A. PhầN mở đầu
1. Lý do chn ti
Ngy nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, các
phương tiện truyền thông đại chúng đã thực sự khẳng định được vai trị, vị trí
của mình là nhánh “quyền lực thứ tư” chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội. Với rất nhiều loại hình phong phú, đa dạng, có thể nói các phương tiện
của truyền thông đại chúng đã và đang trở thành một hệ thống truyền thông
được tổ chức chuyên nghiệp, quy mô và đồ sộ. Sách báo, tạp chí, phát thanh,
truyền hình, mạng internet... khiến cơng chúng có thể cập nhật thơng tin mọi
lúc, mọi nơi. Tất cả những sự việc diễn ra ở các quốc gia trên thế giới đều
được đăng tải, cơng bố ngay lập tức. Khơng q khi nói rằng các phương tiện
truyền thông đại chúng đã thật sự chứng tỏ sức mạnh cũng như quyền năng
của mình trong quá trình tham gia, và tác động vào những biến đổi của đời
sống xã hội.
Truyền hình là một trong những nhân tố quan trọng trong các phương
tiện của truyền thông đại chúng. Với sự phát triển của khoa học công nghệ,
hiện nay rất nhiều loại hình truyền hình đã ra đời: truyền hình kỹ thuật số,
truyền hình cáp, truyền hình di động... tất cả đều góp phần làm diện mạo của
ngành truyền hình phát triển, trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu
đối với đời sống con người hôm nay. Tuy nhiên, một thực tế cho thấy tình
trạng “trăm hoa đua nở”, nhà nhà xem truyền hình, người người làm truyền
hình đã khiến cho chất lượng của các chương trình truyền hình chưa thật sự
đáp ứng được nhu cầu của đông đảo công chúng. Các thông tin cũng như các
sự kiện được đăng tải, phân tích, bình luận nhiều khi cịn khiến cơng chúng bị
“ngợp” và “rối”. Đặc biệt, một lượng lớn công chúng là giới trẻ, những người
đang rất muốn cởi mở và hội nhập vào thế giới thơng tin thì lại chưa được
quan tâm, chú ý. Đáp ứng nhu cầu bức thiết này, rất nhiều các chương trình
truyền hình đã ra đời để nhằm cung cấp một cách đầy đủ nhất các thông tin
1
cần thiết cho thế hệ trẻ hôm nay, định hướng thông tin cho họ một cách đúng
đắn nhất. “Thư viện cuộc sống”, “Đối thoại trẻ” trên kênh thông tin dành cho
giới trẻ - VTV6 Đài truyền hình dành cho giới trẻ của Đài truyền hình Việt
Nam là một trong số ít những chương trình làm được điều này. Là hai trong
bảy chương trình truyền hình mang tính chính luận của kênh, “Thư viện cuộc
sống”. “Đối thoại trẻ” không chỉ cung cấp những thơng tin hữu ích có liên
quan đến giới trẻ mà còn mang đến cho người xem rất nhiều kiến thức bổ ích
về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội có liên quan đến giới trẻ. Bên cạnh hai
chương trình này có thể nói đến chương trình “Sự kiện và bình luận” được
phát sóng trên kênh VTV1, đây cũng là một chương trình vơ cùng có ý nghĩa
và cần thiết đối với lớp trẻ hiện nay. Chương trình sẽ cho các các bạn trẻ có
thêm nhiều cách nhìn nhận, đánh giá sâu sắc về các vấn đề không chỉ của Việt
Nam mà cả của thế giới. Tuy nhiên, để có thể làm tốt được những điều này
khơng hề đơn giản. Những người làm chương trình ln ln phải cố gắng,
có những điều chỉnh hợp lý sao cho đạt được chất lượng cao nhất. Một trong
những điều làm nên thành cơng cho các chương trình này đó là chun mục
Phỏng vấn khách mời trường quay. Hãy cùng nghiên cứu Kỹ năng phỏng
vấn khách mời trường quay (Qua khảo sát chương trình “Thư viện cuộc
sống”, “ Đối thoại trẻ” và “Sự kiện - bình luận” – Đài truyền hình Việt
Nam) để làm rõ hơn những lý luận về phỏng vấn khách mời - một trong
những kỹ năng quan trọng của người làm truyền hình và khảo sát nó trong
thực tiễn chương trình, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng các chương trình phỏng vấn trên truyền hình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vấn đề phỏng vấn khách mời nói chung và khách mời
trong các chương trình truyền hình nói riêng, cho đến nay đã có các cơng
trình nghiên cứu như:
2
* Các tác giả nước ngoài:
Sally Adam – Wynford Hicks (2007): “Kỹ năng phỏng vấn dành cho
các nhà báo”, NXB Thơng tấn, Hà Nội. Trong tác phẩm của mình, hai tác giả
Sally và Wynford đã nêu ra và phân tích các kỹ năng cơ bản nhất đối với các
nhà báo khi phỏng vấn.
Samy Cohen (2003): “Nghệ thuật phỏng vấn các nhà lãnh đạo”, NXB
Thông tấn. Tác giả đã đưa ra từng bước để tiến hành một cuộc phỏng vấn và
khẳng định đó khơng chỉ đơn thuần là một cuộc hỏi đáp mà nó phải được
nâng nên thành nghệ thuật.
Ngồi ra có thể kể đến: Maria Lukina (2004), “Cơng nghệ phỏng vấn”,
Makxim Kunhesop và Irop Swkunop (2004) “Cách điều khiển cuộc phỏng
vấn”; Eric Fikhhtelius (2002) với “Mười bí quyết kỹ năng nghề báo”, Neil
Everton (1999): “Sổ tay phóng viên”...
* Các tác giả trong nước:
Nguyễn Văn Dững và Hoàng Anh (biên dịch, 1998): “Nhà báo – bí
quyết kỹ năng nghề nghiệp”, các tác giả đã trình bày các bí quyết, kỹ năng cơ
bản nhất mà nhà báo cần có, trong đó khơng thể khơng nói đến kỹ năng
phỏng vấn.
