Luận văn
Thực trạng hạch tốn chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm tại Xí
nghiệp Dược phẩm Trung ương 2
1
Phần I: Cơ sở lý luận về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong doanh nghiệp sản xuất.
I.Những vấn đề chung về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong
các doanh nghiệp.
1.Khái niệm về chi phí và giá thành sản phẩm .
1.1.Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất :
Chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tồn bộ
hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến
hành các hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định có thể là tháng, quý,
năm.
Để tiến hành các hoạt động sản xuất, doanh nghiệp phải có ba yếu tố cơ
bản:
- Tư liệu lao động như nhà xưởng, máy móc, thiết bị và những tài sản cố định
khác.
- Đối tượng lao động như nguyên vật liệu, nhiên liệu..
- Lao động của con người.
Quá trình sử dụng các yếu tố cơ bản trong sản xuất cũng đồng thời là quá
trình doanh nghiệp phải chi ra những chi phí sản xuất tương ứng. Tương ứng với
việc sử dụng TSCĐ là chi phí khấu hao TSCĐ, tương ứng với việc sử dụng
nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu.. là những chi phí về nguyên liệu, vật liệu, nhiên
liệu; tương ứng với việc sử dụng lao động là chi phí về tiền cơng, tiền trích
BHXH, BHYT..
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá và cơ chế hạch toán kinh doanh, mọi
chi phí đều được biểu hiện bằng tiền, trong đó chi phí về tiền cơng, tiền trích
BHXH, BHYT là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống, cịn chi phí về
khấu hao TSCĐ, chi phí về nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu là biểu hiện bằng tiền
của hao phí về lao động vật hố.
2
Một doanh nghiệp sản xuất ngoài những hoạt động liên quan đến hoạt
động sản xuất ra sản phẩm hoặc lao vụ, cịn có những hoạt động kinh doanh và
các hoạt động khác khơng có tính chất sản xuất như hoạt động bán hàng, hoạt
động quản lý, những hoạt động mang tính chất sự nghiệp.. Chỉ những chi phí để
tiến hành các hoạt động sản xuất mới được coi là chi phí sản xuất. Nó khác với
chi tiêu - là sự chi ra, sự giảm đi thuần tuý của tài sản doanh nghiệp, khơng kể
các khoản đó dùng vào việc gì và dùng như thế nào. Chi phí được ghi vào bên nợ
của tài khoản chi phí. Chi tiêu là sự hao phí vật chất tại thời điểm tiêu dùng cụ
thể, được ghi vào bên có tài khoản tài sản. Ta chỉ tính vào chi phí của kỳ hạch
tốn về tài sản và lao động có liên quan đến khối lượng sản xuất ra trong kỳ chứ
không phải mọi khoản chi ra trong kỳ hạch tốn. Ngược lại chi tiêu có thể cho
nhiều mục đích khác ngồi sản xuất như chi tiêu cho quá trình tiêu thụ, chi cho
quản lý doanh nghiệp, dùng tiền nộp thuế lợi tức, trả nợ người bán, trả nợ ngân
hàng..
Chi phí và chi tiêu có bản chất và phạm vi khác nhau nhưng có quan hệ
mật thiết với nhau. Các khoản chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, khơng có
chi tiêu thì khơng có chi phí. Có những khoản chi tiêu thực tế đã phát sinh trong
kỳ nhưng chưa được tính vào chi phí (nguyên vật liệu mua về nhập kho chưa sử
dụng, chi phí trả trước), và có những khoản chi tiêu thực tế chưa phát sinh nhưng
đã được ghi nhận vào chi phí của kỳ hạch tốn (chi phí phải trả).
Như vậy, thực chất của chi phí sản xuất ở các doanh nghiệp là sự chuyển
dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định (sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ), nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thường xuyên trong suốt quá
trình tồn tại và hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, nhưng để phục vụ cho quản
lý và hạch tốn kinh doanh, chi phí sản xuất phải được tính tốn tập hợp theo
từng thời kỳ: hàng tháng, hàng quý, hàng năm phù hợp với kỳ báo cáo. Chỉ
những chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong thời kỳ mới tính vào chi phí sản
xuất trong kỳ.
3
1.2.Bản chất - chức năng của giá thành sản phẩm :
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của tồn bộ các khoản hao phí
về lao động sống và lao động vật hố có liên quan đến khối lượng cơng việc, sản
phẩm, lao vụ đã hồn thành.
Như vậy chỉ tiêu giá thành phải gắn với từng loại sản phẩm, cụ thể chỉ tiêu
này chỉ được tính xác định đối với một số lượng sản phẩm đã hoàn thành khi kết
thúc tồn bộ quy trình sản xuất hay một giai đoạn sản xuất (bán thành phẩm) chứ
khơng tính cho thành phẩm đang còn nằm trên dây chuyền sản xuất.
Giá thành có chức năng thơng tin và kiểm tra thể hiện trên hai mặt sau:
- Giá thành là giới hạn để bù đắp chi phí : giá thành là mức tối thiểu để xác
định khả năng bù đắp chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra cho quá trình thực hiện
sản xuất và thực hiện giá trị sản phẩm.
- Giá thành là căn cứ để lập giá : để bù đắp chi phí bỏ ra và sản xuất kinh
doanh có lãi, khi xác định giá bán của sản phẩm phải căn cứ vào giá thành.
Giá thành sản phẩm sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có là
chi phí sản xuất đã chi ra và lượng giá trị sử dụng thu được cấu thành trong khối
lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành. Như vậy bản chất của giá thành sản
phẩm là sự chuyển dịch giá trị các yếu tố chi phí vào những sản phẩm, cơng việc
đã hồn thành.
