BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÀI THẢO LUẬN
LÝ
THUYẾT
CỦA
TRƯỜNG
PHÁI
TRỌNG
THƯƠNG VÀ VÍ DỤ VÀO CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM.
Giáo viên hướng dẫn : Vũ Việt Hùng
Nhóm
:3
Lớp học phần
: 2024RLCP0221
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………….………………….3
PHẦN NỘI DUNG
Phần 1: Cơ sở lí luận của trường phải trọng thương và ví dụ vào chính sách phát
triển thương mại quốc tế ở Việt Nam
I.
Hồn
cảnh
ra
đời
Trường
phái
Trọng
thương…………………………………...4
1.
Tiền đề xuất hiện
2.
Hệ quả
II.
Nội dung quan điểm kinh tế cơ bản của Trường phái Trọng thương…………...4
III.
Các
giai
đoạn
phát
triển
của
Trường
phái
Trọng
thương.
………………………..5
1.
Giai đoạn giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVI.
2.
Giai đoạn giữa thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII
IV.
Chủ nghĩa Trọng thương ở một số nước trên thế giới………………………..…5
1.
Chủ nghĩa Trọng thương ở Pháp
2.
Chủ nghĩa Trọng thương ở Anh
3.
Chủ nghĩa trọng thương ở Hà Lan
V.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của các lý thuyết kinh tế Trọng thương…………..6
Phần 2: Cơ sở thực tiễn
I.
Thực trạng kinh tế thị trường ở Việt Nam………………………………………6
1.
Nền kinh tế trước công cuộc đổi mới.
2.
Nền kinh tế sau khi đổi mới.
II.
Thực trạng chính sách thương mại quốc tế ở Việt Nam………………….……..8
1.
Khái niệm thương mại quốc tế
2.
Sử dụng lý thuyết kinh tế Trọng thương vào chính sách phát triển thương mại
3.
Hạn chế
III.
Ý nghĩa của chủ nghĩa Trọng thương đối với chính sách phát triển kinh tế ở
Việt Nam……………………………………………………………..…………….…12
PHẦN KẾT LUẬN………………………………………………………………..…13
PHẦN MỞ ĐẦU
“Phi thương bất phú” chẳng biết từ bao giờ xuất hiện trong xã hội hiện nay, nghĩa là
khơng bn bán thì khơng giàu. Đặc biệt, nó thể hiện trong “học thuyết trọng thương”
xuất hiện từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII. Trong đó với những lập luận rằng thương
mại đem lại thịnh vượng cho đất nước chính là đẩy mạnh xuất khẩu để thu lại vàng bạc
càng nhiều cho đất nước; coi tiền là nội dung căn bản của của cải, là tài sản thực sự
của quốc gia, coi hàng hóa là phương tiện làm tăng thêm khối lượng tiền tệ….Nhưng
do lịch sử phát triển nhân loại kết hợp cùng các yếu tố xã hội, khiến cho học thuyết
này dần dần lụi tàn. Học thuyết trọng thương ra đời còn nhiều hạn chế nhưng cũng đã
đưa ra những lý luận cơ bản tạo tiền đề phát triển cho sản xuất hàng hóa.
Việt Nam của chúng ta là một đất nước chịu thiệt hại nặng nề do chiến tranh, thương
mại không tăng (về cả nội thương lẫn ngoại thương). Do thời kỳ trước chúng ta đã trải
qua thời kỳ bao cấp, kìm hãm sự phát triển về mặt kinh tế. Tuy nhiên, Đảng và nhà
nước đã nhận thức được điều đó và thay đổi nền kinh tế sang kinh tế thị trường. Vì vậy
mà việc áp dụng một cách có chọn lọc những lý luận kinh tế Trọng thương sẽ giúp cho
sự hồi phục và phát triển kinh tế. Phát triển thương mại nhất là thương mại quốc tế, tạo
cho Việt Nam một thị trường năng động cạnh tranh phát triển, giao lưu, thu hút vốn
đầu tư nước ngoài .Để làm rõ cho những nội dung đó chúng em xin được trình bày về
đề tài : ‘‘Lý thuyết của trường phái trọng thương và ví dụ vào chính sách phát
triển thương mại quốc tế ở Việt Nam.”
PHẦN NỘI DUNG
Phần 1: Cơ sở lý luận
I .Hoàn cảnh ra đời của Trường phái Trọng thương.
