Tải bản đầy đủ (.pdf) (12 trang)

Thực trạng tiếp cận nghề nghiệp của sinh viên sư phạm trường Đại học Thủ đô Hà Nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (527.3 KB, 12 trang )

TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 60/2022

41

THỰC TRẠNG TIẾP CẬN NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐƠ HÀ NỘI
Tạ Chí Thành
Trường Đại học Thủ đơ Hà Nội
Tóm tắt: Hiện tượng sinh viên ngành sư phạm thất nghiệp, bỏ nghề, hoặc học tập sa sút do
không xác định được giá trị nghề nghiệp và không hiểu về phẩm chất năng lực bản thân.
Hiệu quả của công tác tổ chức tiếp cận nghề nghiệp có liên quan hiện tượng trên. Nghiên
cứu thực trạng tiếp cận nghề nghiệp của sinh viên sư phạm trường Đại học Thủ đô Hà Nội
sẽ nâng cao chất lượng đào tạo của trường nói riêng và đào tạo ngành sư phạm nói chung.
Nghiên cứu đã phân tích mức độ ảnh hưởng các nguồn thơng tin tiếp cận nghề nghiệp của
sinh viên ngành sư phạm, mức độ năng động tiếp cận nghề nghiệp của sinh viên, phân tích
thực trạng các hoạt động tiếp cận nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm ở trường đại học Thủ
đô Hà Nội. Những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tiếp cận nghề nghiệp
cho sinh viên ngành sư phạm trường Đại học Thủ đơ Hà Nội.
Từ khóa: Sinh viên, ngành sư phạm, con đường tiếp cận, nghề nghiệp, đại học.
Nhận bài ngày 15.4.2022; gửi phản biện, chỉnh sửa, duyệt đăng ngày 22.5.2022
Liên hệ tác giả: Tạ Chí Thành; Email:

1. MỞ ĐẦU
Đối với sinh viên mới tốt nghiệp ra trường tìm được một việc làm ưng ý không phải là
một công việc dễ dàng. Hiện tượng thất nghiệp khá phổ biến khiến cho nhiều sinh viên phải
chấp nhận hoặc chủ động làm những công việc không liên quan đến chun ngành được đào
tạo. Bên cạnh đó, khơng ít sinh viên rơi vào vịng xốy “nhảy việc” và khơng biết đến khi
nào mới tìm được bến đỗ ổn định. Việc chọn nghề không chỉ liên quan đến sở thích mà cịn
phụ thuộc vào năng lực, phẩm chất, cá tính,… Có những sinh viên chỉ mong muốn có được
một cơng việc để có tiền lương ni sống bản thân chấm dứt tình trạng sống nhờ vào bố mẹ,
có sinh viên lại lấy thu nhập làm thước đo tìm việc làm,…Có nhiều nguyên nhân dẫn đến


hiện tượng trên như khủng hoảng kinh tế hay sinh viên chưa tìm được cơng việc thích hợp.
Một ngun nhân khác đóng vai trị khơng kém phần quan trọng là công tác tổ chức tiếp cận
nghề nghiệp cho sinh viên chưa hiệu quả. Việc tổ chức tiếp cận nghề nghiệp và đính hướng
nghề nghiệp cho sinh viên là một quá trình liên tục và kéo dài cho đến những năm cuối cùng
của bậc đại học. Đây là hoạt động giúp sinh viên xác định giá trị nghề nghiệp, đối chiếu yêu
cầu nghề nghiệp với vốn kiến thức, kĩ năng của bản thân. Nhưng hiện nay khơng ít sinh viên


42

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

coi nhẹ việc định hướng nghề nghiệp nên sau khi tốt nghiệp, họ mất phương hướng về nghề
nghiệp, không tự tin về bản thân và khơng có kỹ năng xin việc. Khơng chỉ bản thân sinh viên
mà gia đình, nhà trường cũng chưa nhận thức hết được tầm quan trọng của việc định hướng
việc làm và các con đường tiếp cận việc làm cho sinh viên ngay khi họ còn ngồi trong ghế
nhà trường. Ngành sư phạm với đặc thù đào tạo các giáo viên tương lai, với sự mệnh những
người thực hiện quá trình giáo dục đào tạo nguồn nhân lực tương lai cho đất nước, công tác
tiếp cận và định hướng nghề nghiệp lại càng phải chú trọng.