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng hoạt
động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền
vốn trong quá trình sản xuất, cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh
nghiệp đã thực hiện, nhằm đạt được mục đích sản xuất được khối lượng sản
phẩm nhiều nhất với chi phí sản xuất tiết kiệm và hạ giá thành.
Giá thành sản phẩm còn là căn cứ để tính tốn xác định hiệu quả kinh tế
các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Việc tính đúng, tính đủ giá thành giúp
cho việc phản ánh đúng tình hình thực hiện và kết quả thực hiện giá thành của
doanh nghiệp, xác định đúng đắn kết quả của kỳ kinh doanh.
4
Thơng qua việc phân tích tỷ lệ hạ giá thành có thể thấy trình độ sử dụng
tiết kiệm, hợp lý các yếu tố của quá trình sản xuất, khả năng tập trung cơng suất
máy móc thiết bị trong q trình sản xuất kinh doanh. Từ đó giúp các nhà quản lý
có những quyết định phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.3.Quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện thống nhất của
q trình sản xuất, chúng có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sản xuất
sản phẩm. Chi phí sản xuất thể hiện mặt hao phí cịn giá thành sản phẩm thể hiện
kết quả của quá trình sản xuất do đó chúng giống nhau về mặt chất tức là đều bao
gồm những chi phí về lao động sống và lao động vật hố trong q trình sản xuất
tạo ra sản phẩm. Nội dung cơ bản của chúng đều là biểu hiện bằng tiền của
những chi phí doanh nghiệp đã bỏ ra cho hoạt động sản xuất.
Trên giác độ kế tốn hạch tốn chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
là hai bước công việc kế tiếp và gắn bó hữu cơ với nhau. Chi phí sản xuất trong
kỳ là căn cứ, là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, cơng việc, lao vụ hồn thành.
Sự tiết kiệm hoặc lãng phí của doanh nghiệp về chi phí sản xuất có thể ảnh
hưởng trực tiếp đến giá thành của sản phẩm hạ hoặc cao. Sự chính xác, đầy đủ
của cơng tác tập hợp chi phí sản xuất quyết định tính chính xác của cơng tác tính
giá thành. Do vậy, để đảm bảo cho kế toán giá thành một cách kịp thời, nhanh
chóng, chính xác phải tổ chức hạch tốn chi phí sản xuất thật khoa học và hợp lý.
Mặc dù có liên quan chặt chẽ với nhau song giữa chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm có những mặt khác nhau:
- Xét về thời gian: chi phí sản xuất chỉ gắn với một thời kỳ nhất định còn
giá thành sản phẩm liên quan tới nhiều kỳ như chi phí kỳ trước chuyển sang, chi
phí phát sinh kỳ này.
- Về góc độ giá trị và sản phẩm :
5
+ Chi phí sản xuất là bao gồm tồn bộ chi phí bỏ ra trong một thời kỳ sản xuất
kinh doanh, khơng cần tính đến chi phí đó liên quan đến khối lượng sản phẩm đã
hoàn thành hay chưa.
+ Giá thành sản phẩm bao gồm những chi phí tính cho khối lượng sản phẩm, lao
vụ hoàn thành trong kỳ mà khơng cần tính đến chi phí đó phát sinh ở kỳ nào.
Trong giá thành sản phẩm bao gồm các chi phí phát sinh ở các kỳ trước (chi phí
sản xuất dở dang đầu kỳ), một phần chi phí phát sinh trong kỳ (chi phí trả trước)
và một phần chi phí sẽ phát sinh trong các kỳ sau nhưng được tính trước vào chi
phí trong kỳ (chi phí phải trả).
Điểm khác nhau giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là về mặt
lượng, thể hiện:
Tổng giá thành
sản phẩm
=
Chi phí sản xuất
dở dang đầu kỳ
+
Chi phí sản xuất
phát sinh trong kỳ
-
Chi phí sản xuất
dở dang cuối kỳ
Khi giá trị sản phẩm dở dang (chi phí sản xuất dở dang) đầu kỳ và cuối kỳ
bằng nhau hoặc các ngành sản xuất khơng có sản phẩm dở dang thì tổng giá
thành sản phẩm bằng tổng chi phí phát sinh.
Như vậy, sự lãng phí hay tiết kiệm chi phí sản xuất của doanh nghiệp có
ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm. Do đó quản lý giá thành phải gắn
liền với quản lý chi phí sản xuất .
2.Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm :
2.1.Phân loại chi phí sản xuất :
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có nội dung kinh tế
khác nhau, mục đích và cơng dụng của chúng trong q trình sản xuất cũng
không giống nhau. Để phục vụ cho công tác quản lý chi phí sản xuất và kế tốn
tập hợp chi phí sản xuất cần thiết phải phân loại chi phí sản xuất theo các tiêu
thức khác nhau. Việc phân loại này sẽ có tác dụng nâng cao tính chi tiết của
6
thơng tin chi phí, phục vụ đắc lực cho cơng tác quản lý, lập kế hoạch, đồng thời
tạo cơ sở tin cậy cho việc phấn đấu giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh tế của
chi phí. Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu .
2.1.1.Phân loại theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh:
Căn cứ vào việc tham gia của chi phí sản xuất vào hoạt động kinh doanh,
tồn bộ chi phí được chia làm ba loại:
- Chi phí sản xuất kinh doanh: bao gồm các chi phí liên quan đến hoạt
động sản xuất, tiêu thụ, quản lý hành chính như chi phí về nguyên vật liệu, tiền
lương, chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng ...
- Chi phí hoạt động tài chính: gồm những chi phí liên quan đến hoạt động
về vốn và đầu tư tài chính như cho th tài sản, mua chứng khốn, cho vay …
- Chi phí bất thường: gồm những chi phí ngồi dự kiến: như chi phí về
thanh lý, nhượng bán TSCĐ, chi tiền nộp phạt…
Cách phân loại này giúp cho việc phân loại chi phí được chính xác, phục
vụ cho việc xác định chi phí, kết quả của từng loại hoạt động kinh doanh và lập
báo cáo tài chính.
