản xuất gạch nung
Tuynel và gạch khơng nung, cơ giới hố khâu khai thác cát sỏi, vật liệu chịu
lửa, gạch Samot. ... ở thị trấn Hương Canh.
+ Cơng nghiệp cơ khí, sản xuất phụ tùng và lắp ráp máy nông nghiệp
và phương tiện vận tải; và một số ngành công nghiệp dịch vụ phục vụ cho
trung chuyển hàng hoá từ Vân Nam (Trung Quốc) đi Hải Phịng.
+ Phát triển tiểu thủ cơng nghiệp và ngành nghề nông thôn, đặc biệt là
ngành nghề cơ khí nhỏ, chế biến nơng sản trong nơng thơn phục vụ phát triển
nông nghiệp, nông thôn và là con đường làm giàu, nâng cao mức sống của
người nông dân.
+ Phát triển khu công nghiệp cao.
3.3.2. Hỗ trợ nhằm từng bước phát triển các hộ kinh doanh tiểu thủ
công nghiệp thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoạt động theo hình thức hội
để phát triển kinh tế. Hỗ trợ đào tạo để phát triển nguồn nhân lực, phát triển
ngành nghề truyền thống, du nhập nghề mới.
- Sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả đất đai, hạn chế lấy đất trồng lúa đã
được đầu tư thuỷ lợi hoàn chỉnh làm khu công nghiệp.
Về phân bố công nghiệp, do lợi thế về vị trí địa lý của Huyện, vì vậy có
thể bố trí các khu, cụm cơng nghiệp gắn với dịch vụ và phát triển đô thị theo
các trục không gian phát triển chủ yếu gồm: Trục Đông Bắc - Tây Nam gắn
với quốc lộ 2, trục Tây Bắc – Đông Nam gắn với cao tốc Nội Bài – Lào Cai
gắn với tỉnh lộ 303...
17



KẾT LUẬN
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đẩy mạnh cơng nghiệp hóa hiện đại
hóa. Với chiến lược đột phá, lấy công nghiệp làm nền tảng, phát triển công
nghiệp để đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Kiên định với con
đường phát triển công nghiệp, Đảng bộ với nhân dân huyện Bình Xun đã
đồn kết, nỗ lực phấn đấu, từng bước quy hoạch các khu, cụm công nghiệp.
Từ đó đã khơng ngừng củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của Đảng, tập trung chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội.
Nhìn lại từ thời điểm tái lập huyện năm 1998, Bình Xuyên còn là một
huyện nghèo, xuất phát điểm thấp, là một huyện thuần nông. Song với bước
đi đúng đắn trong việc đẩy mạnh chuyển dịch nền kinh tế phát triển theo
hướng công nghiệp kết hợp với khả năng tận dụng, khai thác và phát huy tốt
thế mạnh tiềm năng vốn có của huyện, từng bước phát triển công nghiệp và
đạt được những thành tựu đáng tự hào. Bình Xuyên ngày nay khơng cịn
những lị gạch ngun ngút khói bụi, cũng khơng cịn những thửa đất bỏ khơng
bạc màu. Hình ảnh Bình Xuyên – vùng công nghiệp trọng điểm của tỉnh được
định vị với những khu, cụm công nghiệp, làng nghề đang dần được lấp đầy;
những nhà máy, công xưởng hiện đại với những người công nhân sớm, tối
miệt mài tăng ca. Bình Xun khơng chỉ có vị trí kinh tế chính trị quan trọng
trong Tỉnh mà còn là đơn vị cơ sở vững mạnh của Đảng và Nhà nước. Vị trí
cũng như vai trị của Bình Xun ngày càng được khẳng định rõ nét hơn,
trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội của cả nước.
Sau những nỗ lực phấn đấu không ngừng nghỉ, với những kết quả đạt
được cùng những định hướng trong tương lai chắc chắn Bình Xuyên sẽ vươn
xa hơn trên con đường cơng nghiệp hóa hiện đại hóa. Hiện nay, Đảng bộ,
nhân dân các dân tộc trong huyện đang tiếp tục phát huy truyền thống đơn vị
Anh hùng, nỗ lực, đoàn kết, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm đẩy mạnh
quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế cơng nghiệp nói

18


riêng, phấn đấu hoàn thành mục tiêu xây dựng huyện trở thành trung tâm
công nghiệp và đô thị trước năm 2025 theo tinh thần đề ra.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Ban chấp hành Đảng bộ huyện Bình Xuyên (2000) “Lịch sử Đảng bộ
huyện Bình Xuyên” tập 1 (1930 – 1977).
19


2. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Bình Xuyên (2000) “Lịch sử Đảng bộ
huyện Bình Xuyên” (1930 – 1977), sơ thảo.
3. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Bình Xuyên (2005) “Lịch sử Đảng bộ
huyện Bình Xuyên” tập 2 (1977 – 2004).
4. Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 47 – NQ/TW, ngày
22/3/2005 cảu Bộ Chính trị “Về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân
số và kế hoạch hóa gia đình”.
5. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (10/2010) “Biên niên những
sự kiện lịch sử Đảng bộ tỉnh vĩnh Phúc (1930 – 2014).
6. Đảng bộ huyện Bình Xuyên (2005) “Danh nhân Bình Xuyên”.
7. Đảng bộ huyện Bình Xuyên “Bình Xuyên đất và người trên hành
trình hội nhập”, Nxb VHTT, xuất bản năm 2006.
8. Huyện ủy Bình Xuyên Ban chấp hành Đảng bộ quân sự huyện
(2010) “Lịch sử Đảng bộ quân sự huyện” (1945 – 2009).
9. “Báo cáo tổng kết công tác năm 1999 và phương hướng nhiệm vụ
cơng tác năm 2000”, Huyện ủy Bình Xuyên.
10. (Bản tin tuyên truyền Huyện Bình Xuyên”, số Xuân (2008), Ban
Tuyên giáo.

11. “Đại Nam nhất thống trí”, quyển IV, nxb CTQG, Hà Nội.
12. Huyện ủy Hội đồng nhân dân, UBND huyện Bình Xuyên (10/2003)
“Bình Xuyên vài nét xưa và nay”.
13. “Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ lâm thời Đảng bộ
huyện Bình Xuyên” (Trình Đại hội – Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XVI),
nhiệm kỳ 2000 – 2005.
14. “Báo cáo tổng kết công tác năm 2010, phương hướng nhiệm vụ
năm 2011”, huyện ủy Bình Xuyên.

20



×