Trần Bảo Khánh (2003): “Sản xuất chương trình truyền hình”, với
cơng trình này tác giả Trần Bảo Khánh đã trình bày các quy trình để sản xuất
một chương trình truyền hình cũng như các nhân tố tham gia vào chương
trình.
Liên quan đến đề tài cũng có các cơng trình của các tác giả: Nguyễn
Văn Dững, Hoàng Anh, Nguyễn Ngọc Oanh (biên dịch, 2002), “10 bí quyết
kỹ năng nhà báo”; Đinh Văn Hường (2006): Các thể loại báo chí thơng tấn,
Khoa Báo chí- Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội: Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn....
Với nhiều cách tiếp cận và đánh giá vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau,
các cơng trình này đã phần nào đề cập đến kỹ năng phỏng vấn nói chung –
3
đây chính là nguồn tài liệu quan trọng cho tác giả khi tìm hiểu kỹ năng phỏng
vấn khách mời trường quay trong các chương trình truyền hình.
Việc nghiên cứu Kỹ năng phỏng vấn khách mời trường quay không
phải là vấn đề mới, song với việc khảo sát kỹ năng này trong một số chương
trình cụ thể - chương trình “Thư viện cuộc sống” , “ Đối thoại trẻ” trên kênh
VTV6, “ Sự kiện bình luận” trên kênh VTV1 – Đài truyền hình Việt Nam tác
giả muốn một lần nữa tìm hiểu một cách sâu sắc về kỹ năng phỏng vấn khách
mời trường quay và đưa ra những giải pháp cần thiết cho việc nâng cao hiệu
quả, chất lượng các cuộc phỏng vấn trong các chương trình truyền hình.
3. Mục đích, Nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
- Tìm hiểu kỹ năng phỏng vấn khách mời trong chương trình “Thư viện
cuộc sống”, “Đối thoại trẻ”, “Sự kiện và bình luận”
- Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng phỏng vấn
truyền hình và đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng các chương trình
phỏng vấn truyền hình
* Nhiệm vụ
- Làm rõ các vấn đề lý luận về khái niệm, vai trị, phương pháp.. phỏng
vấn truyền hình.
- Khảo sát các kỹ năng phỏng vấn khách mời trường quay trong ba
chương trình “Thư viện cuộc sống”, “Đối thoại trẻ”, “Sự kiện và bình luận”.
- Đưa ra những giải pháp nằm nâng cao chất lượng các chương trình
phỏng vấn truyền hình.
4. Đối tượng, Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kỹ năng phỏng vấn khách mời
trường quay trong các chương trình “Thư viện cuộc sống”, “ Đối thoại trẻ”
được phát sóng trên kênh VTV6 và “ Sự kiện bình luận” phát sóng trên kênh
VTV1 của Đài truyền hình Việt Nam
4
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung khảo sát một số chương
trình tiêu biểu, phát sóng trong thời gian gần đây của các chuyên mục.
5. Phương pháp nghiên cứu
-
Đề tài sử dụng cơ sở lý luận và phương pháp luận của khoa học
hiện đại kết hợp với khảo sát chương trình thực tế.
-
Sử dụng một số phương pháp chuyên ngành và liên ngành như
phân tích, so sánh, logic và lịch sử.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung
của đề tài được kết cấu thành 3 chương.
Chương 1: Một số vấn đề về kĩ năng phỏng vấn và khách mời trường quay
Chương 2: Khảo sát kĩ năng phỏng vấn khách mời trường quay
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng phỏng vấn khách mời trường
quay
5
Ch¬ng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KĨ NĂNG PHỎNG VẤN VÀ
KHÁCH MỜI TRƯỜNG QUAY
1.1.
Phỏng vấn truyền hình và kỹ năng phỏng vấn truyền hình
1.1.1. Thể loại phỏng vấn truyền hình
Trong Tiếng Anh, phỏng vấn được dịch là interview. Trong đó, inter có
nghĩa là trao đổi, liên kết; view là quan điểm, chứng kiến. Nội hàm của phỏng
vấn được hiểu là trao đổi, trị chuyện về vấn đề nào đó giữa người này với
người kia bằng hình thức trao đổi trực tiếp hoặc gián tiếp.
Phỏng vấn cũng là một từ Hán Việt, phỏng là thăm hỏi, điều tra, vấn là
hỏi. Theo đó, phỏng vấn có nghĩa là một hoạt động dưới hình thức trị chuyện
nhằm tìm hiểu, điều tra về một vấn đề nào đó giữa người này với người khác.
Báo chí học cũng đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về phỏng vấn:
Bách khoa toàn thư cho rằng: “Phỏng vấn là một kiểu thơng tin trình
bày thơng qua nhà báo dưới hình thức đàm thoại giới hạn ở một chủ đề nhất
định với một nhân vật có thẩm quyền trong lĩnh vực được đề cập. Vai trò tổ
chức của nhà báo trong cuộc phỏng vấn đem lại thơng tin tính chất trực tiếp,
sinh động và đáng tin cậy của nó”. [10]
Từ điển Từ và ngữ Việt Nam định nghĩa: “Phỏng vấn là hỏi một nhân
vật để biết ý kiến của người ấy về một vấn đề”. [9]
Trong cuốn “Sổ tay phóng viên”, các nhà báo nước ngồi cho rằng: “
Phỏng vấn là một hình thức đối ngoại trong đó nhà báo nêu các câu hỏi và
người được phỏng vấn trả lời. Mục đích của bài phỏng vấn là đem lại cho bạn
đọc những thông tin và lý lẽ về một vấn đề thời sự do một nhân vật am hiểu,
có thẩm quyền cung cấp”. [4]
Nhà báo Pháp Alain Masson đã đưa ra quan niệm : “ Phỏng vấn là hành
động của một nhà báo, đi hỏi một người nổi tiếng hoặc tiêu biểu để người này
nói ra những thơng tin, giải thích, nêu ý kiến, chỉ có giá trị nếu do chính
6
người này nói ra và kể lại cho một nhóm cơng chúng được xác định, thường
bằng lời nói trực tiếp”.
