Họ và tên : Mai Đức
Lớp : thương mại quốc tế k51
Mã SV : CQ 513612
Đề cương chuyên đề thực tập
Đề tài : Nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ tín dụng tại ngân hàng
TMCP Đại Á
MỞ ĐẦU
Hiện nay, so với quy mô của nền kinh tế, Việt Nam có một số lượng khá
nhiều các ngân hàng. Cụ thể, tính đến tháng 31/12/2012, hệ thống các tổ chức tín
dụng Việt Nam gồm có 5 ngân hàng thương mại nhà nước: Ngân hàng Ngoại
thương (Vietcombank - đã chính chuyển sang mơ hình cổ phần), Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển (BIDV), Ngân hàng Công thương (Vietinbank), Ngân hàng Phát
triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nơng
thơn (Agribank), 1 Ngân hàng Chính sách xã hội, 4 ngân hàng liên doanh, 34 ngân
hàng thương mại cổ phần, 50 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng 100%
vốn nước ngồi, 49 văn phịng đại diện của các ngân hàng nước ngồi, 18 cơng ty tài
chính, 12 cơng ty cho th tài chính và 915 tổ chứ tín dụng hợp tác.
Để cạnh tranh tốt trên thị trường với đông đối thủ cạnh tranh như vậy,nâng
cao chất lượng các dịch vụ là yêu cầu được đặt lên hàng đầu,trong đó dịch vụ tín
dụng là một trong những dịch vụ quan trọng nhất cần được ưu tiên với mỗi ngân
hàng
Được sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo PGD Trần Duy Hưng – Chi nhánh Hà
Nội– Ngân hàng TMCP Đại Á. Em đã được tạo điều kiện để tìm hiểu để có thể viết
về đề tài này
1
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG
DỊCH VỤ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Khái niệm chất lượng dịch vụ
Dịch vụ là bao gồm tồn bộ hoạt động trong suốt q trình mà khách hàng
và nhà cung cấp dịch vụ tiếp xúc nhau nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng mong
đợi có được trước đó cũng như tạo ra được giá trị cho khách hàng.
Theo lý thuyết thì dịch vụ có 3 đặc điểm cơ bản:
(1) Vơ hình.
(2) Khơng đồng nhất.
(3) Khơng thể tách ly.
Chính vì vậy mà dịch vụ có những đặc điểm riêng so với các ngành khác:
(1) Khách hàng là một thành viên trong quá trình dìch vụ.
(2) Việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm diễn ra thời.
(3) Khả năng sản xuất sẽ mất nếu không sử dụng do dịch vụ không thể lưu tồn
được và do vậy sẽ mất đi nếu không được sử dụng.
(4) Việc lựa chọn địa điểm phục vụ bị ràng buộc bởi khách hàng: khách
hàng và nhân viên nhà cung cấp dịch vụ phải gặp nhau để thực hiện dịch vụ, do vậy
điểm kinh doanh phải gần khách hàng.
(5) Sử dụng nhiều lao động
(6) Tính vơ hình: khách hàng khơng thể nhìn, chạm vào và dùng thử trước khi
mua.
(7) Khó khăn trong việc đo lường, đánh giá sản phẩm tạo ra
2
Những đặc trưng của dịch vụ đã tạo ra rất nhiều khác biệt trong việc định
nghĩa chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch v . Trong khi người tiêu dùng
có thể đánh giá chất lượng của sản phẩm hữu hình một cách dễ dàng thơng qua hình
thức, kiểu dáng sản phẩm, bao bì đóng gói, giá cả, uy tín thương hiệu, … thông qua
việc chạm vào sản phẩm, nếm, ngửi, nhìn trực tiếp sản phẩm để đánh giá thì lại
không thể thực hiện tương tự với những sản phẩm dịch vụ vơ hình. Chất lượng
dịch vụ sẽ được biểu hiện trong suốt quá trình sử dụng dịch vụ, quá trình tương tác
giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ đó.
Có thể cho rằng tổng quát nhất: chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự
mong đợi của khách hàng về những tiện ích mà dịch vụ sẽ mang lại cho họ và nhận
thức, cảm nhận của họ về kết quả họ có sau khi đã sử dụng qua dịch vụ đó
2. Khái niệm chất lượng dịch vụ tín dụng
Chất lượng dịch vụ tín dụng là khả năng đáp ứng của dịch vụ tín dụng
đốii với sự mong đợi của khách hàng đi vay, hay nói cách khác thì đó chính là
khoảng cách giữa sự kỳ vọng của khách hàng vay với cảm nhận của họ với những
kết quả mà họ nhận c sau khi giao dịch vay vốn với ngân hàng.
