Tải bản đầy đủ (.docx) (25 trang)

VẤN ĐỀ THAY ĐỔI, BỔ SUNG YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ NÀY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (181.16 KB, 25 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA HÀNH CHÍNH & PHÁP LUẬT

TÊN ĐỀ TÀI:
VẤN ĐỀ THAY ĐỔI, BỔ SUNG YÊU CẦU YÊU CẦU CỦA
ĐƯƠNG SỰ Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM VÀ
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN
ĐỀ NÀY
BÀI TẬP LỚN
Học phần: Luật Tố Tụng Dân Sự
Mã phách:…………………………………

Hà Nội-2023


MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU..........................................................................1
NỘI DUNG.............................................................................. 2
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN THAY
ĐỔI, BỔ SUNG YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ..........................2
1.1. Khái niệm quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự
................................................................................................ 2
1.2. Cơ sở của quy định về quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu
của đương sự...........................................................................2
1.2.1. Cơ sở pháp lý.................................................................2
1.2.2. Cơ sở thực tiễn..............................................................3
1.3. Ý nghĩa của quy định về quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu
của đương sự...........................................................................3
CHƯƠNG 2: QUYỀN THAY ĐỔI, BỔ SUNG YÊU CẦU CỦA
ĐƯƠNG SỰ Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM.........4


2.1. Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự ở Tòa án
cấp sơ thẩm.............................................................................5
2.1.1. Thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử sơ thẩm..........................................................5
2.1.2. Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại
phiên tòa sơ thẩm...................................................................6
2.2. Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự ở tòa án
cấp phúc thẩm.........................................................................8


2.2.1. Chủ thể có quyền yêu cầu thay đổi, bổ sung kháng cáo
................................................................................................ 8
2.2.2. Thời hạn của quyền yêu cầu thay đổi, bổ sung kháng
cáo của đương sự..................................................................11
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ THAY ĐỔI, BỔ SUNG
YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM,
PHÚC THẨM.........................................................................13
3.1. Thực tiễn thực hiện quy định..........................................13
3.2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.............................15
KẾT LUẬN.............................................................................17


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS

Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự

TTDS


Tố Tụng Dân Sự

VKS

Viện Kiểm Sát


LỜI NĨI ĐẦU
Trong xã hội mọi thứ ln vận động từng giờ, từng ngày,
các quan hệ xã hội cũng vậy. Khi các tranh chấp phát sinh
dẫn đến nhu cầu giải quyết các tranh chấp và đương sự yêu
cầu tòa án xem xét, giải quyết. Nhưng trong quá trình giải
quyết tranh chấp đó, đương sự có thể thay đổi ý muốn của
mình vì nhiều ngun nhân như sự việc có biến chuyển, các
bên thỏa thuận được với nhau một số hoặc toàn bộ vấn đề
tranh chấp hoặc các tác động khác dẫn đến thay đổi mong
muốn của người yêu cầu và họ đưa ra yêu cầu thay đổi, bổ
sung các yêu cầu đó. Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của
đương sự là phù hợp với nguyên tắc quyền quyết định và tự
định đoạt của đương sự được quy định tại Bộ luật tố tụng dân
sự. Chính vì vậy tơi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Vấn đề
thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự ở tòa án sơ thẩm,
phúc thẩm và kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn
đề này” cho bài tập học kỳ của mình.

1


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN

THAY ĐỔI, BỔ SUNG YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ
1.1. Khái niệm quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu
của đương sự
Trong quá trình Tịa án giải quyết vụ việc dân sự, đương
sự có quyền được thay đổi, bổ sung yêu cầu của mình cho
phù hợp với nguyện vọng. Trong từ điển tiếng Việt, “thay đổi”
được hiểu là việc “thay cái này bằng cái khác hay đổi khác đi,
trở nên khác trước” ; “bổ sung” là “thêm vào cho đầy đủ”.
Vậy có thể hiểu thay đổi yêu cầu là việc sửa đổi yêu cầu mà
đương sự đã đưa ra ban đầu còn bổ sung là việc đương sự
thêm các yếu tố cần thiết để yêu cầu ban đầu trở nên đầy đủ.
Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu phải thể hiện dưới dạng hình
thức và theo trình tự do pháp luật quy định.
Tóm lại, có thể hiểu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu là sự
thể hiện của quyền tự định đoạt của đương sự được pháp luật
ghi nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, cơ quan, tổ
chức, cho phép họ được sửa đổi, thêm bớt các đề nghị, đòi hỏi
đó trong q trình tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật
tố tụng dân sự.
1.2. Cơ sở của quy định về quyền thay đổi, bổ sung
yêu cầu của đương sự
1.2.1. Cơ sở pháp lý
Cơ sở pháp lý của quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của
các đương sự là quyền tự định đoạt của đương sự được quy
2