1. Tiền đề xuất hiện.
- Hoàn cảnh ra đời: Chủ nghĩa Trọng thương là tư tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp
tư sản, ra đời trước hết ở Anh vào những năm 1450, phát triển tới giữa thế kỷ XVII và
sau đó bị suy đồi. Ra đời trong bối cảnh phương thức sản xuất phong kiến tan rã,
phương thức tư bản chủ nghĩa mới ra đời.
Về lịch sử: Thời kỳ tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản ngày càng tăng.
Về kinh tế: Kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển, thương nghiệp có ưu thế hơn sản
xuất, tầng lớp thương nhân tăng cường thế lực.
Về chính trị: Giai cấp tư sản lúc này mới ra đời, là giai cấp tiên tiến có cơ sở kinh tế
tương đối mạnh nhưng chính quyền vẫn nằm trong tay giai cấp quý tộc.
Về phương diện Khoa học Tự nhiên: những phát kiến lớn về mặt địa lý như:
Crixtop Colong tìm ra châu Mỹ, Vancodo Gama tìm ra đường sang Ấn Độ Dương,
…đã mở ra khả năng làm giàu nhanh chóng cho các nước phương Tây.
Về mặt tư tưởng triết học: Thời kỳ xuất hiện chủ nghĩa Trọng thương là thời kỳ
phục hưng, trong xã hội đề cao tư tưởng tư sản, chống lại tư tưởng đen tối của thời
kỳ trung cổ, chủ nghĩa duy vật chống lại thuyết giáo duy tâm của nhà thờ…
2. Hệ quả.
- Thúc đẩy buôn bán hàng hóa.
- Chiến tranh, bn bán người da đen.
- Thương nghiệp chi phối nông nghiệp, công nghiệp.
Nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, các nhà tư tưởng đã khái quát
thành học thuyết Trọng thương. Từ đó, chủ nghĩa Trọng thương xuất hiện.
II .Nội dung quan điểm kinh tế cơ bản của trường phái Trọng thương.
Tiền là tiêu chuẩn cơ bản của của cải.
Muốn quốc gia giàu có phải phát triển ngoại thương.
Nội thương - ống dẫn. ngoại thương – máy bơm.
Lợi nhuận do lĩnh vực lưu thông buôn bán, trao đổi sinh ra.
Đặc biệt đề cao vai trò của nhà nước.
III. Các giai đoạn phát triển của trường phái Trọng thương.
1. Giai đoạn giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVI.
- Đại biểu tiên tiến của thời kỳ này là: A Xeria (Ý) và W. Staford (Anh)
- Tư tưởng trung tâm của thời kỳ này là “bảng cân đối tiền tệ”
Đồng nhất tiền tệ với của cải, của cải là tiền tệ nói chung.
Đẩy mạnh xuất khẩu, thu nhiều tiền về.
Tập trung buôn bán vào những điểm dễ quản lý.
Cấm xuất khẩu tiền ra nước ngồi, quy định tỷ giá hối đối, khơng đổi cho người
nước ngoài lượng tiền vượt quá mức quy định.
Buộc người nước ngồi phải mua hết hàng hóa bằng số tiền bán được.
2. Giai đoạn giữa thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII.
-
Đại biểu tiêu biểu của thời kỳ này: Thomas Mun (1571 – 1641), người Anh;
Antoine Montcretien (1575 – 1621), người Pháp; J.Paptise Colbert, người Pháp.
- Thời kỳ này chủ nghĩa Trọng thương coi “cân đối thương nghiệp” là chính.
Đồng nhất tiền với của cải nhưng khơng phải tiền nói chung mà tiền thu được do
bán hàng dư thừa thông qua ngoại thương.
Đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu.
Đẩy mạnh buôn bán trung gian.
Cho phép lưu thơng tiển tệ tự do.
- Đóng góp: Thúc đẩy sản xuất và trao đổi hàng hóa.Thúc đẩy ra đời chủ nghĩa tư bản
nhanh chóng.Thốt khỏi những tư tưởng cổ truyền, coi trọng vai trị của nơng nghiệp
- Hạn chế: Sùng bái tiền tệ quá mức.Tuyệt đối hóa vai trị của thương mại (ngoại
thương) so với nơng nghiệp.
IV.Chủ nghĩa Trọng thương ở một số quốc gia trên thế giới.