Xét trên khía cạnh nền kinh tế, căn cứ vào sự thể hiện của chất lượng
tín dụng ta có thể hiểu khoản tín dụng có chất lượng cao là khi khoản
vốn huy động được ngân hàng sử dụng đúng mục đích, tạo được số tiền
lớn, ngân hàng thu được cả vốn và lãi. Còn khách hàng vừa trả được nợ
ngân hàng đúng hạn vừa bù đắp được chi phí và có lợi nhuận. Như vậy,
ngân hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh tế, vừa đem lại hiệu quả xã hội.
Cho đến nay, định nghĩa về chất lượng tín dụng còn nhiều tranh cãi. Bởi
đây là khái niệm hết sức trừu tượng và những chuẩn mực của nó ln luôn
thay đổi ở nơi này hay nơi khác, tại thời điểm này hay thời điểm khác. Nhưng có
thể hiểu: “Chất lượng tín dụng là chất lượng của các khoản cho vay của Ngân
Hàng”.
Để tìm hiểu về chất lượng tín dụng, chúng ta cần hiểu một khoản tín dụng
được coi là có chất lượng khi thỏa mãn một số yêu cầu cơ bản sau:
3
Ngân hàng có khả năng thu hồi khoản tiền cho vay hay không.
Ngân hàng không những thu hồi được số tiền gốc cho vay mà còn thu hồi
được cả số tiền lãi kèm theo đúng hạn đã kí kết hợp đồng tín dụng.
Khả năng tín dụng ấy khơng chỉ mang lại thu nhập cho ngân hàng, mà
còn tạo điếu kiện thuận lợi cho người đi vay thực hiện được kế hoạch đặt ra.
Tiếp tục phát triển duy trì mối quan hệ với ngân hàng khách hàng lâu dài.
Ngồi ra cịn có những u cầu khác ở mức cao hơn, ví dụ như khoản tín
dụng đó tạo điều kiện phát triển một ngành, một lĩnh vực mà nhà nước đang
khuyến khích phát triển. Là ngành trọng điểm của nền kinh tế, đồng thời có khả
năng tránh được những rủi ro khác có thể xảy ra… . Tuy nhiên do những hạn chế
nhất định , khơng thể địi hỏi q cao đối với chất lượng tín dụng trong điều
kiện thị trường. Nước ta còn nước kém phát triển nền kinh tế gặp nhiều khó
khăn, nhiều rủi ro bất khả kháng có thể xảy ra
Tóm lại việc nâng cao chất lượng tín dụng là các hoạt động nhằm đạt được
những yêu cầu cơ bản trên một số yêu cầu cụ thể khác. Tất cả đều nhằm vào
mục tiêu mà bất cứ ngân hàng thương mại nào cũng phải đặt ra, đó là đảm bảo
khả năng sinh lời, vừa đảm bảo tính an tồn của đồng vốn đầu tư cũng như khả
năng hoàn thành kế hoạch của khách hàng.
3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch vụ tín dụng
Đánh giá về tài sản: Đối với tài sản Ngân hàng bao gồm có ngân quỹ
(gồm
tiền gửi tại Ngân hàng khác, tiền mặt trong két và các khoản phải thu), các
trái phiếu chính phủ và các giấy tờ có giá khác.
Đánh giá các khoản nợ:
- Về thời gian: cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn. Nhìn chung
các khoản huy động khơng kỳ hạn tài trợ cho các hình thức cho vay ngắn hạn.
Các khoản huy động có kỳ hạn thì tài trợ cho các khoản trung và dài hạn.
- Đánh giá về tỷ lệ nợ quá hạn.
- Đánh giá về các khoản nợ ưu đãi, nợ có đảm bảo và nợ khác.
4
Đánh giá về khả năng thanh khoản: Khả năng thanh tốn của Ngân hàng
có ý nghĩa sống cịn đối với sự tồn tại và sống còn của Ngân hàng. Tỷ lệ
thanh tốn càng cao thì ảnh hưởng đến mục tiêu lợi nhuận của Ngân hàng. Tỷ lệ
thanh toán thấp thì ảnh hưởng đến khả năng chi trả của Ngân hàng.
Tỷ lệ thanh toán nhanh = Ngân quỹ của người vay / Các khoản nợ hiện hành
Tỷ lệ thanh toán trung bình = Tài sản lưu động / Nợ hiện hành
Đánh giá luồng tiền: Ngân hàng tạo ra lợi nhuận lớn. Nhưng khả năng
thanh toán của Ngân Hàng phụ thuộc vào ngân quỹ. Kỳ hạn thu nợ có thể
lệch pha với việc chi trả. Do vậy, các Ngân hàng cần phải chú trọng đến khả
năng chi trả.