định tại khoản 2 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015[1]
theo đó: “Trong q trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự
có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa

thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm
của luật và không trái đạo đức xã hội.”.
Xuất phát từ nguyên tắc này, Khoản 4, Điều 70 của
BLTTDS quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự, trong
đó đương sự có quyền “Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc
rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật này.”[1]
Xuất phát từ các nguyên tắc trong giao lưu dân sự đó là
ngun tắc bình đẳng địa vị pháp lý giữa các bên, do đó các
quan hệ dân sự được xác lập, thay đổi, chấm dứt dựa trên cơ
sở tự nguyện, tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm và bình đẳng
giữa các chủ thể. Vụ việc dân sự khởi đầu khi đương sự có đơn
yêu cầu Tịa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình,
do đó trong q trình Tịa án giải quyết vụ việc dân sự, đương
sự hồn tồn có quyền sửa đổi yêu hoặc bổ sung yêu cầu cho
phù hợp với thực tế.
1.2.2. Cơ sở thực tiễn
Cơ sở thực tiễn của quy định về việc thay đổi, bổ sung
yêu cầu của các đương sự ở tòa án sơ thẩm, phúc thẩm là
trong q trình Tịa án xem xét, giải quyết tranh chấp phát
sinh trong đời sống xã hội thì các đương sự u cầu thì có thể
có nhiều ngun nhân khác nhau như sự việc có biến chuyển,
các bên thỏa thuận được với nhau một số hoặc toàn bộ vấn
đề tranh chấp hoặc có các tác động khác dẫn đến việc thay
đổi mong muốn của người đã yêu cầu và họ đưa ra yêu cầu

3


thay đổi, bổ sung các u cầu đó. Vì vậy, pháp luật tố tụng
dân sự ghi nhận quyền được thay đổi, bổ sung yêu cầu các

của đương sự ở tòa án sơ thẩm, tòa án phúc thẩm.
1.3. Ý nghĩa của quy định về quyền thay đổi, bổ
sung yêu cầu của đương sự
Thứ nhất, việc quy định về quyền thay đổi, bổ sung yêu
cầu của các đương sự là sự thể hiện nguyên tắc quyền quyết
định và tự định đoạt của đương sự, một nguyên tắc cơ bản
trong tố tụng dân sự.
Thứ hai, quy định quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của
các đương sự giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự một cách hiệu quả nhất. Bởi các quan hệ xã hội luôn
luôn biến chuyển, do đó trong q trình Tịa án giải quyết vụ
việc, các đương sự có thể thay đổi mong muốn ban đầu của
mình. Do đó, quyền thay đổi, bổ sung u cầu của các đương
sự sẽ giúp quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được đảm
bảo.
Thứ ba, quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của các đương
sự còn giúp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự một cách chính
xác, nhanh chóng và dễ dàng hơn. Trong q trình giải quyết
vụ việc dân sự, các đương sự có thể thỏa thuận với nhau,
hoặc vì lý do nào đó mà u cầu của đương sự được thay đổi,
bổ sung. Do đó, việc ghi nhận quyền thay đổi, bổ sung yêu
cầu của các đương sự sẽ giúp việc giải quyết vụ việc dân sự
của Tòa án được triệt để hơn.

4


CHƯƠNG 2: QUYỀN THAY ĐỔI, BỔ SUNG YÊU CẦU CỦA
ĐƯƠNG SỰ Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM
Theo hướng dẫn tại Công văn 01/GĐ-TANDTC năm

2018[3] về giải đáp vấn đề nghiệp vụ do Tòa án nhân dân tối
cao ban hành thì:
Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 235, khoản 1 Điều 236,
khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015[1], việc
thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa chỉ được
Hội đồng xét xử chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu
của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu
phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu được thể hiện trong
đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn
yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, khi được Chủ tọa hỏi
có thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, u cầu phản tố, u
cầu độc lập hay khơng thì đương sự có quyền trình bày về
việc thay đổi, bổ sung yêu cầu mà không phải làm lại đơn
khởi kiện, đơn yêu cầu phản tố, đơn yêu cầu độc lập và khơng
phải nộp tiền tạm ứng án phí đối với phần yêu cầu thay đổi,
bổ sung đó. Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự phải
được ghi vào biên bản phiên tòa. Trường hợp Hội đồng xét xử
chấp nhận yêu cầu thay đổi, bổ sung của đương sự thì phải
ghi rõ trong bản án.
2.1. Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương
sự ở Tòa án cấp sơ thẩm
2.1.1. Thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