1. Chủ nghĩa Trọng thương tại Anh
- Phát huy lợi thế hàng hải đẩy mạnh xuất khẩu.
- Lợi nhuận thu được dùng tái đầu tư vào sản xuất.
- Tự do lưu thông tiền tệ.
2. Chủ nghĩa Trọng thương tại Pháp
- Đẩy mạnh sản xuất xuất khẩu.
- Biện pháp: Lương tối đa, lãi suất tối thiểu; tăng lao động sản xuất kể cả tăng dân
số; tăng cường hỗ trợ tài chính; tăng thuế NN, giảm giá ngũ cốc.
- Hậu quả: nền NN và CN suy thoái (đặc biệt là NN)
3. Chủ nghĩa Trọng thương tại Hà Lan
- Chủ trương phát huy lợi thế hàng hải đẩy mạnh buôn bán trung gian, trở nên giàu có
nhất vào TK XVII.
- Hạn chế: lợi nhuận thu được không được đầu tư sản xuất nên thương mại suy kiệt.
V. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của các lý thuyết kinh tế Trọng thương.
- Muốn phát triển kinh tế, phải tích lũy được nhiều tiền.Sự giàu có khơng chỉ là giá trị
sử dụng mà cịn cả giá trị, là tiền tệ. Mục đích hoạt động của nền kinh tế hàng hóa là
lợi nhuận. Thương mại là khâu có tính chất quyết định để thực hiện giá trị hàng hóa,
thơng qua hoạt động ngoại thương để khai thác lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh của
các quốc gia. Các chính sách thuế quan bảo hộ làm phát triển các công trường thủ
công, sản xuất trong nước rút ngắn sự quá độ từ chủ nghĩa phong kiến sang chủ nghĩa
tư bản.
- Đặt nền móng cho vai trị của Nhà nước đối với nền kinh tế. Trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, phải mở cửa thị trường để đón nhận vốn, cơng nghệ, kinh nghiệm quản
lý của đầu tư nước ngoài. Trong kinh tế đối ngoại, cần vận dụng các tư tưởng “Bảng
cân đối tiền tệ”, “Bảng cân đối thương mại”, vận dụng tư tưởng hạn chế xuất khẩu
nguyên liệu thô trong việc đánh thuế xuất khẩu các hàng hóa là nguyên liệu như than,
khoáng sản … để nâng cao giá trị gia tăng, tạo thêm nhiều việc làm trong nước.
Phần 2: Cơ sở thực tiễn.
I .Thực trạng kinh tế thị trường ở Việt Nam
1. Nền kinh tế trước công cuộc đổi mới
Nền kinh tế vận hành trong khuôn khổ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp.
Những cải tiến theo hướng kinh tế thị trường chủ yếu ở cấp vi mơ, mang tính cục bộ,
khơng triệt để và thiếu đồng bộ, diễn ra trong khuôn khổ cơ chế kế hoạch hóa tập trung
và nhằm duy trì, củng cố hệ thống kinh tế cơng hữu, tập trung, bao cấp và đóng
cửa.Đây là giai đoạn nền kinh tế chịu đựng sự thống trị tuyệt đối của chế độ sở hữu
công cộng, vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung với các đặc trưng nổi bật là
quan liêu–bao cấp. Các quan hệ hàng hóa, tiền tệ, thị trường bị phủ nhận.Do tính kém
hiệu quả của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, dưới áp lực của thực tiễn, trong thời
kỳ cuối thập niên 1970, đầu thập niên 1980, trong nền kinh tế diễn ra những cải cách
cục bộ theo hướng bước đầu thừa nhận thị trường là một công cụ bổ sung cho kế
hoạch, chủ yếu để tổ chức hoạt động kinh doanh ở cấp vi mô. Thị trường không bị coi
là đối lập với chủ nghĩa xã hội và có thể chấp nhận được trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội.Trong những nhận thức lý luận, vẫn chưa thừa nhận những thay đổi mang
tính cấu trúc của nền kinh tế mà thiếu chúng, khơng thể có nền móng cho sự tồn tại và
phát triển của kinh tế thị trường, cụ thể: Trên thực tế, chưa thừa nhận tính tất yếu của
kinh tế đa thành phần, đa sở hữu, của sở hữu tư nhân và các lợi ích hợp pháp được
hưởng từ các quyền tài sản Không thừa nhận quyền tự chủ kinh doanh, tự chịu trách
nhiệm tài chính của doanh nghiệp.Nền kinh tế vận hành theo nguyên tắc “hiện vật”,
phủ nhận thị trường, giá cả và cạnh tranh thị trường.Tiếp tục duy trì mơ hình tự cung –
tự cấp kiểu Xô – viết, xây dựng nền kinh tế tự bảo đảm, ưu tiên phát triển công nghiệp
nặng, hướng nội, phụ thuộc vào nguồn tài trợ quốc tế (các nước xã hội chủ nghĩa).