Nhà báo Eric Maitrot đã nêu quan điểm của mình rằng: “ Phỏng vấn là
một cuộc đấu trí đặc biệt giữa một người biết ( người bị phỏng vấn ) và một
người muốn biết ( phóng viên)”.
Nhà báo Tế Xuyên- Trung Quốc lại cho rằng : “ Phỏng vấn là hỏi ý
kiến của một người về một vấn đề để giúp độc giả hiểu rõ hơn một sự việc đã
xảy ra. Đó là cách bổ khuyết cho thời sự, độc giả khi đã biết được một sự
việc, lại còn được nghe thêm ý kiến của phe phản đối hay phe tán thành việc
ấy”.
Khái niệm, định nghĩa về phỏng vấn sẽ còn gây nhiều tranh luận, tuy
nhiên, điều này cũng cho thấy rằng khái niệm về phỏng vấn là một khái niệm
mở, có thể thay đổi phù hợp với tình hình phát triển của bản thân thể loại, của
báo chí và sự sáng tạo của nhà báo. Những quan niệm trên đây được hình
thành qua năm tháng, trong cơng cuộc tìm kiếm cả về lý luận lẫn thực tiễn. Sự
tổng hợp những quan niệm, khái niệm đó chứng tỏ phỏng vấn là một thuật
ngữ rộng, có thể hiểu theo các khía cạnh sau:
- Phỏng vấn là hình thức giao tiếp xã hội ( trực tiếp hoặc gián tiếp) giữa
người này với người khác về một vấn đề mà hai bên cùng quan tâm.
Hình thức này xảy ra trong cuộc sống thường ngày rất phong phú, đa
dạng và phức tạp.
- Phỏng vấn là một phương pháp , phương thức nhằm thu thập bất cứ
thông tin nào mà con người cần về các lĩnh vực khác nhau của đời sống
xã hội. Trong lao động báo chí, phỏng vấn cũng là phương pháp để hỏi,
biết, thu thập thông tin, tư liệu, số liệu… nhằm phục vụ cho việc viết
tin, phóng sự, điều tra, ký…
- Phỏng vấn như một thể loại báo chí độc lập, là đối tượng nghiên cứu
của lý luận và khoa học báo chí, đồng thời là một tác phẩm phổ biến,
hiệu quả trong hoạt động thực tiễn của báo chí.
7
Những quan điểm đa dạng về phỏng vấn xuất hiện là kết quả nguyện
vọng của các nhà nghiên cứu muốn khái qt hóa và phân tích phương thức
phổ biến và hiệu quả về thu thập thông tin, nhưng họ hầu như khơng thay đổi
được gì mối quan hệ giữa nhà báo và cuộc phỏng vấn. Dù là hình thức phỏng
vấn nào, từ trò chuyện, họp báo, đối thoại đến thăm dị ý kiến trên đường phố,
thì mục đích cuối cùng cũng là phục vụ cho nghề nghiệp. Tùy vào việc phỏng
vấn xuất hiện trên phương tiện thông tin đại chúng nào, mà nó có những hình
thức thể hiện và sức hấp dẫn riêng của mình.
Hiện nay, truyền hình hiện đại ngày càng sử dụng nhiều các phỏng vấn
trong chương trình. Do lợi thế về cả âm thanh và hình ảnh, nên phỏng vấn
trên truyền hình có được sức hấp dẫn hơn so với trên các phương tiện truyền
thông khác. Thông tin đưa đến cho khán giả không chỉ nằm trong lời nói ( câu
hỏi và câu trả lời), mà cịn biểu hiện qua hình ảnh ( bối cảnh, trạng thái cảm
xúc, cử chỉ, động tác…). Khán giả được theo dõi cuộc phỏng vấn gần như “
trực tiếp”, không phải thông qua lời kể hay bất cứ hình thức thuật lại gián tiếp
nào khác.
Một số dạng phỏng vấn truyền hình thường gặp là:
- Phỏng vấn chính thức: là dạng phỏng vấn được thực hiện giữa phóng
viên với một nhân vật có thẩm quyền. Mục đích là nhằm cơng bố
những thơng tin bày tỏ quan điểm, nhận định, đánh giá cảu người trả
lời phỏng vấn về một vấn đề, một sự kiện chính trị nào đó. Người trả
lời phỏng vấn thường là các nhà lãnh đạo, các nhà ngoại giao… Câu trả
lời mang tính chất đại diện cho một cơ quan, tổ chức, mang tính chất
như một lời tuyên bố, khẳng định nên ngơn ngữ trang trọng, chính
thức, mang phong cách ngoại giao.
- Phỏng vấn thời sự: đây là dạng phỏng vấn được dùng phổ biến, nhằm
khai thác thông tin về một sự kiện, vấn đề cấp bách. Người trả lời
phỏng vấn có thể là người có thẩm quyền, người trong cuộc hoặc là
chứng kiện sự việc. Câu trả lời thể hiện quan điểm, thái độ của tổ chức
8
mà người đó đại diện, cũng có thể là của chính cá nhân người đó,
nhưng khơng mang tính tun bố. Ngôn ngữ giản dị, gần với cuộc sống
thường ngày.
- Phỏng vấn điều tra: phỏng vấn thực hiện trên cơ sở từ những vấn đề
đang có nhiều ý kiến trái chiều, có mâu thuẫn gay gắt, hay hiện tượng
tiêu cực… đang thu hút được sự quan tâm, chú ý của xã hội. Để thực
hiện được phỏng vấn này , đòi hỏi ở phóng viên sự khách quan, hiểu
biết và bản lĩnh. Có như vậy, họ mới đưa ra được những câu hỏi linh
hoạt, sâu sắc, và khía vào nhiều góc cạnh. Ngôn ngữ sử dụng trong
phỏng vấn phải sắc bén. Câu hỏi đưa ra phải rõ rang, cách hỏi phải thật
khôn khéo, và phóng viên cần giữ một thái độ bình tĩnh trong suốt cuộc
phỏng vấn. Để thực hiện thành công dạng phỏng vấn này, ngồi những
yếu tố trên, phóng viên cần phải tìm hiểu, thu thập, sưu tầm các tài liệu,
văn bản có liên quan đến vấn đề đang đề cập đến. Từ đó, phóng viên có
thể đưa ra quan điểm của mình, tranh luận một cách đúng mực, nhằm
phân định vấn đề đúng – sai, nêu ra mâu thuẫn cần giải quyết sau cuộc
phóng vấn.