2. NỘI DUNG
2.1. Khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu
2.1.1. Khái niệm tiếp cận nghề
Khái niệm “nghề” được hiểu theo hai nghĩa: (1) Nghề là công việc chuyên môn làm theo
sự phân công của xã hội như nghề giáo, nghề nông. (2) Thành thạo trong một cơng việc nào
đó. Ví dụ: chuyền bóng rất nghề [8, tr.1192]. Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng khái
niệm về nghề theo nghĩa thứ nhất. Tức là, nghề mà chúng tôi đề cập đến ở đây là một lĩnh
vực hoạt động lao động mà trong đó nhờ được đào tạo con người có những tri thức, những
kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần để đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Như vậy, nghề bao hàm cơ bản các yếu tố sau: Yếu tố luật, tức là hoạt động mang lại thu

nhập được pháp luật của Nhà nước bảo vệ, yếu tố kiến thức nền tảng thường gắn với đào tạo,
yếu tố kĩ năng, yếu tố năng lực và yếu tố nhiệm vụ.
Khái niệm “tiếp cận” được hiểu là đến gần; từng bước bằng những phương pháp nhất
định tìm hiểu một đối tượng nào đó [7, tr 987]. Như vậy, “tiếp cận nghề” là hoạt động giúp
sinh viên tiếp cận/làm quen với nghề nghiệp tại các cơ quan, doanh nghiệp sử dụng lạo động
để giúp cho sinh viên có được định hướng nghề nghiệp và chủ động đạt được các yêu cầu
mà nhà tuyển dụng cần sau khi tốt nghiệp.
2.1.2. Khái niệm sinh viên
Sinh viên hiểu theo nghĩa chung nhất là những người đang học ở bậc đại học [8, tr.
1448]. Họ là những người đã tốt nghiệp phổ thông trung học, bổ túc trung học, trung học
chuyên nghiệp đang trong quá trình học tập, chuẩn bị nghề nghiệp tại các trường đại học,
cao đẳng. Họ là một nhóm xã hội đặc biệt, thường có độ tuổi từ 18 đến 24 tuổi và xuất thân
từ nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội. Nhìn từ góc độ xã hội học, sinh viên có những đặc
điểm cơ bản sau: Mang tính phân tầng xã hội, có khả năng di động xã hội nhanh, do được
tiếp cận với những giá trị mới, năng động nên họ thuận lợi trong cơ hội chiếm lĩnh những vị
trí cao trong xã hội sau khi học. Mang tính đặc thù về độ tuổi và phẩm chất xã hội, thường
có q trình xã hội hóa riêng biệt so với các nhóm xã hội khác. Có địa vị, vị trí, vai trị xã
hội xác định. Có lối sống và định hướng giá trị đặc thù, dễ dàng tiếp thu những giá trị xã hội
mới. Có tính tích cực xã hội, tính độc lập, tự lập và có nhu cầu khẳng định bản thân khá cao.
2.1.3. Đặc điểm của nghề sư phạm
a. Mục đích lao động sư phạm


TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 60/2022

43

Là nhằm giáo dục thế hệ trẻ thành những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực mà xã
hội yêu cầu. Nói cách khác, lao động sư phạm góp phần “sáng tạo ra con người”, góp phần
tái sản xuất sức lao động xã hội đào tạo và bồi dưỡng liên tục những thế hệ trẻ cho đời sau.