- Hệ quả của những thay đổi cục bộ trong tư duy và thực tiễn trước đổi mới:
Nền kinh tế nhiều thành phần, đa sở hữu không được thừa nhận trên thực tế.
Cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu – bao cấp tiếp tục thống trị.
Thị trường bắt đầu có tác động tích cực nhưng rất hạn chế, khơng đóng vai trị điều
tiết các hoạt động của doanh nghiệp.
Nền kinh tế bị rối loạn, lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng.
Lực lượng sản xuất bị trói buộc, quan hệ sản xuất trở thành lực cản phát triển.
Tình thế khủng hoảng làm gia tăng áp lực đổi mới toàn diện cơ chế kinh tế.
2. Nền kinh tế sau đổi mới:
- Đại hội VI đột phá mạnh và căn bản trong tư duy lý luận bằng việc đề ra đổi mới
đường lối, trong đó, phê phán và từ bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, coi sản
xuất hàng hóa và kinh tế hàng hóa khơng phải là sản xuất riêng của chủ nghĩa tư bản,
thừa nhận sự “tồn tại khách quan của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước”
trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Khẳng định các yếu tố cấu thành cơ bản của
nền kinh tế hàng hóa trong giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Các thành phần kinh tế với các loại hình sở hữu khác nhau cùng tồn tại lâu dài,
trong đó, sở hữu tồn dân và tập thể là nền tảng, kinh tế quốc doanh đóng vai trị
chủ đạo.
Đổi mới khu vực doanh nghiệp nhà nước theo hướng tăng quyền tự chủ và tự chịu
trách nhiệm tài chính, chịu sự điều tiết ngày càng nhiều của thị trường.Tạo điều kiện
và khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
phi nhà nước, đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài trực tiếp và tăng cường hoạt
động của các doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam.
Thừa nhận cơ chế một giá do thị trường định đoạt đối với đại bộ phận hàng hóa và
dịch vụ. Từng bước áp dụng chế độ lãi suất và tỷ giá thị trường.Thừa nhận cạnh
tranh bình đẳng, giảm độc quyền và độc quyền trong kinh doanh. Xóa bỏ ngăn
sơng, cấm chợ, cho phép tự do giao lưu hàng hóa, thống nhất thị trường cả nước.
Chấp nhận tính chất chính đáng của động cơ lợi nhuận trong kinh doanh, thừa nhận
tính hợp pháp của thu nhập trong các quyền tài sản trong khi vẫn coi thu nhập từ lao
động là nguyên tắc chủ yếu.Giới hạn vai trị trực tiếp phân bổ nguồn lực thơng qua
đầu tư từ ngân sách nhà nước, tạo điều kiện để thị trường trở thành công cụ chủ yếu
phân bổ các nguồn lực.
- Mở cửa kinh tế và từng bước hội nhập kinh tế quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa
kinh tế với thế giới, chủ trương làm bạn với tất cả các nước, biến nền kinh tế nước ta
thành một bộ phần của nền kinh tế thế giới và khu vực.
Hệ quả: Tốc độ tăng trưởng kinh tế tuy vẫn “dương”, song bị sụt giảm kéo dài.
Nền kinh tế thiếu ổn định, vững chắc. Nhịp độ đổi mới cơ chế, thể chế kinh tế theo
hướng thị trường – mở cửa chậm lại. Chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế chậm được cải thiện. Nhiều điểm yếu về cơ cấu và cơ chế nghiêm
trọng được bộc lộ ngày càng rõ xu hướng cơ cấu ngành hướng nội, sử dụng nhiều vốn,
thiếu năng lực cạnh tranh gia tăng; hệ thống thế chế kinh tế thiếu đồng bộ.
II.Thực trạng chính sách thương mại quốc tế ở Việt Nam.