- Phỏng vấn ý kiến: phỏng vấn nhằm thu thập ý kiến, đánh giá chủ quan
của cá nhân người trả lời về một vấn đề, thường đó là vấn đề gây nhiều
tranh cãi. Do vị trí, uy tín cơng việc của người trả lời, mà khán giả rất
muốn biết ý kiến đánh giá của họ về sự kiện, vấn đề nào đó.
- Phỏng vấn chân dung: đây là dạng phỏng vấn mà người được phỏng
vấn tự khắc họa được tính cách thơng qua các câu hỏi của phóng viên.
Thơng thường, phỏng vấn này được dùng để khắc họa chân dung các
nghệ sĩ, nhà văn, nhà khoa học… nổi tiếng. Do tính chất cởi mở của
dạng phỏng vấn, nên câu hỏi cởi mở, phong phú, có nhiều câu hỏi phụ,
khơng bị gị bó trong khn mẫu.
- Phỏng vấn anket: thực chất của dạng phỏng vấn này là phỏng vấn bằng
bảng hỏi. Phỏng vấn này được sử dụng nhiều trong xã hội học. Trong
9
truyền hình, phóng viên sẽ đưa ra cùng một bộ câu hỏi để phóng vấn
nhiều người. Sau đó, họ sẽ tổng hợp các phỏng vấn đó, lấy được ý kiến
chung của một nhóm người hay của dư luận xã hội. Câu hỏi sử dụng
trong phỏng vấn anket cần ngắn gọn và khoa học.
* Thể loại phỏng vấn
Xét về mặt thể loại, phỏng vấn là cuộc hỏi chuyện của nhà báo đối với
một hoặc một số cá nhân nắm giữ thông tin có giá trị về mặt xã hội được tiến
hành với mục đích đăng tải lên các phương tiện truyền thơng. Trong báo chí,
phỏng vấn khơng phải là thể loại duy nhất được sử dụng khai thác thông tin,
nhà báo có thể sử dụng một vài thể loại khác như “ Đàm luận”, “Họp báo”,
“Phát biểu”… Nhìn chung, giữa những thể loại này có nhiều đặc điểm chung
nhưng có thể nhận dạng và phân loại chúng thông qua một vài đặc trưng
riêng. Thể loại nào cũng có ưu thế của nó trong việc khai thác và sử dụng
thơng tin nhưng đó chỉ là cơng cụ để cho nhà báo lựa chọn sử dụng vào mục
đích của mình sao cho hiệu quả nhất. Ví dụ như trong các chương trình truyền
hình của VTV hiện nay, bên cạnh phỏng vấn, khán giả xem truyền hình
thường xuyên được theo dõi các chương trình thuộc thể loại đàm luận.
Phỏng vấn và đàm luận có khá nhiều điểm tương đồng nhưng có thể
phân biệt chúng ở hai điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, vị trí của nhà báo và người trả lời ở hai thể loại này có sự
khác nhau thể hiện tương đối rõ. Trong một cuộc phỏng vấn, nhà báo luôn là
người hỏi và người được phỏng vấn luôn là người trả lời. Ưu thế “ tấn công”
được nhà báo sử dụng một cách tối đa trong các câu hỏi của mình và tâm thế
của người phỏng vấn cũng như người được phỏng vấn là hồn tồn trái
ngược. Bên cạnh đó, nhà báo chỉ có nghĩa vụ đưa ra các câu hỏi chứ khơng có
nghĩa vụ tham gia trả lời hoặc đưa ra bình luận. Khơng khí của cuộc đàm luận
thường “ dễ chịu” hơn so với các cuộc phỏng vấn. Ở đây, vị trí của người
phỏng vấn và người được phỏng vấn gần như tương đồng. Đó có thể hiểu như
10
một cuộc trị chuyện về một chủ đề nào đó mọi người đều quan tâm. Người
hỏi có thể đưa ra nhận xét của mình và ngược lại.
Thứ hai, đó là tính chất thơng tin giữa hai thể loại. Nếu như ở phỏng
vấn, khơng khí được “ kéo căng” lên trong từng câu hỏi và thông tin luôn
được đẩy đến cái đích cuối cùng của nó, đó là chân lý. Thì ở thể loại đàm
luận, việc làm đó khơng phải là phổ biến. Vì thế, đàm luận chỉ sử dụng để
khai thác yếu tố tâm lý đơn thuần, mà chủ đề ln mang tính chun đề dùng
để bình bàn.
Nếu so sánh với thể loại họp báo thì rõ rang phỏng vấn thể hiện được
ưu thế hơn hẳn của nó về mức độ chủ động. Trong cuộc họp báo, không phải
nhà báo nào cũng được hỏi và không phải câu hỏi nào của nhà báo cũng được
trả lời. Như vậy, rõ rang là nhà báo đã mất đi lợi thế “ chủ động” của mình.
Thơng tin trong cuộc họp báo ln mang tính một chiều mà nhà báo thì khơng
thể làm rõ ngay thông tin được cung cấp tại thời điểm cuộc họp báo. Đơn
giản vì đó là buổi “ họp báo” chứ không phải một cuộc phỏng vấn ở trường
quay. Người trả lời lúc này rõ ràng đang nắm thế chủ động hồn tồn. Họp
báo đơi khi chỉ là để thơng báo, người phát ngơn chỉ có trách nhiệm hồn
thành thơng báo trước báo giới qua văn bản những vấn đề được thông báo.
Nhà báo sử dụng những thông báo qua văn bản như nguồn tài liệu chính
thống đưa ra cơng chúng.