5


Thực tế cho thấy nhiều trường hợp trong  giai đoạn
chuẩn bị xét xử sơ thẩm, nguyên đơn liên tục thay đổi hoặc

bổ sung yêu cầu hoặc sau khi Tòa án ra Quyết định đưa vụ án
ra xét xử sơ thẩm thì đương sự mới có thay đổi, bổ sung u
cầu.
Theo quy định tại Điều 5, khoản 4 Điều 70, khoản 2 Điều
71, khoản 3 Điều 200, khoản 2 Điều 210, Điều 243 BLTTDS
2015 chỉ quy định về việc nguyên đơn có quyền thay đổi, bổ
sung yêu cầu khởi kiện và quy định giới hạn việc xem xét,
chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của nguyên đơn
trong trường hợp tại phiên tòa sơ thẩm nếu việc thay đổi, bổ
sung đó của họ khơng vượt q phạm vi khởi kiện ban đầu.
Các quy định này là chưa triệt để, chưa giải quyết được những
vướng mắc về quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sư thẩm như: thế
nào là  thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn?
mốc thời điểm cụ thể để xem xét việc chấp nhận hay không
chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu  khởi kiện? Trường
hợp nào thì chấp nhận hay khơng chấp nhận việc thay đổi, bổ
sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn? Thủ tục tố tụng khi
nguyên đơn có thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện?
Để giải quyết vướng mắc này Tịa án nhân dân tối cao có
cơng văn số 01/2017/GĐ - TANDTC  ngày 07/4/2017[4] giải
đáp một số vấn đề nghiệp vụ của Tịa án các địa phương,
trong đó tại mục 7, Phần IV đã hướng dẫn thực hiện nội dung
như sau: “Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ
sung yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi, bổ sung được thực

6


hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp,

tiếp cận, cơng khai chứng cứ và hịa giải.
Tại phiên họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, cơng khai chứng cứ và hịa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận
việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi
yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu”.
Như vậy, trường hợp nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu
cầu khởi kiện trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, cơng khai chứng cứ và hịa giải thì sẽ
được chấp nhận.
Trường hợp nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện
từ thời điểm Tòa án mở phiên họp trở đi thì việc thay đổi yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn chỉ được chấp nhận nếu việc
thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện
ban đầu. Hướng dẫn này của ngành Tòa án phù hợp với quy
định về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn và quyền yêu cầu
độc lập của người có quyền, nghĩa vụ liên quan được quy định
tại khoản 3 Điều 200 BLTTDS 2015“Bị đơn có quyền đưa ra
yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, cơng khai chứng cứ và hịa giải”[1] và
khoản 2 Điều 201 BLTTDS 2015 “Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, cơng khai chứng
cứ và hịa giải”[1]
Tuy nhiên, về khái niệm thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi
kiện; mốc thời điểm cụ thể để xem xét việc chấp nhận hay
không chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu  khởi kiện?

7



thủ tục thực hiện thay đổi, bổ sung yêu cầu của nguyên đơn
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử được thực hiện như nhế nào
thì cho đến nay BLTTDS và các văn bản hướng dẫn hiện nay
cũng chưa quy định và chưa hướng dẫn cụ thể.
2.1.2. Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương
sự tại phiên tòa sơ thẩm
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, việc thay đổi, bổ sung yêu
cầu của các đương sự được ghi nhận tại điều 243 BLTTDS
2015 quy định trước khi hỏi về nội dung vụ án, chủ tọa phiên
tòa hỏi đương sự về các vấn đề thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu,
cụ thể:
“1. Hỏi nguyên đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần
hoặc tồn bộ u cầu khởi kiện hay khơng.
2. Hỏi bị đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc
tồn bộ u cầu phản tố hay khơng.
3. Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu
độc lập có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc tồn bộ
u cầu độc lập hay khơng.”[1]
Để đảm bảo một mặt tôn trọng quyền tự định đoạt của
đương sự nhưng mặt khác khơng gây khó khăn cho việc giải
quyết vụ việc dân sự của Tòa án, Khoản 1, Điều 244 BLTTDS
2015 quy định việc thay đổi yêu cầu của đương sự tại phiên
tịa sơ thẩm khơng vượt q phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu
cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu. “Hội đồng xét xử
chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu
việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm

8



vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập
ban đầu”[1]
Hiện nay chưa có văn bản quy định thế nào là vượt quá
phạm vi yêu cầu ban đầu. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho
thấy, những yêu cầu bị xem là vượt quá, và không được tịa
án chấp nhận, thường được thể hiện dưới  các hình thức sau
đây:
Thứ nhất, vượt quá về giá trị yêu cầu.
Đây là trường hợp, khi khởi kiện, phản tố hay có yêu cầu
độc lập, đương sự trong vụ án đưa ra yêu cầu, buộc bên có
nghĩa vụ phải thực hiện một nghĩa vụ tài sản được ấn định
bằng một con số hay giá trị cụ thể. Nhưng tại phiên tòa, họ đã
thay đổi, bổ sung yêu cầu này, buộc người có nghĩa vụ phải
thực hiện một nghĩa vụ về tài sản nhiều hơn so với yêu cầu
khởi kiện ban đầu.
Thứ hai, vượt quá về chủ thể nghĩa vụ.
Khác với yêu cầu vượt quá về giá trị, vượt quá về chủ thể
nghĩa vụ  là trường hợp, khi khởi kiện, phản tố hay có yêu cầu
độc lập, đương sự trong vụ án chỉ yêu cầu một hoặc một số cá
nhân, cơ quan, tổ chức nào đó, phải thực hiện một nghĩa vụ
dân sự nhất định. Nhưng tại phiên tịa, ngồi những cá nhân,
cơ quan, tổ chức mà họ đã yêu cầu trước đó, họ còn yêu cầu,
buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác cũng phải có trách
nhiệm liên đới trong việc thực hiện nghĩa vụ dân sự theo nội
dung khởi kiện của họ.
Thứ ba, vượt quá về quan hệ tranh chấp.

9



      Đây là trường hợp, khi khởi kiện, phản tố hoặc có yêu
cầu độc lập, đương sự trong vụ án đưa ra yêu cầu, buộc bên
có nghĩa vụ phải thực hiện một nghĩa vụ dân sự nào đó đối với
họ. Nhưng tại phiên tịa, ngồi việc u cầu thực hiện nghĩa
vụ như đã thể hiện trong đơn khởi kiện, họ cịn u cầu người
có nghĩa vụ phải thực hiện một hay một số nghĩa vụ, mà các
nghĩa vụ này hoàn toàn khác với nghĩa vụ đã yêu cầu trước
đó.
      Như vậy, dù cho ở trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ
thẩm hay tại phiên tòa sơ thẩm, quyền thay đổi, bổ sung yêu
cầu các của đương sự đều được Tịa án ghi nhận và tơn trọng,
tuy nhiên vẫn có những giới hạn cụ thể được đặt ra cho các
đương sự khi thực hiện quyền này.
2.2. Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương
sự ở tịa án cấp phúc thẩm
2.2.1. Chủ thể có quyền u cầu thay đổi, bổ sung
kháng cáo
Theo quy định tại Điều 284 BLTTDS năm 2015
Khoản 1 Điều 284 BLTTDS năm 2015 quy định: “Trường
hợp chưa hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại Điều 280
của Bộ luật này thì Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền
thay đổi, bổ sung kháng nghị mà không bị giới hạn bởi phạm
vi kháng nghị ban đầu”.[1]
Quy định này nhằm tôn trọng quan điểm của VKS và của
người ký kháng nghị trong trường hợp họ muốn thay đổi, bổ
sung kháng nghị, đồng thời, tạo điều kiện để các đương sự
chuẩn bị tổ chức việc bào chữa bảo vệ quyền lợi hợp pháp sau