Ngày 11/1/2007 việt nam chính thức la thành viên 150 của tổ chức Thương Mại Thế
giới WTO. Đây là bước ngoặt lịch sử đánh dấu cột mốc lịch sử trong chính sách
thương mại cũng như đối với sự phát triển về kinh tế-xã hội Việt Nam.
1. Khái niệm thương mại quốc tế:
Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hố giữa các nước thơng qua bn
bán nhằm mục đích kinh tế tối đa. Trao đổi hàng hố là một hình thức của các mối
quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất
kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia. Thương mại quốc tế là một lĩnh vực
quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế,
phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước. Ngày nay, thương mại quốc tế không chỉ
mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào
phân cơng lao động quốc tế. Vì vậy, phải coi thương mại quốc tế như một tiền đề một
nhân tố phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự phân công
lao động và chun mơn hố quốc tế. Thương mại quốc tế một mặt phải khai thác
được mọi lợi thế tuyệt đối của đất nước phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ kinh
tế quốc tế, phải tính đến lợi thế tương đối có thể được theo quy luật chi phí cơ hội
2. Thực trạng chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
- Thuế quan: thuế là công cụ quan trọng và trực tiếp nhất trong điều chỉnh chính sách
thương mại quốc tế.
Sau khi gia nhập WTO Việt Nam cam kết ràng buộc toàn bộ biểu thuế nhập
khẩu hiện hành (10600 dòng thuế) giảm mức thuế bình qn từ 17,4%(2007) xuống
cịn 13,4% thực hiện trong vịng 5-7 năm, cam kết 21% đối sản phẩm nơng nghiệp và
12,6% đối với sản phẩm công nghiệp. Ngày 1/1/2015 mức thuế bình quân trong biểu
thuế nhập khẩu là 10,54%, thấp hơn 2.86% so với cam kết thực hiện về thuế.
Số dòng thuế cam kết giảm: khoảng 3.800 dòng thuế (chiếm 35,5% số dịng của
Biểu thuế); nhóm mặt hàng có cam kết cắt giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá
và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc thiết bị điện-điện tử, thịt (lợn,
bị), phụ phẩm.
Số dòng thuế giữ ở mức thuế hiện hành (cam kết khơng tăng thêm): khoảng
3.700 dịng (chiếm 34,5% số dịng của Biểu thuế).
Số dòng thuế ràng buộc theo mức thuế trần (cao hơn mức thuế suất hiện hành
với 3.170 dòng thuế (chiếm 30% số dòng của Biểu thuế), chủ yếu là đối với các nhóm
hàng như xăng dầu, kim loại, hố chất, một số phương tiện vận tải.
Thực hiện cam kết gia nhập WTO, biểu thuế nhập khẩu hàng hóa ưu đãi được
bộ Tài chính và Chính phủ ban hành hàng năm vào ngày 1/1 thì tính đến năm 2017 cơ
bản thì các mặt hàng đã được thực hiện cắt giảm tồn bộ theo cam kết ngoại trừ 13
dịng thuế có lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) từ năm 2017 đến 2019 là
các mặt hàng cá thuộc nhóm 03.03 (1 dịng), ơ tơ dưới 9 chỗ thuộc nhóm 87.03 (8
dịng) và ơ tơ tải thc nhóm 87.04 (4 dịng) .
Theo lộ trình cam kết giai đoạn 2016 -2020, phần lớn các hiệp định thương mại
tự do mà Việt Nam tham gia đều bước sang giai đoạn cắt giảm sâu, xóa bỏ hàng rào
thuế quan đối với phần lớn các dòng thuế trong biểu thuế nhập khẩu. Trong đó: Xét về
mức độ cam kết, hầu hết các FTA mà Việt Nam đã ký kết thì mức độ tự do hóa về thuế
nhập khẩu trung bình khoảng 90% số dịng thuế, trừ Hiệp định ASEAN (ATIGA) là
Hiệp định nội khối với mức cam kết tự do hóa xấp xỉ 97%.