Lao động sư phạm là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học. Trong đó,
người dạy là người có trình độ chun môn nghiệp vụ, được xã hội giao cho nhiệm vụ giáo
dục, đào tạo thế hệ trẻ. Cịn người học có nhiệm vụ học tập, tiếp thu những giá trị Vh của xh
loài người và rèn luyện hệ thống kĩ năng kĩ xảo để sau này có thể ra đời sống và lao động
nhằm thỏa mãn các tiêu chí mà mục đích giáo dục đã đề ra. Mục đich lao động sư phạm là
đào tạo ra những người năng động sáng tạo. Do đó nội dung giáo dục phải gắn liền với cuộc
sống và phương pháp giáo dục là tôn trọng nhân cách của người được giáo dục và phải hình
thành ở họ tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo.
b. Đối tượng của lao động sư phạm
Đối tượng nghề sư phạm rất đặc biệt, đó khơng phải là những vật vô tri, vô giác mà là
những con người, thế hệ trẻ đang trưởng thành. Đối tượng của lao động sư phạm rất đa dạng,
phức tạp. Sản phẩm của lao động sư phạm được “vật chất hóa” trong bộ mặt tinh thần tri
thức, thể chất, kĩ năng, kĩ xão, ý chí, phẩm chất và tính cách của HS. Đối tượng của lao động
sư phạm là học sinh. Họ không chỉ chịu tác động của GV, nhà trường mà còn chịu ảnh hưởng
của nhiều nhân tố khác như: gia đình, bạn bè, các phương tiện thông tin đại chúng,… Tất cả
những nhân tố này có thể tác động đến việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh
1 cách tích cực hoặc tiêu cực, tự giác hoặc tự phát,… theo nhiều mức độ và cách thức khác
nhau. Mặt khác các mối quan hệ trong cuộc sống của HS cũng rất phong phú. Chúng cũng
thường xuyên tác động và ảnh hưởng đến HS. Vì vậy, lao động sư phạm có nhiệm vụ điều
chỉnh mọi tác động từ các nhân tố đến người HS nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Nhưng HS –
đối tượng của lao động sư phạm không phát triển theo tỉ lệ thuận với những tác động sư
phạm mà theo quy luật của sự hình thành nhân cách con người, tâm lí và nhận thức. Vì vây,
có khi cùng một tác động sư phạm đến người HS nhưng lại có kết quả khác nhau có thể tích
hoặc tiêu cực. Mặt khác, kết quả của lao động sư phạm khơng chỉ phụ thuộc vào trình độ
được đào tạo của GV mà còn phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ giữa GV và HS, phụ thuộc
vào thái độ, dộng cơ, hứng thú người học, vào đặc điểm nhân cách của HS. Trong quá trình
sư phạm, người GV là chủ thể còn HS là khách thể và là đối tượng của lao động sư phạm.
Mặt khác, HS còn là một thực thể xã hội có ý thức. Vì vậy quá trình sự phạm chỉ đem lại
hiệu quả khi phát huy được tính tích cực chủ động, sáng tạo của người học.
c. Công cụ của lao động sư phạm

Để tác động tới HS người Gv cần có những cơng cụ đặc biệt đó là: hệ thống tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo cần thiết để giáo dục HS và tổ chức các dạng hoạt động như: Học tập, lao động,
vui chơi, giải trí cho các em. Nhưng nếu chỉ có hệ thống tri thức kĩ năng, kĩ xảo thì chưa đủ
đảm bảo hiệu quả của lao động sư phạm. GV là người đào luyện con người, vì vậy, người
GV cần phải giảng dạy và giáo dục hs với tất cả tình cảm và tâm hồn mình. Mặt khác, nhân
cách của các thầy, cơ giáo cũng có ý nghĩa giáo dục to lớn và ảnh hưởng sâu sắc đến phát


44

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

triển nhân cách của người HS. Ngồi những cơng cụ này cịn phải kể đến những phương tiện
như đồ dùng dạy học, thiết bị kĩ thuật.
d. Sản phẩm của lao động sư phạm
Sản phẩm của lao động sư phạm là con người. Song, qua quá trình giáo dục và tự giáo
dục lâu dài, dưới sự hướng dẫn tổ chức và điều khiển của giáo viè, báo viết, tivi, tạp chí và các thầy cơ,… Các phương tiện truyền thơng đại
chúng đóng góp một vai trị quan trọng trong việc cung cấp thơng tin việc làm cho sinh viên.
Tuy gia đình đóng vai trị quan trọng trong quá trình định hướng việc làm và nguồn thơng
tin định hướng từ gia đình ln được sinh viên đánh giá cao nhưng đây lại không phải là nơi
cung cấp nhiều thông tin về việc làm cho họ.
Các môi trường xã hội hóa đều đóng góp vai trị quan trọng giúp sinh viên tiếp cận gần
hơn với các thông tin về việc làm. Ngày nay, bên cạnh các môi trường xã hội hóa truyền
thống như gia đình, nhà trường, bạn bè,… thì sự phát triển và mang tính cập nhật cao của
thông tin đại chúng đã giúp môi trường này ngày càng có sự tác động mạnh mẽ đến những
định hướng của sinh viên. Không phải sinh viên nào cũng có nhu cầu tìm hiểu về việc làm.
Nhiều sinh viên cho rằng lúc này đây tìm hiểu thơng tin về việc làm là chưa cần thiết.
2.2.2.2. Thực trạng nhu cầu của sinh viên đối với tiếp cận nghề nghiệp
45
40