Đánh giá về khả năng tài trợ bằng vốn chủ: Thông thường các Ngân Hàng
phải có vốn chủ đảm bảo một phần cho tài sản lưu động.
Tỷ lệ tài trợ bằng vốn chủ = Vốn chủ sỡ hữu / Tổng tài sản.
Tỷ lệ này cho thấy khả năng tài chính của Ngân Hàng. Thường đối với
Ngân hàng tỷ lệ này ≈ 25 %.
Đánh giá về điều kiện kinh tế: Khi đánh giá về các chỉ tiêu tín dụng của
Ngân Hàng cần bám sát thực tế của nền kinh tế, cũng như chính sách tiền tệ của
chính phủ.
Đánh giá về hệ số an toàn vốn:
Hệ số an toàn vốn = Vốn chủ / Tổng tài sản có thể chuyển đổi
Hiện nay tại các Ngân hàng trên thế giới hệ số này ≈ 8% (Hệ số Cook) đối
với Ngân Hàng thương mại. Hệ số này cho phép đảm bảo khả năng thanh toán
của các Ngân hàng.
5
PHẦN II: KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP ĐẠI Á
1.
Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng TMCP Đại Á là pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, được
quyền tự chủ về tài chính và chủ động về kinh doanh, có hội sở chính tại 56-58
Cách Mạng Tháng Tám, phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hịa, tỉnh Ðồng
Nai có con dấu riêng, có bản tổng kết tài sản và trực tiếp làm nghĩa vụ với Ngân
sách Nhà nước.
Ngân hàng TMCP Đại Á (DaiAbank) được thành lập và đi vào hoạt động từ
ngày 30/7/1993, là ngân hàng cổ phần đầu tiên hoạt động tại địa bàn tỉnh Đồng
Nai.
Khởi đầu chỉ là Ngân hàng TMCP nông thôn hoạt động tại tỉnh Đồng Nai với 1
tỷ VNĐ vốn điều lệ, đến nay DaiABank đã trải qua hơn 18.
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐẠI Á NGÂN HÀNG
Năm 1993,
Ngày 30/07/1993 Thành lập Ngân hàng TMCP Đại Á tại Đồng Nai, với
vốn điều lệ ban đầu 1 tỷ VNĐ.
Năm 2001,
Tăng vốn điều lệ lên 8 tỷ VNĐ, sáp nhập Quỹ tín dụng nhân dân Quang
Vinh vào DaiABank
Năm 2002,
Tăng vốn điều lệ 16 tỷ VNĐ, với mạng lưới hoạt động 01 hội sở chính, 04
chi nhánh tại Thành phố Biên Hòa và Thị xã Long Khánh.
Năm 2003,
Tăng vốn điều lệ lên 25 tỷ VNĐ, với sự tham gia của 70 cổ đơng trong đó
có 02 cổ đơng pháp nhân là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi
nhánh Đồng Nai và Tổng cơng ty Tín Nghĩa.
6
Tháng 3, khai trương PGD Tam Phước tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng
Nai. DaiABank đạt được thành công trong lĩnh vực tài trợ vốn cho các hộ dân
doanh (sản xuất, thương mại, dịch vụ, nông nghiệp), doanh nghiệp vừa và nhỏ,
đặc biệt cho vay tiêu dùng, xây dựng nhà ở và sửa chữa nhà ở.
Năm 2004,
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đồng Nai hợp đồng
liên kết hỗ trợ DaiABank trong lĩnh vực: phát triển dịch vụ, công nghệ thông tin,
nâng cao nghiệp vụ, cấp tín dụng.
Tháng 5, tham gia dự án Tài chính Nơng thôn II do Hiệp hội Phát triển
Quốc tế (IDA) tài trợ.
Tăng vốn điều lệ lên 42 tỷ VNĐ với số cổ đông sở hữu vốn là 73.
Tháng 10, khai trương chi nhánh Trảng Bom tại huyện Trảng Bom.
Năm 2011,
Ngày 31/12, tăng vốn điều lệ lên 500 tỷ VNĐ với mạng lưới hoạt động gồm
Hội sở chính, 05 chi nhánh và 01 phịng giao dịch.
Năm 2012,
DaiABank thực hiện thành cơng chuyển đổi mơ hình hoạt động và chính
thức được Ngân hàng Nhà nước cho phép chuyển đổi sang mơ hình Ngân hàng
TMCP đô thị theo Quyết định số 2402/QĐ-NHNN ngày 10/11/2012.
Hệ thống mạng lưới hoạt động phát triển mạnh mẽ, phát triển thêm 04 PGD tại
Đồng Nai.