Xét về lộ trình, FTA hồn thành lộ trình sớm nhất là ATIGA (2018), tiếp đó là
ACFTA (2020) và AKFTA (2021). Hiện nay, mức độ tự do hóa thuế quan của Việt
Nam với các đối tác FTA đã ở mức khá cao: Trong ATIGA đạt khoảng 93%, ASEAN
- Trung Quốc 84% số dòng thuế về 0%, ASEAN - Hàn Quốc 78% và ASEAN - Nhật
Bản 62%. Cam kết về thuế nhập khẩu trong 2 khuôn khổ FTA thế hệ mới là TPP và
Việt Nam - EU có tỉ lệ tự do hóa cao hơn với lộ trình ngắn hơn, hướng tới cam kết xóa
bỏ thuế quan đối với 100% số dịng thuế, cụ thể như sau:
Với EU, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực
với 48,5% số dòng thuế, tương đương 64,5% kim ngạch nhập khẩu từ EU và sau 10
năm là khoảng 99% số dòng thuế, tương đương 99,8% kim ngạch nhập khẩu từ EU.
Đối với số dòng thuế còn lại, Việt Nam sẽ có lộ trình trên 10 năm hoặc dành ưu đãi
cho EU trên cơ sở hạn ngạnh thuế quan của WTO. Trong CPTPP, Việt Nam cam kết
xóa bỏ thuế đối với khoảng 66% số dịng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và xóa
bỏ đối với 86,5% số dịng thuế sau 3 năm Hiệp định có hiệu lực. Các mặt hàng cịn lại
sẽ có lộ trình giảm thuế cơ bản từ 4 -10 năm. Một số mặt hàng đặc biệt nhạy cảm, Việt
Nam cam kết lộ trình trên 10 năm hoặc hạn ngạch thuế quan.
- Hạn ngạch:
Được áp dụng đối với 4 nhóm hàng: trứng, đường, thuốc lá lá, muối (mức thuế
trong hạn ngạch tương đương mức thuế MFN hiện hành trứng 40%, đường thô 25%,
đường tinh 50-60%, thuốc lá lá 30%, muối ăn 30%), thấp hơn nhiều so với mức thuế
ngồi hạn ngạch.
Mức cắt giảm thuế khơng đều giữa các lĩnh vực: thuế thấp đối với vật tư nông
nghiệp (giống nguyên liệu chế biến, thức ăn) là 0-10%; thuế trung bình 15-30% với
các sản phẩm nơng sản tươi (rau quả, sữa, thịt); và thuế cao (40-50%) đến rất cao (60100%) đối với sản phẩm chế biến (thịt, cà phê tan, rượu-bia, thuốc lá, nước giải khát.
Với mức cắt giảm như vậy, đối tượng được bảo vệ là ngành công nghiệp chế biến hơn
là nông dân.
- Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: Ðể bảo đảm cho việc tuân thủ Thỏa ước
TBT (hàng rào kĩ thuật thương mại) của tổ chức thương mại thế giới WTO, vào tháng
6 năm 2006, Việt Nam đã ban hành Luật về Tiêu chuẩn và Quy định Kỹ thuật bao gồm
tất cả các tiêu chuẩn ghi trong các văn bản pháp luật hiện hành như Quy định về Ðo
lường, Phẩm chất Thực phẩm, Vệ sinh và An toàn Thực phẩm, Bảo vệ Thực vật, Thú
y, và Bảo vệ Giới Tiêu thụ. Việt Nam cũng thực thi nhiều chương trình để dung hòa
(harmonize) tiêu chuẩn quốc gia với tiêu chuẩn quốc tế. Tính đến cuối năm 2004, Việt
Nam có trên 5.800 tiêu chuẩn, khoảng 1.450 tiêu chuẩn dịch thẳng và khoảng 4.350
nháy theo tiêu chuẩn quốc tế hoặc của các quốc gia trong vùng. Ngoại trừ 231 tiêu
chuẩn bắt buộc, việc áp dụng tiêu chuẩn có tính cách tự nguyện (voluntary). Các tiêu
chuẩn bắt buộc và những quy định kỹ thuật được áp dụng tại Việt Nam có thể đặt mua
ở Trung tâm Thông tin Tiêu chuẩn Ðo lường Chất lượng trực thuộc Tổng cục Tiêu
chuẩn Ðo lường Chất lượng (STAMEQ).
- Hạn chế xuất khẩu: Việt Nam vẫn duy trì việc kiểm soát xuất khẩu trên một số mặt
hàng như gạo,một số sản phẩm gỗ và khoáng chất ( nhằm ngăn chặn việc khai thác bất
hợp pháp) nhưng phải phù hợp với các hiệp định của WTO.