35

Đợi ra
Khơng có
trường, 40
thời gian
tìm hiểu, 22
Khơng có
Khơng
nguồn
thích tìm
thơng tin,
hiểu, 12.2
9.8

Khơng có
nhu cầu tìm
hiểu, 24.4

Biểu đồ 2. Lý do sinh viên khơng
tìm hiểu về việc làm (đơn vị %)

Phần lớn những sinh viên khơng
tìm hiểu thơng tin về việc làm vì họ
25
cho rằng đến khi nào ra trường rồi
20
tìm hiểu sau cũng chưa muộn: hiện
15
tại họ chưa có nhu cầu tìm hiểu. Một

10
Khác , 5
số ít hơn cho rằng, họ khơng có thời
5
gian hoặc khơng có điều kiện tiếp cận
0
với các nguồn thơng tin. Cá biệt, có
những trường hợp nói rằng bố mẹ đã lựa chọn, tìm hiểu và sẽ xin việc cho họ. Tuy nhiên,
chính bản thân nhiều sinh viên lại không nhận thức được hoặc nhận thức một cách khơng
đầy đủ về vấn đề này. Trong khi gia đình, nhà trường,… đang tìm mọi cách giúp họ thì họ
lại thờ ơ với chính tương lai của mình. Có rất nhiều các nguồn khác nhau mà từ đó sinh viên
có thể sử dụng để tìm hiểu thơng tin về việc làm. Đây cũng chính là những con đường tiếp
cận giúp sinh viên tiến gần hơn đến những công việc trong tương lai khơng xa của mình. Có
thể nói rằng, việc sinh viên có sử dụng hiệu quả hay khơng hiệu quả những con đường này
30


TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 60/2022

47

cũng có sự ảnh hưởng không phải là nhỏ đến những thuận lợi và khó khăn trong q trình đi
tìm việc của họ sau này. Vậy, hiện nay, sinh viên đang sử dụng các con đường tiếp cận này
như thế nào? Chúng tôi sẽ đưa ra câu trả lời trong phần kết quả nghiên cứu tiếp sau đây.
2.2.2.3. Thực trạng sự chủ động của sinh viên trong tiếp cận nghề nghiệp
Để có được sự thành công trong bất kỳ lĩnh vực nào, sự nỗ lực của bản thân là rất quan
trọng. Để tìm được một công việc tốt, việc quan tâm đến năng lực của bản thân, sự địi hỏi
của cơng việc và nhu cầu của thị trường lao động là rất quan trọng. Hàng năm có hàng triệu
sinh viên mới ra trường, để có thể làm tăng khả năng cạnh tranh của bản thân, sinh viên cũng
đã có những sự nỗ lực tự bản thân ngay khi còn trên ghế nhà trường.

Biểu đồ 3. Sự chủ động của sinh viên
trong tiếp cận nghề nghiệp (đơn vị %)