2.1.2.Phân loại theo yếu tố chi phí :
Phân loại theo yếu tố chi phí để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí
theo nội dụng kinh tế ban đầu đồng nhất của nó mà khơng xét đến cơng dụng cụ
thể, địa điểm phát sinh chi phí. Theo quy định hiện hành ở Việt Nam (Thơng tư
63/1999/TT-BTC, ngày 7/6/1999), tồn bộ chi phí sản xuất được chia thành 6
yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu động lực bao gồm tồn bộ giá trị
ngun vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.. (loại trừ
giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
- Chi phí khấu hao TSCĐ : phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích
trong kỳ cho tất cả TSCĐ sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
7
- Chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương: phản ánh các
khoản tiền lương, tiền cơng và các khoản phụ cấp có tính chất lương phải trả cho
người lao động tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .
- Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí cơng đồn: phản ánh
phần BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và
phụ cấp lương phải trả cho công nhân viên chức.
- Chi phí dịch vụ mua ngồi: phản ánh tồn bộ chi phí dịch vụ mua ngồi
dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh: chi phí sửa chữa TSCĐ th ngồi, chi
phí điện, nước, điện thoại, vận chuyển hàng hoá, thành phẩm, tiền trả hoa hồng
đại lý, môi giới, uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu, tiền mua bảo hiểm tài sản, tiền
thuê kiểm toán, tư vấn, quảng cáo và các dịch vụ mua ngồi khác.
- Chi phí bằng tiền khác: là các khoản chi phí khác bằng tiền chưa phản
ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ: thuế
môn bài, thuế sử dụng đất, thuế tài nguyên, lệ phí cầu phà, chi phí tiếp tân, quảng
cáo, tiếp thị , giao dịch đối ngoại, bảo hành sản phẩm..
Việc phân loại theo yếu tố chi phí có tác dụng trong việc cung cấp thơng
tin chi phí một cách cụ thể hơn nhằm phục vụ cho việc xây dựng và phân tích
mức vốn lưu động, lập, kiểm tra và phân tích dự tốn chi phí .
2.1.3.Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm :
Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện
cho việc tính giá thành tồn bộ, chi phí được phân chia theo khoản mục. Cách
phân chia này dựa vào cơng dụng của chi phí và cách phân bổ chi phí cho từng
đối tượng.
Theo quy định hiện hành, giá thành sản xuất (giá thành công xưởng) ở
Việt Nam gồm các khoản mục chi phí trực tiếp:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : phản ánh tồn bộ chi phí về ngun
vật liệu chính, ngun vật liệu phụ, nhiên liệu và động lực ...sử dụng trực tiếp
cho việc chế tạo sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp ...
8
- Chi phí nhân cơng trực tiếp : gồm các khoản chi trả cho người lao động
trực tiếp sản xuất như : tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất
lương, chi ăn ca, chi BHXH, BHYT, KPCĐ của cơng nhân trực tiếp sản xuất.
- Chi phí sản xuất chung: gồm các khoản chi phí chung phát sinh ở các
phân xưởng, bộ phận sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: tiền lương, phụ
cấp. ăn ca phải trả cho nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ
xuất dùng cho phân xưởng, khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngồi và các
chi phí bằng tiền ngồi các chi phí kể trên.
Ngồi ra khi tính chỉ tiêu giá thành tồn bộ (giá thành tiêu thụ) thì chỉ tiêu
giá thành cịn bao gồm khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp. Giá thành tiêu thụ của sản phẩm chỉ được tính tốn xác định khi sản
phẩm hoặc cơng việc được tiêu thụ. Giá thành tiêu thụ của sản phẩm là căn cứ để
tính tốn, xác định lãi trước thuế lợi tức của doanh nghiệp.
2.1.4. Phân loại theo chức năng của chi phí trong sản xuất kinh doanh:
Dựa vào chức năng hoạt động trong q trình sản xuất kinh doanh và chi
phí liên quan đến việc thực hiện các chức năng mà chi phí sản xuất kinh doanh
được chia làm 3 loại sau:
- Chi phí thực hiện chức năng sản xuất: bao gồm những chi phí phát sinh
liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực hiện lao vụ trong phạm vi
phân xưởng, như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân cơng trực tiếp,
chi phí sản xuất chung.
- Chi phí thực hiện chức năng tiêu thụ: bao gồm những chi phí phát sinh
liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hố.. như chi phí cho nhân viên bán
hàng, chi phí bảo hành sản phẩm..
- Chi phí thực hiện chức năng quản lý: bao gồm các chi phí quản lý kinh
doanh, hành chính và những chi phí phát sinh liên quan đến hoạt động của doanh
nghiệp như chi phí nhân viên quản lý doanh nghiệp, chi phí công cụ, vật liệu
dùng cho quản lý....
9
Cách phân loại này thuận lợi cho công tác kiểm sốt và quản lý chi phí,
cũng là cơ sở để xác định giá thành sản xuất, giá thành toàn bộ.
2.2.Phân loại giá thành sản phẩm:
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế toán giá thành, xác
định giá bán, giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ, phạm vi tính tốn khác
nhau:
a. Căn cứ vào thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành, giá thành được
chia làm ba loại :
- Giá thành kế hoạch: được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên
cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự tốn chi phí của kỳ kế
hoạch.
- Giá thành định mức: được xác định trước khi bước vào sản xuất sản
phẩm trên cơ sở các định mức kinh tế kỹ thuật hiện hành cho từng giai đoạn của
quá trình sản xuất và của cả quá trình.