So với thể loại phát biểu trên truyền hình, phỏng vấn càng thể hiện rõ
được ưu thế của nó. Có thể thấy phát biểu trên truyền hình ln mang thơng
tin một chiều. Đó như một cuộc độc thoại của người có trách nhiệm phát
ngơn, nhưng chắc chắn khơng thể thỏa mãn được nhu cầu tiếp nhận thông tin
của một bộ phận khán giả có trình độ cao. Trong khi đó, phỏng vấn là cuộc “
hỏi – đáp” giữa nhà báo và người trả lời, mọi vấn đề luôn được nhà báo cố
gắng đưa ra, làm rõ và đối tượng được phỏng vấn sẽ nhận thức được trách
nhiệm của mình đối với cuộc phỏng vấn đó.
11
Thể loại phỏng vấn là thể loại mà người tiếp nhận thơng tin dễ dàng
phân biệt rạch rịi vì đó là câu chuyện giữa hai người, có người hỏi và có
người trả lời, khó có thể nhầm lẫn với các thể loại khác. Nói cách khác, nó là
cuộc hội thoại giữa hai người và được người thứ ba – khán giả - theo dõi.
Trong đó, nhà báo làm rõ sự kiện, sự việc từ người có thẩm quyền hoặc được
người chứng kiến sự việc bằng các câu hỏi được chuẩn bị trước hay ngay cả
trong quá trình phỏng vấn. Theo đó, phỏng vấn sẽ tồn tại độc lập như các thể
loại báo chí khác, làm nên một chương trình phỏng vấn độc lập. Phỏng vấn
không chỉ đem lại thông tin mà cịn đưa lại tiến trình diễn ra cuộc trị chuyện.
Thông tin đem lại cho khán giả trong phỏng vấn truyền hình khơng chỉ nằm
trong câu hỏi và câu trả lời, mà còn nằm trong biểu hiện của cả người phỏng
vấn và đối phương. Thơng tin qua lời nói là hình thức cung cấp thơng tin
chính thống cho người xem. Nhưng cịn một tầng thơng tin thứ hai biểu hiện
qua bối cảnh, thái độ biểu cảm, cử chỉ, động tác cũng khơng kém phần quan
trọng. Điều này địi hỏi ở người xem sự quan sát nhạy bén, hiểu đó như một
thơng tin ngầm vơ cùng có giá trị.
Truyền hình hiện đại sử dụng phỏng vấn như một tác phẩm hoàn chỉnh,
có đầy đủ nội dung và hình thức. Nó tồn tại độc lập và thơng tin là một bức
tranh có hệ thống, hợp lý và có thể thấy đầy đủ các màu sắc nhỏ nhất thể hiện
trên tác phẩm, như một cái lắc đầu, một tiếng cười, một cái nhún vai…
Những thay đổi nhỏ trên sắc mặt của người được phỏng vấn cũng có tính biểu
cảm rất cao, nó chứa đựng tồn bộ thơng tin mà bức tranh thể hiện. Khơng
những vậy, phỏng vấn có thể kết hợp với tin, phóng sự, ký sự, tài liệu, ghi
nhanh… để làm thành một tác phẩm hoàn chỉnh. Khi đứng trong các tác
phẩm báo chí, phỏng vấn tạo được sự liên kết và tính logic của tác phẩm đó,
đồng thời tăng tính bất ngờ và hấp dẫn được người xem trong trường hợp
người thực hiện muốn sử dụng phỏng vấn như một cách làm tăng nhịp độ và
tạo nên sự đa dạng.
12
Trong một số cuốn sách ở Mỹ về nghiệp vụ báo chí truyền hình, người
ta ví việc chuẩn bị cho một cuộc phỏng vấn tầm cỡ như việc vạch ra kế hoạch
cho một trận đánh. Nếu trong cuộc phỏng vấn thơng tin, phóng viên và người
đối thoại đóng vai trị như những người cùng cộng tác để giải quyết một
nhiệm vụ chung, tức là thơng báo một điều gì đó cho cơng chúng dưới một
hình thức dễ hiểu, và cuộc phỏng vấn ấy có thể được tập dượt, thì cuộc phỏng
vấn chuyên đề hay chân dung nhân vật luôn chứa đựng những “ cạm bẫy”, nó
tạo ra những bất ngờ cho đối tác. Đó là kịch bản cho một cuộc phỏng vấn
đích thực. Đó là bí quyết khiến cho thể loại này trở nên phổ biến. Sau hết,
điều đó giải thích tại sao có q ít những nhà báo có tài phỏng vấn và tại sao
những nhà báo đạt được thành cơng trong loại hình phỏng vấn lại đảm bảo có
được những mức nhuận bút cao và sự nổi tiếng trên toàn thế giới. Để đạt
được sự cởi mở và cảm xúc cao độ trong các cuộc phỏng vấn, nhà báo sử
dụng mọi nguồn dự trữ về tâm lý và diễn xuất cá nhân. Nhà báo phải thông
qua cử chỉ và ánh mắt của mình để thể hiện sự quan tâm vô cùng to lớn, đôi
khi cả thái độ thông cảm, thái độ hồi nghi cần thiết. Đơi khi giả bộ không
hiểu để người đối thoại thể hiện rõ lập trường của mình. Những nhà báo trẻ
tuổi ln sợ hãi điều đó và gật đầu một cách máy móc, thậm chí cả cảm giác
hồi hộp đến mức khơng nghe rõ người đối thoại đang nói gì.
Cũng như trong hoạt động của truyền hình, mọi cuộc phỏng vấn hay là
kết quả của việc lập kế hoạch lâu dài và khả năng phản ứng nhanh nhạy.
