TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 59/2022
105
NGHIÊN CỨU MƠ HÌNH HỆ SINH THÁI HỌC TẬP,
SÁNG TẠO TRONG CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Đỗ Hồng Cường, Đinh Thị Kim Thương, Đặng Lan Phương, Nguyễn Hồng Chiến
Trường Đại học Thủ đơ Hà Nội
Tóm tắt: Việc nghiên cứu và xây dựng mơ hình hệ sinh thái học tập, hệ sinh thái giáo dục
thông minh đã bắt đầu được triển khai ở một số địa phương trong nước và nhiều nơi trên
thế giới. Xây dựng và phát triển mơ hình “hệ sinh thái học tập, sáng tạo” nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học trong chương trình giáo dục phổ thơng, trong
đó nhấn mạnh việc phát triển năng lực học tập, sáng tạo của học sinh là yêu cầu cấp thiết
được đặt ra đáp ứng yêu cầu xây dựng Thành phố Hà Nội sáng tạo. Trong nghiên cứu này,
chúng tôi đề cập đến hệ sinh thái học tập sáng tạo theo lí thuyết kết nối và thực tế việc xây
dựng hệ sinh thái học tập sáng tạo trong các nhà trường phổ thơng, từ đó đề xuất một số
giải pháp để có thể xây dựng một hệ sinh thái học tập sáng tạo đáp ứng yêu cầu phát triển
của Thủ đô.
Từ khố: Hệ sinh thái học tập, sáng tạo, lí thuyết kết nối, thành phố sáng tạo, trường phổ
thông, chuyển đổi số.
Nhận bài ngày 24.2.2022; gửi phản biện, chỉnh sửa, duyệt đăng ngày 26.4.2022
Liên hệ tác giả: Đỗ Hồng Cường; Email:
1. MỞ ĐẦU
Quyết định số 749/QĐ-TTG ngày 3/6/2020 phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số
quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, xác định: “giáo dục là một trong 8 lĩnh
vực được ưu tiên triển khai. Ngành giáo dục đã đặt mục tiêu phấn đấu để Việt Nam sẽ trở
thành một trong các quốc gia hàng đầu về chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo”[24]. Ý
tưởng xây dựng mơ hình hệ sinh thái học tập trên thế giới bắt nguồn từ Lý thuyết kết nối, coi
các yếu tố tạo thành một nền giáo dục tốt từ đó thúc đẩy việc học tập có hiệu quả đều được
gắn kết với nhau. Trên thế giới, mơ hình giáo dục này được nhiều nước (Nga, Anh, Pháp,
Mỹ, Australia...) triển khai như: trường học thông minh, hệ sinh thái giáo dục toàn cầu, hệ
sinh thái học tập STEM,... Để trở thành ngọn cờ đầu trong ngành giáo dục và đào tạo, đồng
thời xây dựng Thành phố thông minh, Thành phố sáng tạo với nguồn nhân lực chất lượng
cao, chủ động và sáng tạo trong công việc, Hà Nội cần tiến hành nghiên cứu và xây dựng
những hệ sinh thái học tập, sáng tạo (Innovative/Creative Learning Ecosystem), trong đó
Nhà trường là nhân tố trung tâm, kết nối các thành tố của hệ sinh thái. Hệ sinh thái học tập,
106
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
sáng tạo phát triển theo hướng hệ sinh thái giáo dục thông minh, tạo lập một môi trường sáng
tạo hỗ trợ việc dạy và học, cung cấp cho học sinh sự linh hoạt, tính chính trực, tính phổ biến
và tính kết nối, từ đó phát triển năng lực học tập, sáng tạo của học sinh Thủ đô.
2. NỘI DUNG
2.1. Sự cần thiết xây dựng hệ sinh thái học tập, sáng tạo
Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đặt mục tiêu:
“Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt
động giáo dục, đó là: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải
quyết vấn đề và sáng tạo,...”. Đồng thời, trong khung chương trình cũng dành thời lượng
khơng nhỏ thời gian để “sáng tạo chương trình địa phương, chương trình nhà trường” và tạo
ra các hoạt động giáo dục năng lực sáng tạo, tạo sản phẩm sáng tạo. Chỉ tính riêng thời lượng
cho Hoạt động trải nghiệm (được xác định như một mơn học, là khơng gian chính để sáng
tạo nội dung, phương pháp giáo dục) ở tiểu học là 105 tiết/ năm; nội dung Hoạt động trải
nghiệm, hướng nghiệp ở trung học có sở và trung học phổ thơng là 105 tiết/ năm; 35 tiết/
năm cho nội dung giáo dục địa phương,...