- Giá thành thực tế: được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản
phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong q trình sản xuất sản
phẩm.
b. Căn cứ vào phạm vi phát sinh chi phí :
- Giá thành sản xuất: là chỉ tiêu phản ánh tồn bộ các khoản chi phí phát
sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản
xuất.
- Giá thành toàn bộ: là chỉ tiêu phản ánh tồn bộ các khoản chi phí phát
sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
Giá thành toàn bộ
của sản phẩm
=
Giá thành sản xuất
của sản phẩm
+
Chi phí
bán hàng
+
Chi phí quản lý
doanh nghiệp
10
3. Sự cần thiết và nhiệm vụ của tổ chức hạch tốn chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm:
Trong cơng tác quản lý doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn được các nhà quản lý doanh
nghiệp quan tâm .Với những thơng tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
do bộ phận kế toán cung cấp, những người quản lý doanh nghiệp nắm được chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm thực tế của từng loại hoạt động, từng loại sản
phẩm, lao vụ cũng như kết quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Từ đó phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các định mức chi phí
và dự tốn chi phí, tình hình sử dụng tài sản, vật tư, lao động tiền vốn, tình hình
thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm làm cơ sở cho việc ra các quyết định quản
lý thích hợp. Thơng qua việc phân tích và đánh giá những chỉ tiêu này, doanh
nghiệp sẽ có những biện pháp nhằm tổ chức sản xuất hợp lý, nâng cao hiệu quả
sử dụng chi phí, hạ giá thành sản phẩm.
Để tổ chức cơng tác kế tốn tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm áp ứng đầy đủ, trung thực và kịp thời yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và
giá thành của doanh nghiệp, kế toán cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Căn cứ vào đặc điểm quy trình cơng nghệ, đặc điểm tổ chức sản xuất sản
phẩm của doanh nghiệp để xác định đối tượng và phương pháp hạch tốn chi phí
sản xuất, đối tượng và phương pháp tính giá thành phù hợp.
- Tổ chức tập hợp và phân bổ chính xác từng loại chi phí sản xuất phát
sinh cho từng đối tượng.
- Lựa chọn phương pháp và xác định chính xác sản phẩm dở dang cuối kỳ.
- Vận dụng phương pháp tính giá thành thích hợp để tính giá thành và giá
thành đơn vị của các đối tượng tính giá thành theo đúng các khoản mục quy định
và đúng kỳ tính giá thành đã xác định.
11
- Giám sát tình hình thực hiện các định mức chi phí, phân tích tình hình
thực hiện kế hoạch giá thành, lập các báo cáo chi phí sản xuất và giá thành theo
đúng chế độ.
II. Tổ chức hạch toán chi phí sản xuất :
1.Đối tượng hạch tốn chi phí sản xuất :
Hoạt động sản xuất của doanh nghiệp có thể tiến hành ở nhiều phân
xưởng, bộ phận khác nhau, ở từng địa điểm sản xuất lại có thể sản xuất, chế biến
nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc lao vụ khác nhau theo các quy trình sản
xuất khác nhau. Do đó các chi phí sản xuất cũng phát sinh ở nhiều địa điểm,
nhiều bộ phận, liên quan đến nhiều sản phẩm, công việc cần được tập hợp theo
yếu tố, khoản mục chi phí cho những phạm vi, giới hạn nhất định để phục vụ cho
việc tính giá thành sản phẩm. Như vậy việc xác định đối tượng hạch toán chi phí
sản xuất thực chất là việc xác định phạm vi, giới hạn mà chi phí sản xuất cần
được tập hợp.
Xác định đúng đắn đối tượng hạch tốn chi phí sản xuất là điều kiện để
thực hiện tốt công tác hạch tốn chi phí.
Việc xác định đối tượng hạch tốn chi phí sản xuất cần dựa vào các căn cứ
sau:
- Căn cứ vào đặc điểm quy trình cơng nghệ sản xuất :
Nếu doanh nghiệp có quy trình cơng nghệ sản xuất giản đơn: đối tượng
hạch tốn chi phí có thể là sản phẩm hoặc tồn bộ quy trình cơng nghệ.
Nếu doanh nghiệp có quy trình cơng nghệ phức tạp: đối tượng hạch tốn
chi phí sản xuất có thể là bộ phận, chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến..
- Căn cứ vào loại hình sản xuất sản phẩm :
Với loại hình sản xuất đơn chiếc thì đối tượng hạch tốn chi phí sản xuất là
từng loại sản phẩm.
Với loại hình sản xuất hàng loạt thì đối tượng hạch tốn chi phí sản xuất
có thể là từng đơn đặt hàng hoặc từng loại sản phẩm ...
12
- Căn cứ vào yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất của doanh
nghiệp:
Với trình độ cao có thể hạch tốn chi tiết đối tượng hạch tốn chi phí sản
xuất ở các góc độ khác nhau nhằm cung cấp thơng tin chi phí chi tiết.
Với trình độ thấp, đối tượng hạch tốn chi phí sản xuất thường khơng chi
tiết cụ thể.
Như vậy đối tượng hạch tốn chi phí sản xuất trong doanh nghiệp có thể là:
- Từng phân xưởng, tổ đội sản xuất hoặc toàn doanh nghiệp.
- Từng giai đoạn cơng nghệ hoặc tồn bộ quy trình công nghệ.
- Từng thành phẩm, đơn đặt hàng, hạng mục cơng trình.
- Từng bộ phận, chi tiết sản phẩm.
Hạch tốn chi phí sản xuất theo từng đối tượng cụ thể là điều kiện quan
trọng trong việc tăng cường quản lý, giám sát hoạt động sản xuất, hạch toán nội
bộ cũng như phục vụ tốt cho việc tính giá thành sản phẩm nhanh chóng, chính
xác. Trên cơ sở đối tượng hạch tốn chi phí, kế tốn sẽ lựa chọn đối tượng tính
giá thành thích hợp.