Người phỏng vấn cần nắm rõ chủ đề đến mức có thể cho phép người đối thoại
có mọi sự lạc đề, nhưng sau đó lại nhẹ nhàng và dứt khốt đưa người đó tuan
thủ kế hoạch chiến lược, sử dụng những sự lạc đề như tư liệu tạo ra cuộc giao
lưu đầy hào hứng. Giọng điệu và khơng khí trong một cuộc phỏng vấn là
khơng thể phủ nhận khi người giao lưu cảm nhận được họ đang được nói
chuyện với chính ánh mắt của nhà báo chứ khơng phải với chiếc camera
truyền hình. Đó là những “ luồng thôi miên” từ đôi mắt của những nhà báo có
13
kinh nghiệm và những mối liên hệ trực giác không thể giải thích được giữa
những người trong cuộc đối thoại thật sự.
Tuy nhiên, trong các cuộc phỏng vấn không phải lúc nào người phỏng
vấn cũng gặp thuận lợi. Nhiều nhà nghiên cứu và những nhà báo đã tiến hành
các cuộc phỏng vấn có chiều sâu và đem ra đối chiếu với kinh nghiệm của
mình. Họ cho thấy làm thế nào để có thể “ phỏng vấn các nhân vật trong
những mơi trường chính trị, đối nội và đối ngoại, kinh tế, văn hóa; làm thế
nào để tiếp cận và phỏng vấn những quan chức cấp cao trong chính phủ, các
nguyên thủ quốc gia… Họ cho thấy được những khó khăn khi phỏng vấn
những đối tượng khác nhau, những điều nên tránh và khi nào thì cuộc phỏng
vấn những nhân vật này có thể coi như một phương thức nhận thức được vận
dụng tốt? làm thế nào để xác lập mối quan hệ tin cậy giữa người phỏng vấn
và người được phỏng vấn? Làm thế nào để giảm bớt tương quan bất bình
đẳng giữa họ… Có thể nói việc phỏng vấn không phải là một công việc đơn
giản. Tất cả các mơi trường xã hội đều khác nhau, mỗi nhóm xã hội sẽ có một
cách trả lời phỏng vấn khác nhau. Người ta cũng không áp dụng cùng một
cách hỏi đối với những tần lớp trong xã hội. Các câu hỏi phải được cân nhắc
một cách thích hợp. Bản thân các nhân vật trong một môi trường đơn lẻ cũng
không phải là một nhóm đồng nhất.
Nói như vậy cũng khơng phải là khơng có những điểm chung giữa tất
cả những đối tượng được phỏng vấn. Dù cho môi trường nghiên cứu là gì, thì
điều quan trọng nhất là người điều tra cần hiểu biết càng nhiều càng tốt về đối
tượng mà mình phỏng vấn, mức độ cởi mở của họ và những “ quy tắc tiếp
cận” cho phép anh ta thâm nhập vào đó. Dù cho phỏng vấn ai thì người phỏng
vấn cũng phải làm cho họ yên tâm, tin tưởng, tránh cho họ khó chịu bởi y
phục hay những lời lẽ khơng thích hợp
* Vai trị của phỏng vấn trong chương trình truyền hình
14
Phỏng vấn là một cuộc đối thoại có chủ đích. Trong báo chí, đây
là một tác phẩm có hình thức phóng viên hỏi và người được phỏng vấn trả lời.
Phỏng vấn được dùng trong trường hợp cung cấp thông tin về lĩnh vực mà
người được phỏng vấn là chuyên gia hoặc có trách nhiệm trả lời. Phỏng vấn
báo chí có nhiều cách thực hiện: phỏng vấn trực tiếp ( phóng viên và người
được phỏng vấn gặp nhau – cách truyền thống ), phỏng vấn bằng văn bản
( phóng viên chuẩn bị các câu hỏi bằng văn bản, người được phỏng vấn cũng
trả lời bằng văn bản – thường dùng khi những thông tin trong cuộc phỏng vấn
tương đối phức tạp, người trả lời phỏng vấn khơng thể trả lời chính xác ngay
lập tức), phỏng vấn qua điện thoại hoặc các phương tiện liên lạc khác … ( khi
một trong hai bên, hoặc cả hai bên không đủ thời gian cho một cuộc gặp trực
tiếp ). Đôi khi, phỏng vấn cũng đượ dùng đề lấy ý kiến của những bức xúc
trong xã hội.
Phỏng vấn là thể loại báo chí phổ biến có mặt ở hầu hết các thể loại báo
chí, đặc biệt là trên truyền hình, nơi yếu tố hình ảnh và lời bình là hai yếu tố
chủ đạo và khơng thể tách rời. Thực tế cho thấy nếu nắm vững được thể loại
phỏng vấn sẽ chi phối được hầu hết các thể loại khác, vì nó cịn là phương
pháp thu thập tài liệu để sáng tạo bất kỳ một tác phẩm báo chí thuộc thể loại
nào. Ta có thể phân tích được vai trị của phỏng vấn trong chương trình
truyền hình thơng qua hai hình thức tồn tại của nó trong tác phẩm:
Thứ nhất, phỏng vấn trên truyền hình tồn tại dưới hình thức một thể
loại báo chí độc lập.
Một hình thức nữa là phỏng vấn trên truyền hình tồn tại như một
phương pháp để thu thập thông tin.
1.1.2. Kỹ năng phỏng vấn truyền hình
Trong khn khổ “ Lao động báo chí”, phỏng vấn là phương pháp
nghiệp vụ của nhà báo trong khi giao tiếp, nhằm khai thác thông tin bằng
15
cách hỏi và đáp với người đối thoại – những nguồn tin. Trong các hoạt động
tác nghiệp của phóng viên có 3 phương pháp chính đó là phương pháp quan
sát, phương pháp thu thập tài liệu qua văn bản, và phương pháp phỏng vấn.
Tuy nhiên, khi so sánh với các phương pháp này thì phỏng vấn được coi là
phương pháp được sử dụng nhiều hơn cả.
Trong phương pháp khai thác tài liệu qua văn bản có thể thấy rõ ưu
điểm của nó là nhà báo có thể có được những thơng tin có hệ thống, được
đảm bảo bởi những người có trách nhiệm. Những số liệu được cung cấp ln
chính xác vì nó được cung cấp từ nguồn tài liệu chính thống. Nhưng lại thể
hiện những nhược điểm như: khơ cứng, xa rời thực tế, mang nặng tính chủ
quan của người soạn thảo văn bản. Các loại văn bản thường xuyên được khai
thác và sử dụng như: Báo cáo tổng kết hay các văn bản pháp luật.