Cần xây dựng mơ hình hệ sinh thái học tập, sáng tạo theo hướng phát triển hệ sinh thái
học tập thông minh, tạo lập một môi trường sáng tạo hỗ trợ việc dạy và học. Những bên liên
quan của hệ sinh thái học tập cùng nhau hợp tác để đưa ra những ý tưởng sáng tạo (nội dung
sáng tạo và cách thức tổ chức sáng tạo), các thành tựu và quy trình thích hợp cho q trình
học tập, với sự đồng bộ, hiệu quả cao trong ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, tổ
chức dạy học và kết nối với xã hội; từ đó đáp ứng nhu cầu cao trong việc thu nhận và xử lý
thông tin, dần dần nâng cao chất lượng trong giáo dục và dịch vụ công. Hiện nay, việc xây
dựng trường học như một hệ sinh thái học tập, hệ sinh thái giáo dục đang là xu hướng của giáo
dục 4.0 được định hướng trong các chủ trương của Đảng và Nhà nước. Nhiều mơ hình, đề án,
dự án đã được triển khai ở những cấp độ và những nội dung khác nhau trong cả nước như: Mơ
hình trường học hạnh phúc, Dự án EMVITET, Hệ sinh thái kết nối học tập Youth+, Giáo dục
STEM Việt Nam, Dự án Brickone, Hệ sinh thái kết nối tri thức 4.0 TOTA và Dự án "Ngôi trường
số - TOTA School", Đề án phát triển hệ sinh thái giáo dục số của một số địa phương như Hải
Phòng, Thừa Thiên Huế, Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam,… Nhiều doanh nghiệp
trong và ngoài nước đã cung cấp các giải pháp giáo dục trực tuyến như: VNPT, VnEdu, VNPT
E-Learning, Vietel (ViettelStudy), FPT (sử dụng công nghệ blockchain trong việc cấp chứng chỉ,
bằng cấp, hệ sinh thái EdTech Việt Nam,… Các ứng dụng này đã có tác động rất tích cực đến
việc chuyển đổi số trong ngành giáo dục.
Ý tưởng nghiên cứu và xây dựng mơ hình hệ sinh thái học tập trên thế giới bắt nguồn từ Lý
thuyết kết nối, coi các yếu tố tạo thành một nền giáo dục tốt và thúc đẩy việc học tập có hiệu quả
đều được gắn kết với nhau. Cấu trúc và mơ hình phát triển hệ sinh thái học tập/ giáo dục bao
gồm các thành phần sau: (1) Chủ thể học tập (Con người); (2) Tri thức học tập (Nội dung); (3)
Công nghệ học tập (Công nghệ); (4) Bối cảnh học tập và (5) Văn hóa, chiến lược, khả năng kết
nối tri thức giữa các thành phần bên trong hệ sinh thái và các kết nối ra bên ngoài với hệ sinh
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 59/2022
107
thái lớn hơn. Trên thế giới, mơ hình này cũng đã được nhiều nước triển khai như: hệ sinh thái
giáo dục toàn cầu, trường học thông minh, hệ sinh thái học tập STEM,… Các hệ thống công
nghệ học tập dùng để hỗ trợ xử lý thông tin tổng hợp được, được thiết kế phụ thuộc vào hệ thống
chủ thể người học - người dạy; vào ngữ cảnh cụ thể của hệ sinh thái học tập, cũng như vào hệ
thống tri thức/nội dung liên quan. Hệ thống nhỏ nhất đối với cá nhân người học, được gọi là môi
trường cá nhân học tập (Personal Learning Environment). Hệ thống công nghệ với môi trường
internet là yếu tố chính thúc đẩy sự chuyển dịch, mở rộng khơng gian và cấu trúc của hệ sinh
thái học tập, đồng thời là phương tiện cho thiết kế hệ sinh thái học tập nói chung. Hệ sinh thái
học tập giúp các tổ chức/nhà trường chống chọi với khủng hoảng và tạo ra lợi ích lâu dài cho
học sinh bằng cách thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục
toàn diện.