Học đều các mơn để có
bảng điểm tốt

22.7

Con đường tự rèn luyện bản thân để
tiếp cận việc làm của sinh viên được thể
Học giỏi chuyên ngành
7.4
hiện bằng việc học thêm các chứng chỉ
khác và đi làm thêm. Trong những chứng Học thêm các chứng chỉ
64.9
khác
chỉ khác mà sinh viên lựa chọn thì có
91.9% lựa chọn ngoại ngữ, 70.3% lựa chọn
Đi làm thêm
44.2
tin học, 9.7% lựa chọn các chứng chỉ khác
như kế toán, sư phạm, viết báo, quản lý,…
Có một con số rất lớn sinh viên ngồi việc tiếp thu ngoại ngữ ở trường đã đi học thêm ở bên
ngồi bởi một lẽ trình độ ngoại ngữ và tin học là một phần không thể thiếu trong việc đăng
tuyển dụng cho hầu hết tất cả các vị trí ở các cơng ty hiện nay.
- “Em có học thêm tiếng Anh và tin học. Các công ty hiện nay khi tuyển người đều đòi
hỏi tiếng Anh tốt. Muốn làm được chỗ tốt phải giỏi tiếng Anh. Em cũng đi làm thêm, sau
này mình sẽ có nhiều kinh nghiệm hơn. Em cũng cố gắng học cho tốt. Bằng khá vẫn hơn
bằng trung bình.” (P, năm thứ 3, ngành sư phạm Tiếng Anh)
- “Em có đi làm thêm, cơng việc khơng đúng chuyên ngành lắm nhưng vừa có thêm tiền

lại có nhiều kinh nghiệm sau này đi làm đõ bỡ ngỡ” (TT, năm thứ 4, ngành ngữ văn)
Bảng 1. Sự chủ động trong tiếp cận nghề nghiệp của sinh viên theo giới tính
Sự chủ động của sinh viên
Học đều các mơn để có bảng điểm tốt
Học giỏi chuyên ngành
Học thêm các chứng chỉ khác
Đi làm them
Khơng làm gì

Giới tính
Nam
18.4
6.6
61.8
47.4
1.3

Nữ
32.5
7.8
66.2
42.9
0.6

Chúng tơi nhận thấy rằng, sinh viên dường như không quan tâm nhiều đến việc học tốt
các mơn ở trên trường trong đó có các mơn chun ngành. Để tiếp cận việc làm, sự nỗ lực
của bản thân mỗi sinh viên là rất đỗi quan trọng. Họ đã biết nhìn nhận, xem xét những đòi


48


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐƠ HÀ NỘI

hỏi của cơng việc, nhu cầu của thị trường để hoàn thiện bản thân như học ngoại ngữ, vi
tính… Sinh viên cũng đã biết gia tăng cơ hội tìm việc của mình bằng cách học thêm các
chứng chỉ liên quan đến chuyên ngành.
Nam giới luôn được giáo dục để trở thành người gánh vác gia đình trong tương lai, nữ
giới lại được giáo dục để hướng đến việc trở thành một người nội trợ đảm đang. Nữ giới
cũng coi trọng sự ổn định hơn nam giới. Trong các cách tiếp cận việc làm của bản thân, nữ
giới quan tâm hơn đến con đường ổn định học hành, nam giới lại quan tâm đến việc đi làm
thêm để đúc rút kinh nghiệm. Có đến 32.5% nữ cho rằng bản thân sẽ đầu tư vào việc học tập
để có một bảng điểm tốt, chỉ có 18.4% nam giới chọn phương án này. Nữ giới cũng là người
biết lo toan hơn nam giới khi chỉ có 0.6% khơng làm gì trong khi tỷ lệ lựa chọn phương án
này của nam sinh viên là 1.3%. Mỗi cá nhân đều có những mục đích khác nhau trong cuộc
sống để hướng đến, để đạt được mục đích đó, họ sẽ sử dụng các công cụ và phương tiện khác
nhau. Những mục đích ấy khơng chỉ khác nhau do thành phần xuất thân, ngành học khác
nhau… mà nhiều khi là do q trình xã hội hóa khác nhau. Sự xã hội hóa đó có những yêu
cầu khác nhau dành cho nam và nữ, vì vậy những phương tiện mà họ sử dụng để đạt được
mục đích của mình cũng có sự khác nhau.
2.2.2.4. Thực trạng vai trò của nhà trường trong tổ chức sinh viên tiếp cận nghề nghiệp
Vấn đề giáo dục hướng nghiệp không chỉ quan trọng đối với học sinh phổ thông mà đối
với sinh viên cũng quan trọng không kém. Các trường đại học hiện nay đã ngày càng có
nhiều các hoạt động khác nhau như tổ chức hội chợ việc làm, tọa đàm về việc làm,… nhằm
giúp sinh viên có những thơng tin cần thiết trong việc định hướng nghề. Vậy sinh viên đánh
giá như thế nào về vai trò này của nhà trường?
Biểu đồ 4. Đánh giá của sinh viên về vai trò của nhà trường trong tổ chức tiếp cận nghề nghiệp
Khơng
quan
trọng,
3.5