- Trợ cấp xuất khẩu: Việt Nam đang từng bước thực hiện những cam kết về trợ cấp
xuất khẩu khi gia nhập WTO: Việt Nam đã cam kết xóa bỏ hồn tồn trợ cấp bị Hiệp
định SCM cấm kể từ khi gia nhập, chỉ bảo lưu năm năm cho các ưu đãi đầu tư sản xuất
hàng xuất khẩu (ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất...) đã cấp cho các dự
án từ trước ngày gia nhập WTO (nhưng không bao gồm các dự án dệt-may). Các hình
thức hỗ trợ khác cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, nếu không gắn với xuất
khẩu hoặc khuyến khích thay thế hàng nhập khẩu, vẫn tiếp tục được duy
- Các quy định về chống bán phá giá: Hiện Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua
Pháp lệnh về các biện pháp tự vệ ngày 25/5/2002, Pháp lệnh số 20/2004/PLUBTVQH11 về “chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam” ngày
29/4/2004 và Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11 “về các biện pháp chống trợ cấp
hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam” ngày 20/8/2004. Trong quá trình đàm phán gia
nhập WTO, đại diện của Việt Nam công nhận rằng Việt Nam cần phải xây dựng khuôn
khổ pháp luật, thể chế phù hợp để thực thi các quy định về các biện pháp chống bán
phá giá và các biện pháp đối kháng. Các quy định mới của Việt Nam sẽ tuân thủ hoàn
toàn Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng và Hiệp định Chống bán phá giá
của WTO.
3. Hạn chế
- Thị trường Việt Nam còn khá nhiều bấp bênh.
- Những chính sách của chính phủ cịn có nhiều hạn chế.
- Sản phẩm nội địa của Việt Nam chất lượng còn thấp, sức cạnh tranh yếu, hàm lượng
khoa học thấp nên thiêt thịi so với hàng hóa nhập khẩu.
- Cơng tác quản lí hoạt động xuất nhập khẩu cịn chưa đồng bộ, nhất quán, có khi
lỏng lẻo, dễ dãi.
- Tình trạng bn lậu, gian lận thương mại cịn diễn ra phổ biến và mạnh mẽ.
III. Ý nghĩa chủ nghĩa Trọng thương đối với sự phát triển ở Việt Nam
1. Vai trị của chính sách thương mại quốc tế:
- Chính sách thương mại quốc tế là một bộ phận của chính sách kinh tế của Nhà nước,
quan hệ mật thiết và phục vụ cho sự phát triển kinh tế của đất nước; tác động đến quá
trình tái sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quy mô và phương pháp tham gia của
nền kinh tế đất nước vào phân công lao động quốc tế và thương mại quốc tế.Có vai trị
to lớn trong cơng cuộc khai thác triệt để lợi thế sơ sánh nền kinh tế trong nước, phát
triển các ngành sản xuất và dịch vụ đến quy mô tối ưu, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng
kinh tế và nâng cao hiệu quả của các hoạt động kinh tế. Nỗ lực gia tăng tốc độ tăng
trưởng xuất khẩu, tạo công ăn việc làm, thu ngoại tê, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu
theo hướng năng cao giá trị, gia tắng sản phẩm chế biến và chế tạo các sản phẩm có
hàm lượng công nghệ cao và chất sám cao, thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ.
- Về nhập khẩu, chú trọng thiết bị nguyên vật liệu phục vụ sản xuất nhất là công nghệ
tiên tiến bảo đảm cán cân thương mại. Mở rộng thị trường và đa dạng hóa thị trường ,
phương thức kinh doanh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Kim ngạch, tốc độ tăng xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại trong 10
tháng tính từ đầu năm, giai đoạn 2011-2019.