Năm 2011,
Ngày 26/02, Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh, đơn vị ngoại tỉnh đầu tiên sau
khi thực hiện chuyển đổi mơ hình chính thức đi vào hoạt động.
Ngày 19/4, thẻ ghi nợ nội địa - ATM “Chìa khóa đa năng” chính thức được phát
hành.
Ngày 02/10, khai trương chi nhánh Hà Nội – chi nhánh đầu tiên của
DaiABank tại khu vực phía Bắc.
Cuối năm 2011, DaiABank đạt 21 điểm giao dịch trên toàn quốc.
7
Năm 2012,
Quý I, DaiABank tăng vốn điều lệ lên 1.000 tỷ VNĐ.
Ngày 13/4, phát triển tiện ích “Gửi tiền bằng phong bì qua máy ATM” trên
tồn hệ thống.
Ngày 07/8, Chi nhánh Bình Dương khai trương hoạt động tại 553 Đại Lộ
Bình Dương - P.Hiệp Thành - TX Thủ Dầu Một - Bình Dương.
Đến cuối năm 2012, mạng lưới hoạt động đã lên 35 điểm giao dịch trên cả nước.
Năm 2010,
Ngày 16/01, khai trương Sở Giao dịch Đồng Nai tại 56 - 58 CMT8, Biên
Hịa, Đồng Nai, chính thức tách chức năng kinh doanh ra khỏi Hội sở.
Ngày 29/4, khai trương Chi nhánh Bà Rịa - Vũng Tàu tại: 63 Lê Hồng Phong,
thành phố Vũng Tàu.
Tháng 12, tăng vốn điều lệ lên 3.100 tỷ VNĐ.
Kết thúc năm 2011, DaiABank có tổng số 51 điểm giao dịch trên cả nước.
Năm 2011,
Ngày 28/4, tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông nhiệm kỳ 2011 2015.
Ngày 18/7, khai trương Chi nhánh Hàng Xanh – Chi nhánh thứ 2 của
DaiABank tại TP.HCM.
Ngày 30/7, chính thức công bố, ra mắt hệ thống nhận diện thương hiệu mới.
Ngày 16/9, khai trương Chi nhánh Hải Phòng – Chi nhánh thứ 2 của DaiABank
tại khu vực phía Bắc.
Tính đến tháng 12, DaiABank có 62 điểm giao dịch trên toàn quốc và đang
tiến hành triển khai ISO 9001:2011 nhằm thực hiện các quy trình sản phẩm dịch
vụ chất lượng hơn để ngày càng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
Năm 2012,
Ngày 07/02, khai trương CN Nghệ An, chi nhánh đầu tiên của DaiABank
tại khu vực Bắc Trung Bộ.
8
Ngày 16/02, khai trương CN Thăng Long, đây là chi nhánh thứ hai của
DaiABank tại khu vực Hà Nội.
Ngày 29/03, chính thức di dời CN Hà Nội sang địa điểm mới: Tịa nhà TT
Hội nghị Cơng đồn, 01 Yết Kiêu, P.Trần Hưng Đạo, Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội.
2. Cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động của Ngân hàng TMCP Đại Á
Ngân hàng TMCP Đại Á có vốn điều lệ hiện nay của ngân hang
là 3.100 tỷ VNĐ với mạng lưới hoạt động tại 7 tỉnh thành. Ngân hang hiện có
64 điểm giao dịch gồm sở giao dịch, chi nhánh, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm
trên cả nước (tính đến tháng 6/2012)
Mơ hình tổ chức bộ máy lãnh đạo:
3. Giới thiệu Chi nhánh Hà Nội – Ngân Hàng Đại Á
9
Được thành lập ngày 2/10/2011,Chi nhánh Hà Nội là Chi nhánh đâu tiên và
cũng là chi nhánh lớn nhất ở phía Bắc của Ngân hang TMCP Đại Á. Chi nhánh
ln là một trong những đơn vị đi đầu và đóng góp lớn nhất trong hoạt động của
tồn ngân hang
Đại Á Hà Nội có một giám đốc điều hành trực tiếp và một đội ngũ cán bộ
đủ mạnh, vừa thông thạo nghiệp vụ vừa có kinh nghiệm trong chỉ đạo điều hành,
trình độ chun mơn cao, biết ngoại ngữ, bước đầu thích nghi với cơ chế thị
trường, hồ nhập với nền kinh tế của khu vực và thế giới.