Rất quan
trọng,
20.8

Bình
thường,
33.3

Quan
trọng,
39.8

Hồn
tồn
khơng
quan
trọng,
2.6

Thơng qua biểu đồ trên chúng ta thấy
rằng, sinh viên cho rằng nhà trường có vai trị
quan trọng trong việc định hướng việc làm cho
sinh viên với con số là 60.6%. Ngoài ra, 33.3%
đánh giá vai trò này của nhà trường ở mức độ
bình thường và chỉ có 6.1% sinh viên khơng
đánh giá cao vai trò của nhà trường trong lĩnh
vực này. Điều này là phù hợp với kết quả
nghiên cứu mà chúng tơi đã trình bày ở trên
khi mà sau khi vào trường phần lớn sinh viên

mới có định hướng về việc làm và mức độ hiểu
biết về việc làm của họ cũng gia tăng.

2.2.5. Thực trạng các hoạt động tiếp cận
nghề nghiệp cho sinh viên của trường Đại học Thủ đô Hà Nội
Biểu đồ 5. Đánh giá của sinh viên về các hoạt động tổ chức tiếp cận nghề nghiệp
của nhà trường


TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 60/2022

49

Thực hành, thực tập
Chia sẻ của cựu sinh viên
Các thầy cô chia sẻ kinh nghệm
Mời các trường phổ thông về chia sẻ
Tổ chức hội thi nghiệp vụ giỏi
Tổ chức tọa đàm
0

10

20

30

40

50


60

70

80

90

100

Mời các
Tổ chức hội
Các thầy cô
trường phổ
Tổ chức tọa
Chia sẻ của Thực hành,
thi nghiệp vụ
chia sẻ kinh
thơng về chia
đàm
cựu sinh viên
thực tập
giỏi
nghệm
sẻ
Khơng có ý nghĩa
2.77
Kém quan trọng
8.6

10.3
Bình thường

25.9

16

3

7.8

34.6

Quan trọng

32.03

46.7

13.5

35.5

22.9

8.1

Rất quan trọng

30.7


26.8

86.5

56.7

42.42

82.25

Biểu đồ 6. Mức độ tham gia của sinh viên đối với các hoạt động tiếp cận nghề
nghiệp do nhà trường tổ chức
Thực hành, thực tập
Chia sẻ của cựu sinh viên
Các thầy cô chia sẻ kinh nghệm
Mời các trường phổ thông về chia sẻ
Tổ chức hội thi nghiệp vụ giỏi
Tổ chức tọa đàm
0

Chưa bao giờ
Ít khi

10

20

30


40

50

60

70

80

Mời các
Tổ chức hội
Các thầy cơ
trường phổ
Tổ chức tọa
Chia sẻ của
thi nghiệp vụ
chia sẻ kinh
thông về chia
đàm
cựu sinh viên
giỏi
nghệm
sẻ
4.3
43.7

5.1

12.5


11.2

90

100

Thực hành,
thực tập

Thỉnh thoảng

35.6

19

17.7

33.7

43.2

Thường xuyên

17.3

34.6

38.1


27.7

10.8

4.8

Rất thường xuyên

8.2

41.1

15.5

25.5

12.9

95.2

Phần lớn sinh viên cho rằng các hoạt động của nhà trường là rất quan trọng, quan trọng
chỉ một số ít đánh giá thấp. Nhà trường đóng góp vai trị quan trọng trong q trình giúp sinh
viên định hướng việc làm, đây là một vai trị khơng thể chối cãi. Với sinh viên, họ đánh giá