2.2. Những nghiên cứu về hệ sinh thái học tập, sáng tạo
Theo nhu cầu mở rộng không gian và cấu trúc của học tập, cùng với mơ hình mơi trường
sinh thái học tập tổng qt như trình bày ở trên, một loạt những mơ hình mơi trường cơng
nghệ cho học tập, được một số tác giả đồng thời đưa ra dưới khái niệm hệ sinh thái học tập
- Learning Ecosystem. Mark Berthelemy (2010) sử dụng khái niệm ecosystem từ sinh vật
học để định nghĩa hệ sinh thái học tập, với ý chính là cho học tập tại nơi làm việc [4]. Tương
tự, khái niệm hệ sinh thái số, hoặc hệ sinh thái E-learning - Digital/E- Learning Ecosystem
được sử dụng như hạ tầng mạng máy tính trên Internet (Chang và West, 2006 [2]; Briscoe
và De Wilde, 2006 [5]; Briscoe và Marinos, 2009) [7]; hoặc như mơ hình sinh thái cho học
tập và giảng dạy (Frielick, 2004) [8]; như là hạ tầng e-learning (Gu ̈tl và Chang 2008) [3];
hoặc như là sự triển khai e-learning (Uden, Wangsa et al., 2007) [13]; hoặc như một công cụ
hỗ trợ học tập (Ficheman and de Deus Lopes, 2008) [9]. Trong đó, tác giả mơ tả hệ sinh thái
học tập như hệ thống liên kết các cá nhân, nhóm, mạng học tập trong môi trường công nghệ
và Internet, cùng với các đặc tính về sản phẩm giáo dục, vịng đời, sự liên kết, kết nối mạng,
sự vận động tri thức.
Ý tưởng của hệ sinh thái học tập là: Là hệ thống ni dưỡng và phát triển các cá nhân,
nhóm, mạng học tập; Là hệ thống mơ tả mang tính triển khai được trong thực tế; Là mặt cắt
của môi trường sinh thái học tập tổng quát thông qua môi trường kết nối mạng.
Khác với môi trường sinh thái học tập (Learning Ecology) nhấn mạnh tới mạng học tập,
với đặc tính của mạng lưới là sự linh hoạt, tự trị, bình đẳng, hỗn mang, tự điều chỉnh
(Downes), hệ sinh thái học tập nhấn mạnh tới tính hệ thống và mơi trường công nghệ cho hệ
thống - là yếu tố giúp cho khả năng triển khai thực tế. Hệ Sinh thái giáo dục “Education as an
ecosystem” của tác giả Sean Slade trên trang blog của Hiệp hội Giám sát và Phát triển Chương
trình (ASCD) của Hoa Kỳ đã phân tích những yếu tố tạo thành một nền giáo dục tốt và thúc đẩy
việc học tập có hiệu quả, chỉ ra rằng trong giáo dục mọi thứ đều được kết nối với nhau và có
những vai trị riêng biệt, có nghĩa là mọi yếu tố đều có liên quan với nhau, khơng có bất cứ yếu
tố nào thừa. (Theo OECD 2019: “Tương lai của giáo dục và kỹ năng 2030, Bản phác thảo khái
niệm: Kiến thức cho năm 2030) [15]. Điều này ngày càng trở nên đúng đắn đối với các cộng
108
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
đồng giáo dục, nơi sự thiếu vắng hoặc thậm chí dư thừa của bất kỳ một yếu tố nào đều có thể
ảnh hưởng đến kết quả học tập hiện tại cũng như kết quả sau cùng. Tất cả các yếu tố đầu vào sẽ
ảnh hưởng đến đầu ra. Các yếu tố môi trường đều có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và q trình
học tập. Khi giáo dục ngày càng trở nên giống như một hệ sinh thái – diễn ra cả bên trong lẫn
bên ngoài nhà trường, tác động vào trong và xuyên qua tồn cộng đồng – thì mơi trường càng
trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Vào giữa những năm 1990 tại Trung tâm Lãnh đạo Sáng tạo ở Bắc Carolina mơ hình học
tập 70:20:10 được phát triển bởi Morgan McCall, Robert Eichinger và Michael Lombardo [14].