- Thương mại quốc tế là một bộ phận của thương mại cho nên trước hết nó là mục tiêu
lợi nhuận của doanh nghiệp. Thông qua thương mại quốc tế các doanh nghiệp có thể
tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình.Thương mại quốc tế giúp cho quá trình
sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp diễn ra bình thường và nâng cao vị thế của doanh
nghiệp, tạo thế và lực cho doanh nghiệp không những ở thị trường quốc tế mà cả thị
trường trong nước thơng qua việc mua bán hàng hố ở thị trường trong và ngoài nước,
cũng như việc mở rộng các quan hệ bạn hàng. Thương mại quốc tế có vai trò điều tiết,
hướng dẫn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2. Vai trò của chủ nghĩa Trọng thương:
- Trong thực trạng kinh tế nước ta hiện nay, việc phát triển thương nghiệp vẫn cịn có
thể vận dụng những tư tưởng kinh tế của Chủ nghĩa trọng thương vì nền kinh tế nước
ta hiện nay là nền kinh tế hàng hoá, mở cửa và hội nhập với kinh tế thế giới, phải phát
triển thương mại, đặc biệt là ngoại thương để tiêu thụ hàng hoá nhằm thực hiện giá trị
và giá trị thặng dư trong hàng hóa để tích luỹ tiền tệ và để tranh thủ các nguồn lực từ
nước ngồi nhất là vốn và cơng nghệ tiên tiến của các nước đi trước góp phần vào q
trình cơng nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu
nhập.. Tuy nhiên, việc nắm bắt và nhận thức những tư tưởng đó phải có chọn lọc, phù
hợp với lịch sử và tình hình thực tế cũng như tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển
góp phần thực hiện thành cơng sự nghiệp cơng nghiệp hố - hiện đại hố đất nước.
Tính đến nay, sau hơn 20 năm đổi mới đất nước ta đã thu được nhiều thành tựu kinh tế
quan trọng, chứng tỏ quan điểm trọng thương cũn đúng đắn đối với Việt Nam trong
tình hình hiện nay, phải có giao lưu với nước ngồi mới có điều kiện sản xuất trong
nước, tăng tích lũy vốn để đầu tư tái sản xuất. Trong quán trình hội nhập hóa tồn cầu
hiện này, việc phát triển thương mại là rất cần thiết đối với đất nước chúng. Đó là
phương thức để phát huy lợi thế của nền kinh tế, còn là cầu nối giữa các nguồn lực
trong và ngoài nước, tạo điều kiện cho sự phát triển nhanh nền kinh tế của mỗi quốc
gia. Trong điều kiện nước ta hiện nay, những tư tưởng kinh tế của chủ nghĩa trọng
thương vẫn cịn có ý nghĩa, điều này được thể hiện rõ nét trong việc chú trọng phát
triển thương nghiệp (bao gồm nội thương và ngoại thương) nhằm tạo tiềm lực về vốn
cho q trình cơng nghiệp hố - hiện đại hóa đất nước, xây dựng thành cơng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tuy vậy, việc vận dụng tư
tưởng kinh tế của chủ nghĩa trọng thương phải được kết hợp chặt chẽ với các chính
sách kinh tế vĩ mơ của nhà nước nhằm đảm bảo cho sự phát triển ổn định của nền kinh
tế đất nước.
PHẦN KẾT LUẬN
Kết lại, học thuyết kinh tế trọng thương là những lý luận đầu tiên của hệ thướng tư
tưởng tư sản trong lĩnh vực kinh tế, phản ánh một cách chân thực về sự đi lên của giai
cấp tư sản đang được hình thành. Những chính sách kinh tế này đẩy mạnh phát triển
ngoại thương, trọ giúp tài chính,…nhờ đó thúc đẩy sản xuất và trao đổi hàng hóa, thoát
khỏi những tư tưởng cổ truyền, tạo nguồn lực tài chính vững chắc để ra đời chủ nghĩa
tư bản nhanh chóng. Tuy nhiên, vẫn có những điểm sai lầm trong học thuyết dẫn đến
việc sùng bái tiền tệ quá mức, tuyệt đối hóa vai trị của thương mại (ngoại thương) so
với công nghiệp và nông nghiệp khiến xảy ra những mâu thuẫn trong tầng lớp xã hội,
việc sản xuất nông nghiệp trở nên khó khăn.
Đối với Việt Nam ta, việc áp dụng linh hoạt học thuyết kinh tế trọng thương này
bước đầu góp phần xây dựng lại nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của thương mại,
đặc biệt là các doanh nghiệp tiềm này, phát triển kinh tế không chỉ ở trong nước mà
cịn quốc tế. Với những chính sách phát triển thương mại quốc tế là đã điều kiện cho
các doanh nghiệp phát triển, đời sống nhân dân qua đó mà ngày càng cải thiện hơn
nữa. Ngồi ra, Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức giúp đẩy mạnh giao
lưu kinh tế, đồng thời thúc đẩy các ngành sản xuất trong nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Số liệu từ tổng cục thống kê Việt Nam.
2. Số liệu của bộ tài chính.