50

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

cao những hoạt động của nhà trường trong q trình thực hiện vai trị này. Tuy nhiên, từ

nhận thức đi đến hành động không phải là một quá trình dễ dàng. Tác giả nhận thấy một vấn
đề rằng, sinh viên đánh giá cao vai trò giúp sinh viên tiếp cận việc làm của nhà trường, đánh
giá cao sự hữu ích của các hoạt động do nhà trường đề ra nhưng họ lại ít khi quan tâm cũng
như tham gia các hoạt động này. Điều này thể hiện ở con số có
- Tọa đàm có 43,7% SV thỉnh thoảng tham gia,
- Hội thi nghiệp vụ giỏi có 19% Sv thỉnh thoảng, 5,1 SV ít khi tham gia,
- Hoạt động chia sẻ của trường phổ thông có 17.7 SV thỉnh thoảng tham gia
- Các thầy cố chia sẻ kinh nghiệm có 12,5% ít khi, 33,7% SV thỉnh thoảng tham gia
- Chia sẻ của cựu sinh viên có 11,2% ít khi, 43,2% SV thỉnh thoảng tham gia
Con số trên phản ánh mâu thuẫn giữ nhận thức và hành động của SV trong việc tham
gia các hoạt động tiếp cận nghề nghiệp tại nhà trường. Nguyên nhân là do nhu cầu và động
cơ của họ vẫn chưa thực sự mạnh mẽ, họ vẫn đang là sinh viên và còn một khoảng thời gian
nữa họ mới phải quan tâm đến vấn đề việc làm.

3. KẾT LUẬN
3.1. Kết luận
SV chưa thể hiện nhu cầu tiếp cận nghề nghiệp mạnh mẽ, đa phần SV có tư tưởng đợi
ra trường mới tìm hiểu việc làm, thậm chí khơng có nhu cầu tìm hiểu ngay. Đây là một trong
những nguyên nhân gây ảnh hưởng hiệu quả công tác tiếp cận nghề nghiệp. Đây là còn
nguyên nhân dẫn tới sinh viên mất nhiều cơ hội việc làm trong tương lai. Do đó việc tạo
động lực tiếp cận nghề nghiệp cần phải được khoa sư phạm quan tâm thích đáng. Những con
đường tiếp cận việc làm của sinh viên: Sinh viên tiếp cận thông tin về việc làm nhiều nhất
qua các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là internet. Đây cũng là một trong
những con đường giúp sinh viên tiếp cận việc làm. Ngồi ra cịn có thơng qua sự nỗ lực của
bản thân, gia đình, bạn bè, nhà trường. Sự nỗ lực của bản thân: Sinh viên có nhiều hoạt động
nhằm làm tăng khả năng cạnh tranh của bản thân khi tham gia vào thị trường lao động, trong
đó được lựa chọn nhiều nhất là con đường học thêm các chứng chỉ khác ngoài chuyên ngành
và đi làm thêm. Yếu tố giới tính có sự tác động nhất định đến những hoạt động này của sinh
viên. Sinh viên nữ có xu hướng chuyên tâm vào học tập để nâng cao thành tích, sinh viên
nam quan tâm hơn đến các hoạt động tích lũy kinh nghiệm thực tế như đi làm thêm… SV

đánh giá cao vai trò của các hoạt động định hướng, tiếp cận nghề nghiệp tại nhà trường. Song
thực tế, SV chưa có hành động tham gia tương ứng, đặc biệt với hoạt động tọa đàm, chia sẻ
của cựu SV, chia sẻ kinh nghiệm của thầy cơ
3.2. Khún nghị
Vai trị định hướng đầu vào cho sinh viên đại học là rất quan trọng. Vấn đề này không
chỉ dành cho các trường phổ thơng, gia đình,… mà bản thân các trường đại học cũng phải
quan tâm. Đặc biệt với các trường sư phạm nói chung và trường Đại học Thủ đơ Hà Nội nói
riêng, các hoạt động định hướng, tiếp cận nghề nghiệp ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra của


TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 60/2022

51

sinh viên trong trường. Dựa trên những kết quả nghiên cứu, chúng tôi đưa ra một số khuyến
nghị như sau:
- Đối với nhà trường:
+ Tổ chức thêm các hoạt động truyền cảm hứng nghề nghiệp cho sinh viên.
+ Nhà trường cần tạo nhiều sân chơi bổ ích giúp sinh viên hiểu biết và tiếp cận với các
nghề khác nhau liên quan đến ngành học. Từ đó, giúp sinh viên có những định hướng nghề
chính xác. Những hoạt động này cần mang tính thực tế, thu hút đông đảo sinh viên tham gia.
Thay đổi phương pháp, các chủ đề trong những buổi tọa đàm, chuyên đề chia sẻ của GV,
cựu SV nhằm tạo ra môi trường giao lưu, hấp dẫn, lan tỏa truyền thông nhằm thu hút sự tham
gia tích cực của SV. Phát huy hơn nữa những buổi giao lưu khách mời từ các trường phổ
thông nhằm cung cấp cho sinh viên các kỹ năng mềm liên quan đến việc định hướng và tiếp
cận nghề.
+ Các kênh thơng tin đại chúng đóng góp một lượng lớn thông tin về việc làm cho sinh
viên. Nhà trường cần giúp sinh viên có những kỹ năng tìm kiếm thơng tin.
- Đối với giảng viên
+ Có một bộ phận SV chưa nhận ra tầm quan trọng của môn chuyên ngành và những