Khai thác thông tin qua quan sát có ưu điểm: sinh động, tươi mới và
đặc biệt phù hợp với truyền hình. Mặt khác, thơng tin qua quan sát ln sử
dụng được trong các tình huống rất thời sự. Nhưng phương pháp này lại có
nhược điểm đó là: khơng có hệ thống, và phụ thuộc vào cảm quan của người
quan sát.
Phỏng vấn là một nghiệp vụ chun mơn báo chí độc lập, mặc dù
khơng có nhà báo nào lại không thực hiện nghiệp vụ phỏng vấn. Mọi phóng
viên đều nhất định nêu các câu hỏi. Đối với nhữn loại thông tin như quan
điểm, ý kiến, suy nghĩ, tình cảm… thì thu thập bằng phương pháp phỏng vấn
sẽ đem lại kết quả tốt nhất. Cũng qua phỏng vấn, phóng viên sẽ có được
thơng tin về những sự kiện, sự việc đã hoặc đang xảy ra, mà những thơng tin
đó khó có thể có được thơng qua quan sát hay tìm hiểu tài liệu. Tuy nhiên,
thơng tin thu thập được qua phương pháp phỏng vấn mang đậm màu sắc chủ
quan. Điều này hồn tồn có thể lý giải được. Bởi vì những thơng tin ấy đều
do sự thuật lại của một hoặc nhiều người, và dù vô tình hay cố ý, xác xuất sai
lệch so với sự thật là vẫn có.
16
Cả ba phương pháp nói trên đều quan trọng như nhau, nhà báo có thể
sử dụng nhiều phương pháp này, ít phương pháp khác linh hoạt tùy thuộc vào
tình huống và điều kiện ghi hình. Nhưng nhìn chung nên sử dụng cả ba
phương pháp khi tác nghiệp. Việc sử dụng cả ba phương pháp một cách thuần
thục sẽ giúp nhà báo rất nhiều trong việc tác nghiệp và khai thác thông tin.
Ở nước ta, phỏng vấn là cách thể hiện rõ nhất tinh thần dân chủ, đúng
với “ dân biết, dân làm, dân kiểm tra”. Bằng cách này, công chúng sẽ có cơ
hội tham gia ngày càng tích cực và có trách nhiệm hơn vào q trình chuẩn
bị, giám sát, thực hiện và đánh giá hiệu quả của các chủ chương, chính sách
của Đảng, của Nhà nước. Thơng qua gặp gỡ, trao đổi, nói chuyện khi phỏng
vấn mà hình thành, xây dựng được mối quan hệ. Có thể nói, đây là phương
thức truyền thông tốt nhất. Như vậy, phỏng vấn khơng chỉ quan trọng với báo
chí nói chung, với truyền hình nói riêng, mà cịn rất quan trọng với đời sống
xã hội, khẳng định vị trí của phỏng vấn. Người phỏng vấn tìm kiếm và phát
hiện thơng tin từ những nhân chứng, làm sáng tỏ các chân lý, đó chính là điều
mà khán giả truyền hình đang chờ đợi.
Phỏng vấn với nhiều người là một kỹ năng. Và tất nhiên, kỹ năng thì
khơng chấp nhận ngun tắc và các chỉ dẫn. Chính vì thế, trong phỏng vấn
khơng chỉ địi hỏi ở người phóng viên một kỹ năng nhất định, mà còn vượt
trên cả kỹ năng là năng khiếu, là sự nhạy bén, là sự tinh tế, sự thăng hoa trong
mỗi cuộc phỏng vấn.
Do có sự kết hợp của cả yếu tố hình ảnh và âm thanh nên nghệ thuật
trong phỏng vấn truyền hình có phần phức tạp hơn so với phỏng vấn trên các
phương tiện thông tin đại chúng khác. Kỹ năng đó có thể chia thành các khía
cạnh sau:
* Chuẩn bị phỏng vấn
17
Chuẩn bị là một giai đoạn quan trọng trong phỏng vấn. Công việc để
chuẩn bị cho phỏng vấn khá nhiều và chiếm phần thời lượng lớn trong tổng
thời gian cần có để có thể thực hiện được một cuộc phỏng vấn. Tìm kiếm đề
tài và tìm hiểu nội dung cho cuộc phỏng vấn địi hỏi nhiều thời gian. Phóng
viên cần có cách làm việc khoa học. Nhiều phóng viên có một nghệ thuật
nghiên cứu đề tài rất hay, đó là tìm hiểu qua các đồng nghiệp của mình, thừa
hưởng những nghiên cứu trước đây của họ.
Mời người tham gia cuộc phỏng vấn và sau đó là viết kịch bản. Nghệ
thuật thuyết phục người đồng ý tham gia phỏng vấn là điều khơng phải phóng
viên nào cũng đạt được, nhất là trong những chương trình bình luận có tính
thời sự, hay những vấn đề tâm lý nhạy cảm… Nghệ thuật này địi hỏi sự kiên
trì, chân thành và cả uy tín ở người phóng viên. Kịch bản cần được chuẩn bị
kỹ lưỡng trước khi bắt đầu chương trình. Phóng viên cần đốn trước, nắm bắt
những tình huống có thể xảy ra như thế nào…
* Đặt câu hỏi
Đặt câu hỏi là yếu tố chính làm nên thành cơng cho cuộc phỏng vấn.