Nghiên cứu của họ đã chỉ ra rằng: 70% việc học tập xảy ra khi người học tham gia vào các q
trình học tập khơng chính thức như quan sát người khác, tham gia vào các thói quen tại nơi sinh
sống, nơi làm việc và thực hiện các nhiệm vụ có tính thử thách; 20% phát sinh từ việc được tư
vấn, cố vấn và tập huấn (chủ yếu từ người quản lý hoặc người giám sát); 10% là kết quả của các
khóa học chính thức và đọc sách. Mơ hình học tập 70:20:10 giải thích một cách đơn giản cách
học thực sự diễn ra ở nơi làm việc, rằng việc học không chỉ diễn ra trong các khóa học và việc
học cần phải mang tính trải nghiệm cao.
Tư duy hệ sinh thái là một phương tiện để nhà quản lý giáo dục đưa mơ hình 70:20:10 thành
hiện thực. Hệ sinh thái cung cấp một phương tiện để vượt ra ngồi việc thiết kế các khóa học và
thay vào đó thiết kế các phương pháp tiếp cận chiến lược tổng thể, tích hợp để học tập. Hiệu
trưởng (nhà quản lý giáo dục) bằng hình thức này hay hình thức khác, nên tiếp cận các giải pháp
và phương pháp tiếp cận hệ sinh thái vì mục tiêu và mục đích lớn hơn và mở rộng hơn so với
các hệ thống thơng thường đã có, bao gồm việc tham gia vào các vấn đề thực tế của xã hội theo
cách mà các trường học không thể làm việc được một mình (Ví dụ như: giáo dục đạo đức, giáo
dục văn hóa,...). Hệ sinh thái học tập đảm bảo tính cơng bằng đối với những chủ thể học tập, đặc
biệt là những người yếu thế. Hệ sinh thái học tập giúp các tổ chức/nhà trường chống chọi với
khủng hoảng và tạo ra lợi ích lâu dài cho học sinh bằng cách thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới, từ
đó ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục tồn diện. Trong một Báo cáo của WISE về hệ sinh thái
học tập đã trình bày về sự cần thiết, các mơ hình HST đã triển khai trên thế giới và quan
điểm coi Hệ sinh thái như một xu hướng giáo dục của thế kỷ 21, là cách thức thay đổi phương
pháp giáo dục ngày nay và là phương thức để các nhà quản lý giáo dục nên áp dụng [15].
Tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Mạnh Hùng trong nghiên cứu (2013) của mình đã chỉ ra:
“Hệ sinh thái học tập bao gồm các thành phần sinh vật và phi sinh vật và tất cả các mối quan
hệ trong ranh giới vật lý xác định. Cụ thể nó bao gồm các bên liên quan tham gia vào tồn
bộ chuỗi của q trình học tập, các tiện ích học tập, mơi trường học tập và trong ranh giới
cụ thể - ranh giới môi trường học tập”[19]. Hệ sinh thái học tập được coi là bao gồm: - Hệ
thống chủ thể học tập (cá nhân người học, thầy giáo, nhóm,…); Hệ thống tri thức học tập
(chương trình, bài giảng, sách giáo khoa, tài liệu thư viện, tri thức người học, tri thức người
dạy, tri thức nhóm, tri thức trên mạng,…); Hệ thống cơng nghệ học tập (mạng Internet, hệ
thống e-learning, các phần mềm hỗ trợ học tập, các cơng cụ tìm kiếm tra cứu trên mạng Internet,
các phần mềm mô phỏng, thực tế ảo,...); Hệ thống bối cảnh học tập (học lý thuyết, thực hành,
học tập khái niệm, học tập kỹ năng, bài tập tính huống, đi thực tế, bài tập nhóm, se-mi-na,
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 59/2022
109
tiểu luận,…). Hệ thống cơng nghệ học tập được coi ngày càng đóng vai trị quan trọng và có
những thay đổi nhanh nhất trong hệ thống sinh thái học tập trong bối cảnh Cách mạng Công
nghiệp 4.0.