10



khi đã biết rõ thực trạng những nội dung kháng nghị một cách
có hiệu quả nhất. Đây là quy định bổ sung và làm rõ hơn so
với khoản 1 Điều 256 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung
năm 2011)[2], thể hiện ở chỗ trong trường hợp chưa hết thời
hạn kháng nghị theo quy định tại Điều 280 BLTTDS năm
2015[1] thì việc thay đổi, bổ sung kháng nghị không bị giới
hạn bởi phạm vi kháng nghị ban đầu, nghĩa là VKS sẽ được
quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị mà không phải chịu bất
kỳ một giới hạn, hạn chế nào. Có thể thay đổi, bổ sung một
phần hoặc toàn bộ kháng nghị so với kháng nghị ban đầu, và
có thể thay đổi cả số lượng và tăng giá trị yêu cầu…
Khoản 2 Điều 284 BLTTDS năm 2015[1] có sửa đổi về
bản chất so với khoản 1 Điều 256 BLTTDS năm 2004: “Trước
khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, VKS đã
kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưng
không được vượt quá phạm vi kháng nghị ban đầu, nếu thời
hạn kháng nghị đã hết”. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004
quy định VKS ra quyết định kháng nghị có quyền thay đổi, bổ
sung kháng nghị, nghĩa là có thể VKS đã kháng nghị hoặc VKS
cấp trên trực tiếp sẽ được quyền thay đổi, bổ sung. Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 đã bó hẹp hơn nữa, chỉ cịn trao cho
VKS đã kháng nghị mới có quyền này, như vậy, nếu VKS cùng
cấp kháng nghị đối với Tịa án cấp sơ thẩm thì VKS đã kháng
nghị mới có quyền thay đổi, bổ sung, cịn VKS cấp trên, trực
tiếp tham gia phiên tòa phúc thẩm và bảo vệ kháng nghị lại
khơng có quyền này. Điều này, vơ hình trung dẫn tới việc
thiếu chủ động và tính tự quyết của VKS cấp trên trực tiếp,

11



bởi lẽ, tại phiên tịa phúc thẩm có thể sẽ có những diễn biến
khác so với chiều hướng kháng nghị ban đầu mà VKS cùng
cấp sơ thẩm đã không thể dự liệu hết được trong kháng nghị
của mình.
Bên cạnh đó, BLTTDS năm 2015 cịn bổ sung quy định về
hình thức và thủ tục thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị. Theo
đó, việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị trước khi mở phiên
tòa phải được lập thành văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc
thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho các đương
sự về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị. Đồng thời, Tòa
án cấp phúc thẩm cịn phải tiến hành các cơng việc theo quy
định của BLTTDS để mở phiên tòa xét xử phúc thẩm đối với
kháng nghị, phần kháng nghị còn lại theo thủ tục chung. Việc
thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị tại phiên tòa phải được ghi
vào biên bản phiên tòa và Tòa án cấp phúc thẩm tiếp tục xét
xử phúc thẩm vụ án theo thủ tục chung đối với kháng nghị đã
được thay đổi, bổ sung và phần kháng nghị còn lại.
Việc thay đổi, bổ sung kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm vụ án dân sự có điểm khác so với thay đổi, bổ sung
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự.
Theo quy định tại Điều 284 BLTTDS năm 2015
“1. Trường hợp chưa hết thời hạn kháng cáo theo quy
định tại Điều 273 của Bộ luật này thì người đã kháng cáo có
quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo mà không bị giới hạn bởi
phạm vi kháng cáo ban đầu.
Trường hợp chưa hết thời hạn kháng nghị theo quy định
tại Điều 280 của Bộ luật này thì Viện kiểm sát đã kháng nghị


12


có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị mà khơng bị giới hạn
bởi phạm vi kháng nghị ban đầu.
2. Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc
thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng
cáo, Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung
kháng nghị, nhưng không được vượt quá phạm vi kháng cáo,
kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã
hết”[1]
Việc thay đổi, bổ sung kháng nghị phúc thẩm phải được
thơng báo trước cho các đương sự có liên quan đến kháng
nghị và không được vượt quá phạm vi kháng nghị ban đầu,
nếu thời hạn kháng nghị đã hết (bởi phúc thẩm chỉ là việc xét
tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ
thẩm chưa có hiệu lực pháp luật nên đương sự phải được
chuẩn bị để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước
Tịa án). Mọi thay đổi, bổ sung kháng nghị dẫn đến đương sự
bị động, khơng có điều kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình đều khơng được chấp nhận.
Cịn giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ xem xét lại việc áp
dụng pháp luật trong q trình giải quyết vụ án của Tịa án
thơng qua việc xét lại các bản  án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật. Trong giai đoạn này, các đương sự không bắt buộc
phải tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái
thẩm chủ yếu dựa vào chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án
để xét, nên những người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm,
tái thẩm có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị mà khơng có
bất kỳ một sự hạn chế nào.