chia sẻ kinh nghiệm của thầy cô. Do đó, giảng viên cần phải bổ sung thêm nhiều kiến thức
và kĩ năng thực tiễn đáp ứng nhu cầu chính đáng của SV. Đồng thời giảng viên cần đa dạng
hóa hình thức và phương pháp, đầu tư hơn những chủ đề chia sẻ kinh nghiệm nhằm giúp SV
chú ý, tương tác, từ đó nâng cao hiệu quả tiếp cận nghề nghiệp
- Đối với sinh viên:
+ SV đánh giá cao nhất vai trò của bản thân trong các con đường tiếp cận việc làm nhưng
chính bản thân lại dường như khơng có những hành động cụ thể trên thực tế. Sinh viên cần
phải có định hướng việc làm cụ thể ngay từ khi chọn ngành học. Để làm được điều này khi
đăng ký thi đại học sinh viên không chỉ tìm hiểu về tỷ lệ chọi, điểm chuẩn, về cơ hội được
học đại học,… mà còn phải quan tâm đến sự phù hợp của ngành học đối với năng lực, nhu
cầu của bản thân. Sinh viên cần phải chọn nghề trước khi chọn ngành.
+ Trước các buổi tọa đàm, giao lưu, sinh hoạt tập thể tiếp cận nghề nghiệp, SV chuẩn bị
trước những câu hỏi, vấn đề khó khăn, thẳng thẳng, cởi mở chia sẻ nhằm tích cực lĩnh hội
kiến thức, kĩ năng cho bản thân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Huy Cường (2009), “Các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên năm
cuối các ngành khoa học xã hội (Nghiên cứu trường hợp trường Đại học KHXH&NV)”, Luận văn
Thạc sỹ Xã hội học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội.
2. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (1997), Xã hội học đại cương, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.


52

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

3. Trần Thị Thu Hiền (2008), “Định hướng nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường hiện nay”,
Luận văn Thạc sỹ Xã hội học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, ĐHQG Hà Nội.
4. Nguyễn Hùng (2008), Sổ tay tư vấn hướng nghiệp và chọn nghề, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
5. Phan Thị Mai Hương (2008), “Chiến lược sống qua những dự định nghề nghiệp của cư dân ven
đô Hà Nội trong q trình đơ thị hóa”, Tạp chí Tâm lý học, số 12, trang 13 – 18.

6. Vũ Mạnh Lợi (2006), “Một số xu hướng và thái độ của thanh niên Việt Nam với vấn đề việc làm”,
Tạp chí Xã hội học, số 3 (95), trang 39 – 47
7. Hoàng Phê (chủ biên) (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng
8. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hóa thơng tin, Hà Nội.

THE SITUATION OF CAREER ACCESS FOR PEDAGOGICAL
STUDENTS AT HANOI METROPOLITAN UNIVERSITY
Abstract: The phenomenon of students majoring in pedagogy being unemployed, quitting
their job, or failing in their studies due to the inability to detersmine the career value and
the lack of understanding of their own qualities and abilities. The effectiveness of the
organization's occupational approach is related to the above phenomenon. Studying the
status of career approach of pedagogical students at Hanoi Metropolitan University will
improve the training quality of the university in particular and the training of pedagogy in
general. The study analyzed the influence of information sources on career access for
pedagogical students, the level of active career approach of students, and the current
situation of career access activities for pedagogical students at Hanoi Metropolitan
University. Measures to improve the quality of career access activities are also proposed
for students majoring in pedagogy at Hanoi Metropolitan University
Keywords: Students, pedagogy, career, university.



×