2.Phương pháp hạch tốn chi phí sản xuất :
Phương pháp hạch tốn chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thống
các phương pháp được sử dụng để phân loại và tập hợp các chi phí sản xuất trong
phạm vi giới hạn của đối tượng hạch tốn chi phí sản xuất. Trong mỗi doanh
nghiệp có những đối tượng hạch tốn chi phí sản xuất khác nhau vì vậy phải có
những phương pháp hạch tốn chi phí khác nhau cho mỗi loại đối tượng. Hiện
nay có rất nhiều phương pháp được áp dụng trong các doanh nghiệp. Sau đây là
một số phương pháp chủ yêú:
- Phương pháp hạch tốn chi phí sản xuất theo sản phẩm:
Theo phương pháp này, các chi phí phát sinh sẽ được tập hợp riêng cho
từng sản phẩm riêng biệt không phụ thuộc vào tính chất phức tạp của sản phẩm
và dây chuyền cơng nghệ sản xuất. Theo đó nếu doanh nghiệp có quy trình cơng
13
nghệ sản xuất phức tạp thì các chi phí trực tiếp sẽ được phân bổ cho từng sản
phẩm riêng biệt, cịn chi phí chung sẽ được phân bổ cho sản phẩm theo các tiêu
thức thích hợp.
Khi áp dụng phương pháp này thì giá thành sản phẩm sẽ được tính theo
phương pháp trực tiếp hoặc tổng cộng chi phí. Phương pháp này thường áp dụng
ở các đơn vị sản xuất mang tính đơn chiếc, ít sản phẩm.
- Phương pháp hạch tốn chi phí sản xuất theo bộ phận chi tiết sản phẩm :
Theo phương pháp này các chi phí sản xuất sẽ được tập hợp và phân loại
chi tiết theo từng chi tiết hoặc bộ phận cấu thành sản phẩm. Cuối kỳ hạch toán
giá thành sẽ được xác định bằng tổng cộng số chi phí của các chi tiết, bộ phận
cấu thành sản phẩm đó.
Phương pháp này khá phức tạp nên thường áp dụng ở các doanh nghiệp
chun mơn hố sản xuất cao, sản xuất ít sản phẩm hoặc mang tính chất đơn
chiếc, có ít bộ phận cấu thành sản phẩm.
- Phương pháp hạch tốn chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm:
Theo phương pháp này sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra sẽ được
phân loại thành từng nhóm theo một tiêu thức nào đó và chi phí sản xuất sẽ được
tập hợp riêng cho từng nhóm.
Khi áp dụng phương pháp này thì giá thành sản phẩm sẽ được xác định
theo phương pháp liên hợp, nghĩa là sử dụng đồng thời một số biện pháp như
phương pháp hệ số, phương pháp tỷ lệ và thường áp dụng rộng rãi trong các
doanh nghiệp sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm có quy cách khác nhau.
- Phương pháp hạch tốn chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng:
Theo phương pháp này chi phí sẽ được tập hợp riêng cho từng đơn đặt
hàng riêng biệt và giá thành sẽ là tổng chi phí phát sinh tính cho từng đơn đặt
hàng đó. Đối với các chi phí vật liệu và nhân cơng trực tiếp thì được tập hợp trực
14
tiếp theo từng đơn hàng riêng, cịn chi phí chung sẽ được tập hợp và sau đó phân
bổ cho từng đơn hàng.
- Phương pháp hạch tốn chi phí sản xuất theo phân xưởng:
Theo phương pháp này các chi phí phát sinh sẽ được tập hợp theo từng
đơn vị sản xuất như phân xưởng, tổ đội sản xuất. Trong mỗi đơn vị sản xuất này,
chi phí lại được phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí như sản phẩm, chi tiết
sản phẩm ...
Phương pháp này thường được áp dụng tại các doanh nghiệp có chia thành
nhiều bộ phận, phân xưởng sản xuất riêng lẻ.
- Phương pháp hạch tốn chi phí sản xuất theo giai đoạn công nghệ:
Theo phương pháp này các chi phí sản xuất được tập hợp và phân loại theo
từng giai đoạn cơng nghệ, chi phí sẽ được tập hợp và phân loại theo từng loại bán
thành phẩm, thành phẩm và giá thành sẽ được xác định theo phương pháp tổng
cộng chi phí của các giai đoạn.
Phương pháp này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có dây chuyền
công nghệ sản xuất phức tạp, sản xuất liên tục.
3. Trình tự hạch tốn chi phí sản xuất :
Chi phí sản xuất trước hết được biểu hiện bao gồm nhiều loại với tính chất
và nội dung khác nhau. Thơng qua các phương pháp hạch tốn, chi phí sẽ được
tính vào các khoản mục của giá thành sản phẩm. Chính vì vậy, việc tập hợp chi
phí sản xuất được tiến hành theo một trình tự hợp lý, khoa học thì mới có thể tính
giá thành sản phẩm một cách chính xác, kịp thời được. Trình tự này phụ thuộc
vào đặc điểm sản xuất của từng ngành nghề, từng doanh nghiệp và mối quan hệ
giữa các hoạt động sản xuất kinh doanh nghiệp, vào trình độ cơng tác quản lý và
hạch tốn... Tuy nhiên có thể khái qt chung việc tập hợp chi phí sản xuất qua
các bước sau:
15
-Bước 1: Tập hợp các chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp cho từng đối
tượng hạch toán chi phí, thường là các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và các chi
phí nhân cơng trực tiếp.