Ngân hàng có bẩy phịng chức năng : Phịng tổ chức hành chính, phịng
quan hệ quốc tế, phịng thanh tốn quốc tế, phịng tín dụng đầu tư, phịng kế
tốn, phịng ngân quỹ, tổ pháp chế
Cơ cấu tổ chức và hoạt động của chi nhánh trong những năm qua đã chứng
minh Ngân hàng là một chi nhánh trong toàn hệ thống liên tục thực hiện tốt các
chức năng kinh doanh, giữ vững cân đối chung về nguồn vốn và sử dụng vốn,
cùng với các Ngân hàng khác trên địa bàn, chi nhánh đã góp phần vào sự phát
triển kinh tế thủ đô và nâng cao hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống.
Ra đời trong điều kiện nền kinh tế mở với sự điều tiết của cơ chế thị trường
tạo môi trường kinh tế phù hợp để chi nhánh hoạt động kinh tế và phát triển.
Trong 14 năm hoạt động và trưởng thành dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Hội
đồng Quản trị, sự lãnh đạo sát sao và hỗ trợ to lớn về các mặt của Hội sở Trung
ương, cũng như sự tín nhiệm của các cổ đông và các đơn vị khách hàng, tập thể
lãnh đạo và cán bộ nhân viên của chi nhánh Đại Á Hà Nội đã tích cực cơng tác
đưa chi nhánh ngày càng lớn mạnh và trở thành một trong những Ngân hàng
kinh doanh có hiệu quả nhất trong địa bàn Hà Nội.
PHẦN III: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ TÍN DỤNG TẠI
CHI NHÁNH HÀ NỘI NGÂN HÀNG TMCP ĐẠI Á
1. Thực trạng hoạt động kinh doanh của Đại Á Hà Nội
* Về huy động vốn :
10
Công tác huy động vốn là một nhiệm vụ tiên quyết trong hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng. Muốn mở rộng hoạt động tín dụng của mình thì Ngân
hàng cần phải mở rộng hoạt động huy động vốn, vì thế bất kỳ Ngân hàng nào
cũng rất chú trọng đến hoạt động này. Trên thực tế đối với Đại Á Hà Nội cũng
vậy. Ngân hàng được sự chỉ đạo kịp thời của Hội đồng Quản trị, ban Tổng Giám
đốc và sự cố gắng nỗ lực phấn đấu của tồn thể cơng nhân viên đã đạt được
nhiều thành tích đáng kể trong những năm gần đây.
Với nguồn vốn khiêm tốn ban đầu do Hội sở Trung ương cung cấp để tiến
hành khai trương hoạt động là 532.000 USD và 7,485 tỷ VND đến năm 2006
được bổ sung 13.818 triệu VND (vốn cố định xây dựng trụ sở mới), chi nhánh
Đại Á Hà Nội đã tiến hành mở rộng việc huy động vốn từ nhiều đối tượng khác
nhau để đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động của chi nhánh.
Có thể nói, quán triệt tư tưởng huy động vốn của Đảng và Nhà nước để
phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế cuả thủ đô và cả nước, Ngân hàng đã huy
động vốn bằng nhiều hình thức khác nhau như: tiền gửi của dân cư, tiền gửi của
các tổ chức kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh, tư nhân tập thể. Ngoài ra
Ngân hàng còn đa dạng các thời hạn và khung lãi suất với mục đích thu hút
được nhiều nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức kinh tế. Với tinh
thần, thái độ tận tuỵ phục vụ khách hàng, đảm bảo vui lòng khách đến vừa lòng
khách đi, giải quyết thủ tục thuận lợi nhanh chóng, khách hàng gửi tiền vào và
rút tiền ra dễ dàng, hạn chế tối đa những sai sót nhầm lẫn về mặt nghiệp vụ để
đảm bảo ngày càng có tín nhiệm với khách hàng từ đó Ngân hàng đã tạo thế chủ
động đi vay và cho vay. Vì vậy trong những năm qua, cơng tác huy động vốn đã
đạt được những kết quả khả quan:
11
BẢNG 1 : CƠ CẤU VỐN HUY ĐỘNG TẠI ĐẠI Á HÀ NỘI
Đơn vị : Triệu đồng.
31/12/2010
CHỈ TIÊU
Tổng nguồn
Số tiền
31/12/2011
31/12/2012
Tỉ trọng Số tiền
Tỉ trọng
(%)
(%)
Số tiền
Tỉ trọng
(%)
420.279 100
326.220
100
492.845
100
Tiền gửi TCKT
319.412 76
123.964
38
149.484
30
Tiền gửi tiết kiệm
100.867 24
202.256
62
343.361
70
TG khơng kỳ hạn
306.804 73
114.177
35
111.225
22,6
TG có kỳ hạn
113.475 27
212.043
65
381.620
77,4
Theo đối tượng:
Theo cơ cấu:
12
Nguồn : Báo cáo cơng tác tín dụng năm 2010, 2011, 2012 tại Đại Á Hà Nội.