Bối cảnh công nghệ 4.0 và hệ sinh thái giáo dục
Sự biến đổi công nghệ đang diễn ra rất nhanh địi hỏi các mơ hình giáo dục cần gắn liền
nghiên cứu, phát triển công nghệ và tham gia trực tiếp vào sản xuất và đời sống (Weller &
Anderson, 2013) [26]. Vai trò của giảng viên trong thế kỉ XXI trở nên phức tạp hơn; đòi hỏi
phải định hướng vào công nghệ và chịu trách nhiệm không chỉ với việc dạy mà còn với việc
học của học trò. Vai trò giáo viên đã và đang tiếp tục thay đổi từ địa vị người dạy sang người
thiết kế, cố vấn, huấn luyện và tạo ra môi trường học tập. Giảng viên phải giúp sinh viên
điều chỉnh chất lượng và độ giá trị nguồn thông tin, kiến thức mới, phải là nhà chuyên nghiệp
có đầu óc mở, biết phê phán độc lập, hợp tác, cộng tác tích cực và điều giải giữa người học
với những gì họ muốn biết, là người hỗ trợ/đồng hành cùng người học (Weinberger, Fischer
& Mandl, 2002) [1]. Ở phương diện ICT tác động trực tiếp đến giáo dục, chúng ta nhận thấy
sự thay đổi thông qua các hình thức tổ chức mơi trường học tập: Từ lớp học truyền thống,
đến lớp học có sự trợ giúp máy tính, rồi đến học tập trực tuyến (eLearning, mLearning) hoặc
học tập kết hợp… và hiện nay hướng đến học tập cá nhân (PLE) trong xã hội tri thức số,
hướng đến hệ sinh thái giáo dục (Siemens 2004, 2006; Downes, 2012 [6], [7]; Terry
Anderson & Jon Dron, 2011) [16]– với xuất phát điểm từ các hệ sinh thái công nghệ di dộng
(như Android hay IOS) cùng với nhiều công cụ tương tác, kết nối đến các nguồn lực (tài
nguyên Internet, con người…) đã hình thành thói quen, văn hóa trong việc sử dụng điện
thoại cá nhân. Đây được xem là nền tảng công nghệ cho việc tổ chức học tập cá nhân trên
thiết bị di động (Humanante Ramos & García Peñalvo, 2014) [10].
Hệ sinh thái học tập: Xuất phát từ việc xem mỗi người là một hệ sinh thái bởi hoạt động
và mối liên hệ hữu cơ vô cùng phức tạp giữa cơ thể, cảm xúc, tư duy,… và như thế cũng
xem các hoạt động giáo dục trong tương quan của hệ sinh thái giáo dục với 4 yếu tố: Con
người, mơi trường, q trình và sự hiểu biết. Trong đó, nhân tố cá nhân hóa được thể hiện
qua khả năng kết nối các nguồn lực giáo dục với các công cụ mở rộng; cho phép cộng tác,
chia sẻ và kiến tạo làm gia tăng giá trị tri thức không giới hạn trong mơi trường số hóa.
Cấu trúc và mơ hình phát triển hệ sinh thái học tập các thành phần sau: (1) Cá
nhân/nhóm người học với vai trị khai thác sử dụng/ tái tạo, kiến tạo tri thức; (2) Giáo viên
cùng với các nguồn lực hỗ trợ giáo dục khác; (3) Môi trường cá nhân với khả năng kết nối
giáo dục trên nền tảng công nghệ thông tin và truyền thơng (ICT); (4) Tài ngun giáo dục
mở, các khóa học đại trà MOOCS; (5) Khả năng kết nối tri thức giữa các thành phần bên
trong hệ sinh thái và các kết nối ra bên ngoài với hệ sinh thái lớn hơn. (Shrivastava, 1998;
Wilkinson, 2002; Brodo & Uden, 2006; Ismail & Maneschijn, 2001; Chang & Gütl, 2007).
Như vậy một hệ sinh thái học tập thể hiện các mối liên kết chặt chẽ giữa các thành phần
học tập với nhau và với mơi trường học tập bên ngồi (hệ sinh thái học tập lớn hơn) thông
qua sự vận động của tri thức kết nối và mơi trường cơng nghệ; nó thể hiện tính cá nhân hóa
110
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐƠ HÀ NỘI
thơng qua việc thiết lập các tương quan nhằm tạo dựng được môi trường kết nối giáo dục để
phát triển cá nhân phù hợp với xu thế, mục đích vận động của hệ sinh thái giáo dục đó.
2.3. Xây dựng mơ hình hệ sinh thái học tập sáng tạo ở các cấp học
2.3.1. Khái niệm về hệ sinh thái học tập, sáng tạo
Từ kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, chúng tôi định nghĩa hệ
sinh thái học tập và hệ sinh thái học tập, sáng tạo như sau:
- Hệ sinh thái trong tự nhiên được sử dụng để mô tả các tương tác tự nhiên giữa hệ thống
quần thể sinh vật, mỗi lồi có chức năng riêng, sống chung và phát triển trong một môi trường
nhất định, quan hệ tương tác với nhau, với các yếu tố vô sinh và với mơi trường đó.