-Bước 2: Tập hợp, tính tốn và phân bổ chi phí của các bộ phận sản xuất
kinh doanh phụ cho từng đối tượng sử dụng - dựa trên cơ sở lao vụ phục vụ và
giá thành đơn vị lao vụ.
-Bước 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các loại sản
phẩm có liên quan.
-Bước 4: Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ, tính ra tổng giá thành
và giá thành sản phẩm đơn vị.
4. Nội dung tổ chức hạch tốn chi phí sản xuất tại doanh nghiệp :
4.1.Ngun tắc hạch tốn chi phí sản xuất :
Để hạch tốn chi phí sản xuất một cách khoa học, chính xác thì việc hạch
tốn chi phí sản xuất phải tn theo các nguyên tắc sau:
- Phải xác định chính xác, đầy đủ các chi phí sản xuất đã bỏ ra để sản xuất sản
phẩm hay thực hiện lao vụ trong kỳ. Bao gồm:
+Tính đúng: là phản ánh một cách trung thực, đúng nội dung kinh tế, đúng
đối tượng chịu phí.
+Tính đủ: là hạch tốn đầy đủ, chính xác các khoản chi phí sản xuất phát
sinh trong kỳ.
- Phản ánh đầy đủ, kịp thời các chi phí phát sinh trong kỳ lên hệ thống các sổ chi
tiết và tổng hợp, đáp ứng được các u cầu thơng tin chi phí cho quản trị doanh
nghiệp.
4.2.Tổ chức chứng từ ban đầu - cơ sở cho hạch tốn chi phí sản xuất :
Cơ sở số liệu của việc hạch toán kế toán là các chứng từ kế tốn. Muốn tổ
chức hạch tốn chi phí sản xuất một cách nhanh chóng, chính xác, cần thiết phải
tổ chức chứng từ hạch toán ban đầu (bao gồm lập và luân chuyển chứng từ) một
16
cách đầy đủ, hợp lý đối với các chi phí trực tiếp, xác định việc lập, luân chuyển
các chứng từ kế toán khoản mục cần thiết đối với các khoản chi phí chung.
Hệ thống các chứng từ gốc được hình thành tại nơi phát sinh chi phí gồm
có:
- Hệ thống chứng từ về xuất dùng nguyên vật liệu, công cụ lao động (phiếu
xuất kho, biên bản kiểm kê, phiếu báo hỏng, bảng phân bổ nguyên vật liệu công
cụ lao động..).
- Hệ thống chứng từ về chi phí tiền lương, BHXH và các khoản chi trả cho
việc sử dụng lao động sống như: bảng phân bổ tiền lương và BHXH, được lập tại
bộ phận kế toán tiền lương..
- Các chứng từ về chi phí sử dụng TSCĐ (chứng từ về mức khấu hao,
chứng từ về chi thuê kho tàng, bến bãi và TSCĐ khác cho kinh doanh...)
- Các chứng từ về chi dùng yếu tố vốn bằng tiền trực tiếp chi cho kinh
doanh (phiếu chi, báo nợ, hoá đơn, bảng thanh toán.. ).
Các chứng từ trên được chuyển về bộ phận kế tốn chi phí kinh doanh để
kiểm tra, phân loại và ghi sổ tài khoản. Tại đây chi phí được ghi nhận có hệ
thống vào những loại tài khoản khác nhau theo nội dung kinh tế và công dụng
của chi phí.
4.3. Tổ chức hệ thống tài khoản kế tốn sử dụng cho hạch tốn chi phí sản xuất:
Để theo dõi tình hình phát sinh và tập hợp chi phí sản xuất cho các đối
tượng chịu phí, kế tốn sử dụng các tài khoản sau:
Tài khoản 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Bên nợ: Tập hợp các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp xuất dùng cho sản
xuất.
Bên có : +Giá thành thực tế nguyên vật liệu sử dụng khơng hết nhập lại
kho.
+Kết chuyển chi phí ngun vật liệu trực tiếp cho đối tượng tính
giá thành.
17
Tài khoản 621 cuối kỳ khơng có số dư và có thể được mở chi tiết theo đối
tượng tập hợp chi phí để phục vụ cho việc tính giá thành cho từng đối tượng.
Tài khoản 622: Chi phí nhân cơng trực tiếp.
Bên nợ : Tập hợp chi phí nhân cơng trực tiếp phát sinh trong kỳ.
Bên có : Kết chuyển chi phí nhân cơng trực tiếp cho đối tượng tính
giá thành.
Tài khoản 622 cuối kỳ khơng có số dư, được mở chi tiết theo đối tượng
hạch tốn chi phí.
Tài khoản 627: Chi phí sản xuất chung.
Bên nợ : Tập hợp tồn bộ chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ
Bên có : + Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung.
+ Kết chuyển chi phí sản xuất chung cho đối tượng tính giá thành.
Tài khoản 627 cuối kỳ khơng có số dư, được mở chi tiết theo từng phân
xưởng, bộ phận sản xuất (nơi phát sinh chi phí).
Tài khoản 627 bao gồm các tài khoản cấp 2 sau:
-6271: Chi phí nhân viên phân xưởng.
-6272: Chi phí vật liệu dùng cho phân xưởng.
-6273: Chi phí dụng cụ sản xuất.
-6274: Chi phí khấu hao TSCĐ dùng cho sản xuất.
-6277: Chi phí dịch vụ mua ngồi như điện, nước, điện thoại.
-6278: Chi phí khác bằng tiền.
Tài khoản 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.
Với doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai
thường xun, TK này để tập hợp tồn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm.
Bên nợ : Tổng hợp chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
Bên có : + Các khoản làm giảm chi phí (giá trị phế liệu thu hồi, giá trị sản
phẩm hỏng không thể sửa chữa được).