Trong đối tượng huy động giữa các thành phần kinh tế của Ngân hàng có sự
khác nhau rõ rệt qua các thời kỳ.
Năm 2012, tiền gửi của các thành phần kinh tế là 149.484 triệu chiếm 30%
trong tổng nguồn, giảm đi 46% so với năm 2010 và 8 % so với năm 2011. Cơ
cấu tiền gửi tiết kiệm cũng thay đổi, đạt 343.361 triệu chiếm 70% trong tổng
nguồn, tăng 242.494 triệu so với năm 2010 và tăng 141.105 triệu so với năm
2011. Trước 2011 Ngân hàng thường huy động vốn từ các tổ chức tín dụng nước
ngồi, do vậy năm 2010 tiền gửi tiết kiệm chỉ chiếm 24% trên tổng nguồn. Đến
năm 2011, do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế cuối năm 2010 nên
các Ngân hàng nước ngoài đã quyết định cắt hạn mức tín dụng với các Ngân
hàng của ta. Trước tình hình này, NHTMCP Đại Á đã đưa ra một quyết định
đúng đắn kịp thời là điều chỉnh mức lãi suất hợp lí, khuyến khích việc gửi tiền
tiết kiệm thực hiện việc huy động vốn trong nước, việc làm này đã đem lại
những kết quả khả quan (mức tiền gửi tiết kiệm trên tổng vốn huy động là 62% 2011, 70% -2012).
13
Trong kết cấu nguồn vốn cũng có sự khác biệt. Năm 2011 và năm 2012,
tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn. Cuối
năm 2011, tiền gửi có kỳ hạn là 212.043 triệu đồng tức là bằng 185,7% so với
tiền gửi không kỳ hạn, chiếm 65% trong tổng nguồn. Trong năm 2012, tiền gửi
không kỳ hạn là 111.225 triệu đồng chiếm 22,6% trong tổng nguồn trong khi đó
tiền gửi có kỳ hạn là 381.620 triệu đồng bằng 343,1 % so với tiền gửi không kỳ
hạn chiếm 77,4% trong tổng nguồn huy động. Trong khi đó, năm 2010 số dư
nguồn vốn huy động có kỳ hạn là 113.475 triệu đồng bằng 37% so với tiền gửi
không kỳ hạn chỉ chiếm 27% trong tổng nguồn. Năm 2010, số lượng các đơn vị,
cá nhân mở tài khoản thanh toán qua Ngân hàng là rất lớn, đây chính là nguyên
nhân chủ yếu làm tăng mức tiền gửi khơng kì hạn lên tới 73%, bên cạnh đó do
chưa có chính sách lãi suất hấp dẫn nên lượng tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn chỉ
chiếm 27% trên tổng nguồn. Trong q trình vận động thích ứng với tình hình
kinh tế mới Ngân hàng đã ngày càng mở rộng hoạt động kinh doanh thu hút
thêm số lượng khách hàng. Đại Á Hà Nội còn mở rộng khai thác nguồn vốn
ngắn hạn từ các tổ chức tín dụng trong và ngồi nước thơng qua hạn mức tín
dụng của Hội sở Trung ương phân bổ hoặc chi nhánh từ giao dịch liên hệ. Tuy
nhiên tình hình kinh tế và thực trạng hoạt động của NHTM nói chung có nhiều
biến động do vậy cũng ảnh hưởng đến nguồn vốn này.
Tóm lại, mặc dù có những khó khăn khách quan và chủ quan, nhưng Đại Á
Hà Nội đã luôn cố gắng vượt qua và kinh doanh có hiệu quả tốt. Trong năm
2012, cho dù Đại Á Hà Nội có nhiều cố gắng trong việc huy động vốn nhưng
nguồn vốn huy động chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm của dân cư. Đây chính là điểm
yếu của Ngân hàng Đại Á Hà Nội vì bình quân lãi suất huy động đầu vào cao,
đồng thời Ngân hàng luôn phải chịu sức Ðp về dự trữ thanh khoản do VND bị
mất giá so với USD. Tuy nhiên đây là bước đi tất yếu trên con đường hội nhập
mà Ngân hàng Đại Á đang tìm cách tháo gỡ để vươn lên.
* Về sử dụng vốn :
14
Hiện nay, nghiệp vụ tín dụng vẫn là nghiệp vơ sinh lời chủ yếu của các
NHTM Việt Nam nói chung và của chi nhánh Đại Á Hà Nội nói riêng.