- Hệ sinh thái học tập là một môi trường cộng sinh, nơi mọi người tương tác với nội
dung, công nghệ và dữ liệu xung quanh họ để tạo điều kiện và cung cấp kinh nghiệm học tập
dựa trên các kế hoạch, phương pháp quản trị do tổ chức đặt ra.
- Hệ sinh thái học tập sáng tạo là hệ sinh thái học tập với đặc trưng điển hình là tính sáng
tạo (nói cách khác, sáng tạo là đặc điểm của các thành tố trong hệ sinh thái đó).
2.3.2. Cấu trúc của hệ sinh thái học tập, sáng tạo
Một hệ sinh thái học tập thể hiện các mối liên kết chặt chẽ giữa các thành phần học tập
được gắn kết với nhau, gồm các thành phần sau:
Bảng 1. Hệ sinh thái học tập sáng tạo
Chủ thể học tập
(Con người)
Tri thức học tập
(Nội dung)
Công nghệ học tập
(Công nghệ)
1. Người học
2. Giáo viên, trợ giảng, người hướng dẫn
3. Cán bộ quản lí
4. Cựu người học
5. Mạng lưới doanh nghiệp, đối tác bên trong và bên ngoài nhà
trường
6. Gia đình, cộng đồng
1. Nội dung đào tạo trên lớp: chương trình, giáo trình, tài liệu thư
viện, sách GK, bài giảng
2. Nội dung khóa học online
3. Hướng dẫn sử dụng, tài liệu tham khảo
4. Trao đổi qua email, SMS, mạng xã hội
5. Bài kiểm tra, tài liệu đánh giá
6. Nội dung khơng chính thức: các cuộc trị truyện với bạn bè, giáo
viên, người quản lý, gia đình, hình thức tư vấn, cố vấn...
7. Nội dung bên ngoài: từ các tọa đàm, hội thảo, đọc sách, xem
video trên youtube
1. Phần mềm kết nối các thành tố trong hệ sinh thái học tập, sáng
tạo.
2. Kế hoạch dạy học được số hóa
3. Hệ thống bài giảng e-learning
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 59/2022
111
4. Hệ thống hỗ trợ, tư vấn trực tuyến với phụ huynh và học sinh
5. Hệ thống kết nối mạng lưới phụ huynh, cựu học sinh
6. Các câu lạc bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới sáng tạo trong nhà
trường
Bối cảnh học tập
1. Bối cảnh văn hóa địa phương, di sản, làng nghề, ứng dụng cơng
nghệ KHKT, kết nối doanh nghiệp, tổ chức chính trị xã hội, gia
đình và các chủ thể khác của hệ sinh thái
2. Các hình thức giáo dục khác nhau: Học qua thực hành, trải
nghiệm; Học qua chơi; Học qua dự án, Học qua tình huống…
Văn hóa, chiến lược Văn hóa, chiến lược phát triển, phương châm chất lượng, giá trị cốt
lõi được công bố với xã hội.
3. KẾT LUẬN
Nhận thức về mơ hình hệ sinh thái học tập sáng tạo cho đến nay, còn chưa thống nhất,
chưa bao quát, tồn diện và chưa có những nghiên cứu chun sâu để xây dựng mơ hình phù
hợp với thực tiễn ở phổ thơng. Các mơ hình triển khai cịn rời rạc, chưa có sự liên kết thành
hệ thống đảm bảo tính khoa học và sáng tạo. Các thành tố cấu thành hệ sinh thái học tập thực
tế đã tồn tại, nhưng đang được hiểu theo nghĩa hẹp (trong khuôn khổ nhà trường và chỉ là
những nội dung, cấu trúc phục vụ việc dạy-học trực tiếp trên lớp); chưa được kết nối với
nhau hoặc kết nối lỏng lẻo và chưa được khai thác một cách tổng thể và bài bản. Nguyên
nhân xuất phát từ nhận thức, chủ trương và sự hạn chế về hạ tầng cơng nghệ, trình độ tiếp
nhận của đội ngũ tham gia, trong đó có đội ngũ giáo viên. Nghiên cứu xây dựng mơ hình
“Hệ sinh thái học tập sáng tạo” nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở tất cả các
cấp học là việc làm cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở đó, phát triển thử nghiệm
các mơ hình “hệ sinh thái học tập, sáng tạo” tại các trường học công lập và ngồi cơng lập
cũng như tổ chức các lớp bồi dưỡng giáo viên nhằm triển khai một nghiên cứu ứng dụng tiên
tiến trên thế giới vào hệ thống giáo dục của Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Armin Weinberger, Frank Fischer, Heinz Mandl (2002), Fostering individual transfer and
knowledgeconvergence in text-based computer-mediatedcommunication, Institute of
Educational Psychology, Ludwig-Maximilians-University of Munich,Leopoldstr. 13, 80802
Munich.