18
+ Phản ánh tổng giá thành các sản phẩm dịch vụ hồn thành
trong kỳ.
Dư nợ : Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ.
Tài khoản 154 được chi tiết theo đối tượng tính giá thành.
-Tài khoản 631: Giá thành sản xuất.
Tài khoản này được dùng để xác định giá thành sản phẩm, lao vụ hoàn
thành trong kỳ theo phương pháp kiểm kê định kỳ và được mở chi tiết theo từng
đối tượng tính giá.
Bên nợ : + Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ.
+ Tổng hợp chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
Bên có : + Phản ánh các khoản làm giảm chi phí.
+ Tổng giá thành các sản phẩm, lao vụ hoàn thành trong kỳ.
Tài khoản này cuối kỳ khơng có số dư.
Tài khoản 142: Chi phí trả trước.
Chi phí trả trước là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng chưa
được ghi nhận là chi phí của kỳ hạch tốn. đây là những khoản chi phí phát sinh
một lần quá lớn hoặc có liên quan đến nhiều kỳ sản xuất do đó sẽ được phân bổ
dần vào chi phí sản xuất kinh doanh của nhiều kỳ. Chi phí trả trước thường gồm
các khoản như: chi phí sửa chữa lớn TSCĐ ngồi kế hoạch, giá trị công cụ dụng
cụ xuất dùng thuộc loại phân bổ nhiều lần, các chi phí về bảo hiểm trả trước, chi
phí về dịch vụ mua ngồi trả trước, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
nghiệp chờ kết chuyển... Kết cấu của TK này như sau:
Bên nợ : Các khoản chi phí trả trước thực tế phát sinh.
Bên có : Các khoản chi phí trả trước đã phân bổ vào chi phí sản xuất kinh
doanh trong kỳ.
Dư nợ: Các khoản chi phí trả trước thực tế đã phát sinh còn chờ phân bổ
các kỳ sau.
Tài khoản 335: Chi phí phải trả.
19
Chi phí phải trả là các khoản chi phí phát sinh nhưng chưa được ghi nhận
là chi phí của kỳ hạch tốn. Đây là những khoản chi phí mà do tính chất hoặc yêu
cầu quản lý chi phí mà đã được tính trước vào chi phí của các kỳ hạch tốn. Chi
phí phải trả bao gồm: tiền lương nghỉ phép của cơng nhân sản xuất, chi phí sửa
chữa lớn TSCĐ trong kế hoạch, trích trước chi phí ngừng sản xuất theo kế hoạch,
chi phí về bảo hành sản xuất dự kiến trích trước, chi phí về lãi vay chưa trả hoặc
các chi phí về dịch vụ mua ngồi dự kiến sẽ cung cấp.. Kết cấu của TK này như
sau:
Bên nợ : - Chi phí phải trả thực tế phát sinh
- Phần chênh lệch do chi phí trích trước đã ghi nhận lớn hơn chi
phí thực tế phát sinh được hạch tốn giảm chi phí kinh doanh
hoặc tính vào thu nhập bất thường.
Bên có : Chi phí phải trả ghi nhận trước vào chi phí sản xuất kinh doanh
trong kỳ.
Dư có : Các khoản chi phí phải trả đã tính vào kỳ kinh doanh nhưng thực
tế
chưa phát sinh.
Về nguyên tắc TK 335 khơng có số dư cuối kỳ (trừ trường hợp một số
khoản chi phí phải trả có liên quan đến nhiều niên độ kế tốn như chi phí sửa
chữa TSCĐ, lãi tiền vay dài hạn ... được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận).
Ngồi ra doanh nghiệp cịn sử dụng một số TK khác để hạch tốn chi phí
sản xuất như TK 111, 152, 214, 334, 611... Tuỳ đặc điểm sản xuất và trình độ tổ
chức hạch tốn mà có thể chi tiết một số tài khoản theo mức độ phù hợp.
4.4. Nội dung tổ chức hạch tốn chi phí sản xuất trong doanh nghiệp:
4.4.1.Hạch tốn chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên:
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi một cách
thường xuyên liên tục giá trị hiện có và tình hình biến động tăng, giảm vất tư,
hàng hoá trên sổ kế toán của từng loại.
20
áp dụng phương pháp này có ưu điểm là cung cấp thơng tin chính xác,
thường xun tại mọi thời điểm và tình hình nhập - xuất - tồn vật tư hàng hố, về
tình hình biến động tăng, giảm chi phí sản xuất ... mà không phải đợi đến cuối kỳ
để kịp thời có các biện pháp xử lý cần thiết.
Nội dung hạch tốn chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường
xun như sau:
Hạch tốn chi phí ngun vật liệu trực tiếp:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là những chi phí về nguyên vật liệu chính,
vật liệu phụ, nhiên liệu ...sử dụng trực tiếp vào sản xuất, chế tạo sản phẩm.
Đối với những vật liệu khi xuất dùng có liên quan trực tiếp đến từng đối
tượng tập hợp chi phí riêng biệt (phân xưởng, bộ phận sản xuất sản phẩm, loại
sản phẩm, lao vụ...) thì hạch tốn trực tiếp cho từng đối tượng đó. Trường hợp
vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng chi phí khơng thể tổ chức
hạch tốn riêng được thì lựa chọn tiêu thức phân bổ hợp lý để tiến hành phân bổ.
Tiêu thức phân bổ có thể định mức theo chi phí ngun vật liệu có, số giờ chạy
máy hay chi phí kế hoạch....
Cơng thức phân bổ như sau:
Chi phí vật liệu
phân bổ cho từng =
Tổng chi phí vật liệu cần phân
Tiêu thức
bổ
đối tượng
phân bổ cho
Tổng tiêu thức phân bổ
x
từng đối tượng
Để tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế tốn sử dụng TK621- Chi
phí ngun vật liệu trực tiếp.