Là mét NHTMCP, vốn hoạt động là do các cổ đông đóng góp, huy động
tiền gửi từ dân cư và các tổ chức kinh tế nên hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng sẽ vơ cùng khó khăn nếu chỉ lơ là một chút thơi thì hậu quả rủi ro tín dụng
sẽ khôn lường. Nhận thức được điều này, Đại Á Hà Nội rất chú trọng đến khâu
tín dụng, coi đó là hoạt động trọng tâm của Ngân hàng. Ngân hàng luôn thực
hiện cho vay với 3 mục tiêu cơ bản : Hiệu quả, an toàn vốn đầu tư và phát
triển.
Nhờ làm tốt công tác huy động vốn, Đại Á Hà Nội đã tích cực nhanh chóng
đa dạng hóa các mặt nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ Ngân hàng trong đó trọng
tâm là cơng tác tín dụng.
Tình hình tín dụng của Đại Á Hà Nội được thống kê cụ thể qua bảng:
BẢNG 2 : KẾT CẤU DƯ NỢ THEO THỜI HẠN CHO VAY CỦA ĐẠI Á
HÀ NỘI
Đơn vị : Triệu đồng.
31/12/2010
chỉ tiêu
Dư
nợ
Số tiền
31/12/2011
31/12/2012
Tỉ trọng Số tiền
Tỉ trọng Số tiền
Tỉ trọng
(%)
(%)
(%)
ngắn 236.236 93,68
156.095
87
170.248 84
41.113
22,90
61.087
hạn:
$ VND
95.764
37,98
30
$ USD
140.472 55,70
114.982
64,10
109.161 54
Dư nợ dài hạn :
15.932
6,32
23.326
13
32.311
16
$ VND
12.188
4,83
17.404
9,70
24.039
11,9
$ USD
3.744
1,49
5.922
3,30
8.272
4,1
Tổng dư nợ :
252.168 100.
179.421
100
202.559 100
15
Nguồn : Báo cáo tín dụng năm 2010, 2011, 2012 của Đại Á Hà Nội.
Dư nợ tín dụng tính đến cuối năm 2010 là 252.168 triệu đồng, đến
31/12/2011 là 179.421 triệu đồng giảm 28,8% so với cuối năm 2010. Cuối năm
2012, dư nợ tín dụng là 202.559 triệu đồng tăng so với năm 2011 là 12,9%. Năm
2012, dư nợ tín dụng ngắn hạn là 170.248 triệu đồng chiếm 84% trong tổng dư
nợ, giảm 65.988 triệu đồng so với năm 2010 và tăng 14.153 triệu đồng so với
năm 2011, trong khi đó dư nợ cho vay trung và dài hạn là 32.311 triệu đồng chỉ
chiếm 16% trong tổng dư nợ tín dụng bằng 202,8% so với năm 2010 và tăng
8.985 triệu so với năm 2011 (bằng 138,5%)
Là mét NHTM, Chi nhánh đã xác định đúng đắn mức vốn cho vay ngắn
hạn trong cơ cấu vốn đầu tư. Trong các năm 2010, 2011, 2012, tỷ trọng cho vay
ngắn hạn luôn ổn định ở mức cao, trên 80%. Mục tiêu lợi nhuận luôn đặt lên
hàng đầu nên Ngân hàng nhận thấy rõ ràng cho vay ngắn hạn có ưu thế hơn cho
vay trung và dài hạn sau khi nghiên cứu kỹ các dự án có tính khả thi, đem lại
hiệu quả, góp phần tăng trưởng kinh tế.
Xét theo cơ cấu loại tiền thì năm 2012 dư nợ tín dụng USD là 117.433
triệu đồng chiếm 81,4%, giảm 26.783 triệu đồng so với năm 2010 và giảm 3.471
triệu đồng so với năm 2011. Dư nợ tín dụng VND là 85.126 triệu đồng chiếm
42% trong tổng dư nợ giảm đi 22.826 triệu đồng so với năm 2010 và tăng
26.609 triệu đồng so với cùng kỳ năm 2011.
Tại Đại Á Hà Nội, đầu tư tín dụng đã bám sát yêu cầu thực tại, mở rộng đầu
tư với mọi thành phần kinh tế, sử dụng tối đa nguồn vốn vào tái đầu tư nhằm thu
lợi nhuận. Các khách hàng của Chi nhánh Đại Á Hà Nội bao gồm các DNNN,
cơng ty cổ phần, các hộ sản xuất có giấy chứng nhận kinh doanh.