Trước khi đặt câu hỏi, dường như phóng viên phải đóng vai người được
phỏng vấn, để ứng đoán xem những phương án trả lời có thể xảy ra. Từ đó
đưa ra những phương án câu hỏi tiếp theo. Nghệ thuật đặt câu hỏi phần nhiều
dựa vào việc nắm bắt chắc vấn đề, am hiểu các dạng câu hỏi và sự chuẩn bị
kịch bản chu đáo. Phóng viên nên tìm hiểu về người trả lời phỏng vấn ( nếu
có thể), điều đó khiến việc tiếp xúc sẽ suôn sẻ hơn, và câu hỏi đưa ra cũng
logic. Đặt câu hỏi trực tiếp, đề cập thẳng vào vấn đề khi muốn nhấn mạnh,
hay tạo khơng khí cho cuộc phỏng vấn. Đưa ra những câu hỏi mởi để có được
thơng tin mơ tả về sự kiện, vấn đề quan tâm. Bên cạnh các câu hỏi chính, nên
có các câu hỏi phụ để làm rõ thêm…
Tuy nhiên, nghệ thuật đặt câu hỏi không chỉ dừng lại ở kỹ năng đặt câu
hỏi, mà còn là cách đưa ra câu hỏi như thế nào, sắp xếp chúng ra sao, ứng
18
biến trong các trường hợp bị “ đổ” câu hỏi… Điều này phụ thuộc vào sự linh
hoạt, trí thơng minh của phóng viên.
* Kỹ năng “ im lặng” và lắng nghe
“ Im lặng” cũng là một nghệ thuật! Im lặng đúng cách, nghe thì có vẻ
đơn giản nhưng khơng phải ai cũng làm được và phát huy tác dụng của nó. Im
lặng để lắng nghe. Lắng nghe với những cái gật đầu chừng mực, hợp lý, với
ánh mắt nhìn thẳng vào người đối thoại, bằng những cái nhướn mày… nhằm
mục đích khuyến khích câu trả lời tiếp tục đúng trọng tâm. Thực tế cho thấy
chưa có phóng viên nào nói nhiều thì có thể thực hiện cuộc phỏng vấn tốt –
im lặng thực sự là vàng. Lắng nghe sẽ giúp phóng viên suy ngẫm được người
đối thoại đang nói gì, phân tích một cách nhanh nhạy, phát huy được những
hướng trả lời tố, và ngăn chặn kịp những câu trả lời lan man, xa rời trọng tâm
chương trình. Điều này đòi hỏi sự lắng nghe “ tỉnh táo”, một nghệ thuật
khơng phải phóng viên nào cũng đạt được.
* Kỹ năng biểu lộ trạng thái cảm xúc
Nghệ thuật biểu lộ trạng thái cảm xúc là điều đặc biệt cần thiết trong
cuộc phỏng vấn truyền hình. Với sự xuất hiện của hình ảnh, trạng thái cảm
xúc, cử chỉ, điệu bộ của phóng viên khơng chỉ ảnh hướng tới người đối thoại,
mà cịn là khán giả. Những cử chỉ, điệu bộ của phóng viên phải luôn chừng
mực, và mọi biểu hiện đều phải có mục đích. Tỏ ra đồng cảm với những gì
người đối thoại đang nói là cách thể hiện thơng minh của phóng viên.
Người phỏng vấn nên thấu cảm. Điều này khơng có nghĩa là phóng
viên phải thích đối tượng phỏng vấn của mình, mà cịn có nghĩa là tự bạn hãy
đặt mình vào vị trí của họ và hình dung tác động cảu các câu hỏi mà bạn đưa
ra.
* Kỹ năng tạo dựng bối cảnh phỏng vấn
19
Phỏng vấn truyền hình chủ yếu được diễn ra trong hai bối cảnh chính là
: trường quay (studio), và hiện trường.
Cuộc phỏng vấn diễn ra tại trường quay thường được coi là đơn giản
hơn so với thực hiện ngoài hiện trường, bởi vì đây là địa điểm an tồn nhất về
mặt kỹ thuật. Những trục trặc về mặt kỹ thuật rất ít khi xuất hiện trong trường
quay trong lúc tiến hành ghi hình, về cả trang thiết bị, âm thanh, ánh sáng và
chất lượng ghi hình. Vì thế trước khi bắt đầu tại trường quay, phóng viên sẽ
chú ý tạo bối cảnh cho cuộc phỏng vấn như: nhắc khách mời tắt điện thoại di
động hay chỉnh trang hình thức… Tuy nhiên, khơng khí trong trường quay
trang trọng và lịch sự hơn so với ngoài hiện trường. Điều này khiến mọi
người dễ bị căng thẳng, từ khách mời tham gia phỏng vấn, đến khán giả trong
trường quay, và ngay chính bản thân phóng viên. Phóng viên cần có nghệ
thuật tạo khơng khí cởi mở trước và trong phỏng vấn, giải tỏa mối e ngại của
mọi người dưới ánh đèn của trường quay, tạo ra sự hào hứng… Ngay cả cách
bài trí mỹ thuật tại trường quay, người phóng viên cũng nên quan tâm. Những
người phỏng vấn tốt thường không bỏ qua bất cứ một cơng việc nhỏ nào. Nói
cho đạo diễn và mỹ thuật trường quay về ý tưởng, chủ đề thực hiện cuộc
phỏng vấn, gợi ý cho họ về điều phóng viên muốn có ở trường quay để tạo
được khơng gian mở, khơng tạo sự gị bó. Tư thế ngồi trong cuộc phỏng vấn
cũng quan trọng. Phóng viên biết cách và để ý một chút sẽ có tư thế ngồi
thích hợp, khơng đẩy người về phía trước q, nhưng cũng không ngội dựa
hết lưng vào thành ghế, hay vắt chéo chân… Những tư thế đó dễ gây sự hiểu
lầm cho người được phỏng vấn, và cả khán giả.
Hiện trường là địa điểm ghi hình phỏng vấn có ưu điểm về mặt khơng
gian, nhưng lại có nhược điểm là trang thiết bị, kỹ thuật khơng đảm bảo. Có
rất nhiều yếu tố tại nơi ghi hình có thể làm ảnh hưởng tới chất lượng và nội
dung của buổi phỏng vấn, nó địi hỏi ở phóng viên, người đi thực hiện chương
trình tinh thần làm việc khẩn trương. Nghệ thuật tạo bối cảnh nơi hiện trường
là cả một quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng và cơng phu nhằm phán đốn và loại bỏ
20