21
Sơ đồ 1 . Hạch tốn tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
TK 621
TK 154
TK
151,152
Vật liệu xuất dùng
Kết chuyển chi phí
trực tiếp
nguyên vật liệu
chế tạo sản phẩm,
trực tiếp cuối kỳ
TK 152
TK
111,331.
. Vật liệu mua ngồi
Vật liệu dùng
xuất
khơng hết nhập lại
dùng trực tiếp cho
kho
Hạch tốn chi phí nhân cơng trực tiếp:
Chi phí nhân cơng trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công nhân
trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ như lương
chính, lương phụ và các khoản phụ cấp có tính chất lương. Ngồi ra chi phí nhân
cơng trực tiếp cịn bao gồm các khoản đóng góp cho quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ
do chủ sử dụng lao động chịu và được tính vào chi phí theo một tỷ lệ nhất định
với số tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất.
Để tập hợp chi phí nhân cơng trực tiếp, kế tốn sử dụng TK 622- Chi phí
nhân cơng trực tiếp .
Sơ đồ 2: Hạch tốn tổng hợp chi phí nhân công trực tiếp :
TK334
TK 622
Tiền lương và phụ
cấp phải trả cho
cơng nhân trực
TK154
Kết chuyển chi phí
nhân cơng trực
tiếp cuối kỳ
TK338
Các khoản trích
theo tỷ lệ quy
định theo lương
22
Hạch tốn chi phí sản xuất chung :
Chi phí sản xuất chung là những chi phí cần thiết cịn lại để sản xuất sản
phẩm, phát sinh trong phạm vi các phân xưởng sản xuất của doanh nghiệp như
chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí cơng cụ dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ..
Chi phí sản xuất chung được tập hợp theo từng địa điểm phát sinh chi phí.
Một doanh nghiệp nếu có nhiều phân xưởng có thể mở sổ chi tiết để tập hợp chi
phí sản xuất chung cho từng phân xưởng.
Trường hợp một phân xưởng trong kỳ nếu có sản xuất nhiều loại sản phẩm
thì phải tiến hành phân bổ chi phí sản xuất chung cho các sản phẩm có liên quan
theo các tiêu thức như chi phí nhân cơng trực tiếp, chi phí ngun vật liệu trực
tiếp ... Cơng thức phân bổ như sau:
Mức chi phí sản
xuất chung phân bổ =
cho từng đối tượng
Tiêu thức
Tổng chi phí sản xuất chung phân bổ
Tổng tiêu thức phân bổ
x
phân bổ cho
từng đối
tượng
Để tập hợp chi phí sản xuất chung, kế tốn sử dụng TK 627 - Chi phí sản
xuất chung.
23
Sơ đồ 3. Hạch tốn tổng hợp chi phí sản xuất chung.
TK
TK 627
TK
111,152
334,338
Chi phí nhân viên
Các khoản ghi giảm
quản lý phân xưởng
chi phí sản xuất
chung
TK
152,153
Chi phí vật liệu,
TK 154
dụng cụ dùng trong
phân xưởng
TK
142,335
Chi phí trả trước
Kết chuyển( phân
bổ ) chi phí sản
xuất chung vào giá
thành sản phẩm,
TK 214
Khấu hao TSCĐ
TK
111,331.
.
Chi phí mua ngồi
và chi phí bằng
tiền khác
Hạch tốn chi phí trả trước:
Chi phí trả trước là những chi phí thực tế đã phát sinh với quy mô lớn và
liên quan đến nhiều kỳ kinh doanh
Việc hạch tốn chi phí trả trước nhằm tránh sự đột biến của chi phí sản xuất kinh
doanh cũng như đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và lợi nhuận. Chi
phí trả trước thường gồm các khoản : chi phí sửa chữa TSCĐ ngồi kế hoạch,
tiền th TSCĐ, giá trị cơng cụ dụng cụ xuất dùng thuộc loại phân bổ nhiều
lần....
Để hạch toán chi phí trả trước, kế tốn sử dụng TK 142 - Chi phí trả trước.
24
Sơ đồ 4. Hạch tốn tổng hợp chi phí trả trước.
TK 142
TK111,331,3
TK627,641,6
34
42
Chi phí trả trước
Phân bổ dần chi
thực tế phát sinh
phí trả trước vào
các kỳ hạch tốn
TK 911
TK
641,642
Kết chuyển chi phí
Kết chuyển dần chi
BH, chi phí QLDN
phí BH, chi phí
(DN có chu kỳ SXKD
QLDN vào TK xác
dài)
định kết quả
Hạch tốn chi phí phải trả:
Chi phí phải trả là những khoản chi phí thực tế chưa phát sinh nhưng được
tính trước vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Mục đích của hạch tốn chi
phí phải trả là tránh đột biến về chi phí tại kỳ mà nó phát sinh đảm bảo có nguồn
bù đắp chi phí khi nó phát sinh. Chi phí phải trả thường gồm: tiền lương nghỉ
phép của cơng nhân sản xuất, chi phí sửa chữa lớn TSCĐ theo kế hoạch, lãi vay
sẽ trả.... Để theo dõi chi phí phải trả, kế tốn sử dụng TK 335 - Chi phí phải trả.
Sơ đồ 5 .Hạch tốn tổng hợp chi phí phải trả.
TK
TK 622
TK
334
335
Tiền lương phép,
lương ngừng việc
thực tế phải trả
TK2413,
331,111
Chi phí phải trả
khác thực tế phát
sinh
TK 721
Khoản trích trước
Trích trước lương
phép, lương ngừng
việc của cơng nhân
TK627,641,6
42
Trích trước, ghi
tăng chi phí phải
trả vào chi phí KD
25