13


Trường hợp chưa hết thời hạn kháng nghị theo quy định
tại Điều 280 của Bộ luật này thì Viện kiểm sát đã kháng nghị
có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị mà không bị giới hạn
bởi phạm vi kháng nghị ban đầu.
Từ đây có thể thấy, chỉ những người đã thực hiện việc
khàng cáo mới có quyền yêu cầu thay đổi, bổ sung kháng
cáo. Và theo quy định tại Điều 271 BLTTDS năm 2015 về
người có quyền kháng cáo: 
“Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ
quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án
sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự,
quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ
thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo
thủ tục phúc thẩm.”[1]
Theo đó, người có quyền yêu cầu thay đổi, bổ sung
kháng cáo là đương sự, người đại diện hợp pháp của đương
sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện đã thực hiện việc
kháng cáo.
2.2.2. Thời hạn của quyền yêu cầu thay đổi, bổ
sung kháng cáo của đương sự
Giới hạn của việc yêu cầu thay đổi, bổ sung kháng cáo
của đương sự được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 273
BLTTDS năm 2015, theo đó:
“1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ
thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại
diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện khơng có mặt

tại phiên tịa hoặc khơng có mặt khi tuyên án mà có lý do

14


chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận
được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức
hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tịa nhưng vắng
mặt khi Tịa án tun án mà khơng có lý do chính đáng thì
thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tun án.”
Trường hợp vẫn cịn thời hạn kháng cáo quy định tại
Điều 273 của BLTTDS, thì người kháng cáo có quyền thay đổi,
bổ sung nội dung kháng cáo đối với phần bản án hoặc toàn bộ
bản án mà mình có quyền kháng cáo.
“2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ,
đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày,
kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện
nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm
yết theo quy định của Bộ luật này.”
Trường hợp đã hết thời hạn kháng cáo theo quy định tại
Điều 273 của BLTTDS, thì trước khi bắt đầu phiên toà hoặc tại
phiên toà phúc thẩm người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ
sung kháng cáo nhưng khơng được vượt quá phạm vi kháng
cáo đã gửi cho Toà án trong thời hạn kháng cáo.
Như vậy, Bên cạnh trao quyền rất lớn cho người kháng
cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo trong thời hạn
kháng cáo thì theo quy định trên khi hết thời hạn kháng cáo
người kháng cáo vẫn có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu
kháng cáo trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc

thẩm, tuy nhiên quyền này bị hạn chế đó là không vượt quá

15


phạm vi kháng cáo đã gửi cho Toà án trong thời hạn kháng
cáo.
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ THAY ĐỔI, BỔ SUNG
YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM,
PHÚC THẨM
3.1. Thực tiễn thực hiện quy định.
Thông qua việc nghiên cứu quy định của pháp luật và
công tác thực tiễn xét xử, có một số khó khăn vướng mắc sau:
Thứ nhất, đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu tại hoặc
sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, cơng khai
chứng cứ và hịa giải lần thứ hai trở lên có được chấp nhận
khơng?
Theo như Tịa án nhân dân tối cao có giải đáp thì “Tại phiên
họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hịa giải thì Tịa án chỉ chấp nhận việc
đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi yêu
cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu”. Theo
đó, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, cơng khai
chứng cứ và hịa giải trong trường họp này là phiên họp lần
thứ nhất. Tuy nhiên vì khơng giải đáp rõ là phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần
thứ mấy nên thực tiễn hiện nay có Thẩm phán hiểu và vận
dụng giải đáp này theo nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn như
sau khi Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp,

tiếp cận, cơng khai chứng cứ và hịa giải lần thứ nhất thì
nguyên đơn mới bổ sung yêu cầu khởi kiện. Trong trường hợp
này có Thẩm phán tổ chức lại phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và chấp nhận
yêu cầu bổ sung của đương sự với lý do là nếu không chấp
nhận u cầu bổ sung thì Tịa án sẽ khơng giải quyết hết các
vấn đề mà đương sự tranh chấp, thậm chí có thể kéo dài việc
giải quyết vụ án tranh chấp nếu Tịa án khơng chấp nhận u
cầu bổ sung và vì Tịa án nhân dân tối cao khơng nêu rõ là
sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, cơng khai
chứng cứ và hịa giải lần thứ mấy thì Tịa án khơng chấp nhận
16



×