2. Chang, E. and West, M. (2006), Digital Ecosystems: A Next Generation of Collaboration,
Environment for the Digital Networked Economy, integration and Web-based Application and
Services, 4 - 6 December 2006, Yogyakarta Indonesia.
3. Christian Gütl 1, Vanessa Chang (2008), “Ecosystem-based Theoretical Models for Learning in
Environments of the 21st Century”, iJET - Volume 3, Special Issue 3: "ICL2008".
4. G. Briscoe, P. De Wilde (2006), “Digital Ecosystems: Evolving Service-Oriented Architectures”,
In IEEE First International Conference on Bio Inspired mOdels of NETwork, Information and
Computing Systems (BIONETICS).
112
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
5. Gerard Briscoe, Alexandros Marinos (2009), “Digital ecosystems in the clouds: Towards
community cloud computing”, Conference: Digital Ecosystems and Technologies, DEST '09. 3rd
IEEE International Conference on , DOI:10.1109/DEST.2009.5276725.
6. Frielick, S. (2004), The zone of academic development: An ecological approach to learning and
teaching in higher education, Unpub. PhD Thesis, University of the Witwatersrand, Johannesburg.
7. Ficheman and de Deus Lopes (2008), “Digital Learning Ecosystems: Authoring, Collaboration,
Immersion and Mobility”, Eighth IEEE International Conference on Advanced Learning
Technologies, DOI: 10.1109/ICALT.2008.232
8. Joo Nagata, J., Humanante Ramos, P., Conde González, M. Á., García-Bermejo Giner, J. R., &
García-Palvo, F. J. (2014), “Comparison of the use of personal learning environments (PLE)
between students from Chile and Ecuador: An approach”, In F. J. García-Palvo (Ed.),
Proceedings of the Second International Conference on Technological Ecosystems for Enhancing
Multiculturality (TEEM 2014) (Salamanca, Spain, October 1-3, 2014). (pp. 75-80), New York,
NY, USA: ACM: ACM.
9. Lorna Uden, Ince T. Wangsa, Ernesto Damiani (2007), “The future of E-learning: E-Learning
ecosystem”, Conference: Digital EcoSystems and Technologies Conference, DEST '07. Inaugural
IEEE-IES, DOI: 10.1109/DEST.2007.371955.
10. Lombardo, Michael M; Eichinger, Robert W (1996), The Career Architect Development Planner
(1st ed.), Minneapolis: Lominger. p. iv. ISBN 0-9655712-1-1.
11. Terry Anderson, Jon Dron (2011), “Three Generations of Distance Education Pedagogy”,
International Review of Research in Open and Distance Learning 12(3),
DOI:10.19173/irrodl.v12i3.890
12. Quyết định số 749/QĐ-TTG ngày 3/6/2020 phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến
năm 2025, định hướng đến năm 2030.
A RESEARCH ON THE ECOSYSTEM OF LEARNING AND
CREATIVITY IN HIGH SCHOOLS
Abstract: The model of learning ecosystem and smart education ecosystem has been
researched in a number of localities in the country and in many parts of the world. Building
and developing a model of “learning and creativity ecosystem” to improve the quality of
comprehensive education at all levels in the general education curriculum, in which the
development of learning and creativity capacity of students is an urgent requirement to
meet the construction of a creative Hanoi. In this study, we refer to the creative learning
ecosystem based on the connectivism and the practice of building a creative learning
ecosystem in high schools, thereby proposing some solutions method to build an innovative
learning ecosystem for the development of the Capital.
Keywords: Innovative learning ecosystem, connectivism, creative city, high school, digital
transformation.