16
BẢNG 3 : KẾT CẤU DƯ NỢ THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ
Đơn vị: Triệu đồng
2010
chỉ tiêu
Số tiền
2011
2012
Tỉ trọng Số tiền
Tỉ trọng
(%)
(%)
Số tiền
Tỉ trọng
(%)
Dư nợ NH:
236.236 93,68
156.095 87
170.248 84
DNNN
109.888 43,57
66.717
37,18
68.105
33,6
Cty CP+TNHH
110.266 43,72
79.049
44,1
95.913
47,3
Đối tượng khác
16.082
6,39
10.329
5,72
6.203
3,1
Dư nợ T & DH 15.932
6,32
23.326
13
32.311
16
DNNN
0
0
0
0
1.968
0,97
Cty CP+TNHH
15.932
6,32
23.326
13
29.783
14,74
Đối tượng khác
0
0
0
0
560
0,29
Tổng DN
252.168 100
179.421 100
202.559 100
17
Qua số liệu trên bảng ta thấy
* Đối với thành phần kinh tế quốc doanh:
Năm 2012 dư nợ với khối quốc doanh là 70.073 triệu đồng tăng 3.356 triệu
đồng so với năm 2011 và giảm 39.815 triệu so với năm 2010
Nhìn chung các DNQD được Ngân hàng đầu tư đa phần là các doanh
nghiệp làm ăn tốt, có hiệu quả thực sự vì khi đến vay vốn của Đại Á Hà Nội họ
khơng hề được ưu tiên gì hơn so với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế
khác như khi đến vay các Ngân hàng quốc doanh. Do không được ưu tiên nên
họ phải tính tốn kỹ lưỡng hiệu quả của đồng vốn vay thì họ mới có nhu cầu
vay. Tuy nhiên, điều này không những làm giảm đi khối lượng khách hàng là
những doanh nghiệp quốc doanh mà trái lại năm 2012 các doanh nghiệp có uy
tín của nhà nước đã đến vay các khoản vay trung và dài hạn tại ngân hàng.
* Đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh :
Năm 2010 dư nợ với số tiền là 126.198 triệu đồng chiếm tỷ trọng 50,04%
trên tổng dư nợ. Năm 2011 dư nợ giảm xuống với số tiền 102.375 triệu đồng với
tỷ lệ 57,1% trên tổng dư nợ. Năm 2012 với số tiền dư nợ là 125.696 triệu đồng
với tỷ lệ 62,04% trên tổng dư nợ. Như vậy, dư nợ ngắn hạn đối với các thành
phần kinh tế ngồi quốc doanh qua các năm có thay đổi tuy nhiên tỷ lệ phần
trăm vẫn luôn ổn định (lớn hơn 50%).
Đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Chi nhánh thẩm định rất kỹ càng
từ tính chất pháp lý của hồ sơ, đến phương án kinh doanh, tư cách thiện trí trả nợ
của khách hàng. Chính vì vậy, một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hộ tư
nhân mới cho vay đều thể hiện có năng lực kinh doanh và thực hiện đúng kế
hoạch trả nợ.
Chi nhánh Ngân hàng Đại Á Hà Nội rất quan tâm đến việc củng cố và nâng
cao chất lượng tín dụng, bằng việc đề ra các qui trình, qui chế hoạt động. Thực
hiện lựa chọn dự án đầu tư, lựa chọn khách hàng, tăng cường cơng tác kiểm tra,
kiểm sốt chấp hành chế độ nghiệp vụ, kịp thời phát hiện những sai sót để có
biện pháp xử lý phù hợp nhằm đảm bảo an toàn vốn và tài sản.
18
* Đối với các đối tượng khác:
Cho vay các DNTN, cá thể, HTX, các Ngân hàng khác giảm dần qua các
năm. Năm 2010 cho vay 16.082 triệu đồng chiếm 6,39% so với tổng dư nợ, đến
năm 2011 giảm xuống còn 10.329 triệu đồng chiếm 5,72% so với tổng dư nợ và
năm 2012 còn 6.790 triệu đồng chiếm 3,39% trong tổng dư nợ.
Kết quả kinh doanh tại chi nhánh Đại Á Hà nội :
Sau 14 năm hoạt động mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng tập thể cán bộ
nhân viên Chi nhánh Đại Á Hà Nội dưới sự quan tâm lãnh đạo của Hội đồng
quản trị và ban giám đốc, Chi nhánh đã nỗ lực kinh doanh và đạt được kết quả
nhất định góp phần vào kết quả chung của tồn hệ thống Đại Á như sau:
19
BẢNG 4 : KẾT QUẢ KINH DOANH VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
Đơn vị : Triệu đồng.
Chỉ tiêu
31/12/2010
31/12/2011
31/12/2012
Tổng nguồn vốn
420.279
326.220
492.845
DS cho vay
634.323
366.734
441.031
Dư nợ TD
252.168
179.421
202.559
Nợ quá hạn
17.632
12.503
8.028
Hiệu suất sử dụng vốn
60
55
41
Lợi nhuận
9.960
5.400
7.500
20