Tải bản đầy đủ (.pdf) (17 trang)

Văn mẫu lớp 7 đầy đủ, chi tiết bài 1 (25)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (734.91 KB, 17 trang )

Đề bài: Phân tích bài thơ Phị giá về kinh
Dàn ý:
I. Mở bài:
- Giới thiệu về tác giả Trần Quang Khải (những nét chính về cuộc đời, đặc điểm
sáng tác,…)
- Giới thiệu về bài thơ “Phị giá về kinh” (hồn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội
dung và giá trị nghệ thuật,…)
II. Thân bài:
1. Hai câu thơ đầu: Hào khí chiến thắng của dân tộc
- Hai câu đầu nói về chiến thắng quan trọng của quân và dân ta, trong đó có sự góp
sức của tác giả, mang tính thời sự nóng hổi
- Dùng phép liệt kê và phép đối để làm nổi bật hai chiến thắng ở Chương Dương
và Hàm Tử
- Các động từ mạnh “đoạt”, “cầm” với nhịp điệu ngắn, nhanh diễn tả diễn tả sức
mạnh hào hùng và khơng khí chiến thắng của dân ta
⇒ Hai câu thơ đầu ca ngợi chiến thắng hào hùng của dân tộc trong cuộc chiến đấu
chống quân Mông – Nguyên xâm lược, qua đó thể hiện lịng tự hào dân tộc
2. Hai câu cịn lại: Khát vọng mn đời thái bình, thịnh trị
- Lời động viên, xây dựng và phát triển đất nước trong cảnh thái bình: “thái bình tu
trí lực”
- Khẳng định sự bền vững, thịnh trị của đất nước: “vạn cổ thử giang san”


- Đó khơng chỉ là khát vọng của một người mà là mong ước, khát khao của toàn
dân tộc
III. Kết bài:
- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ:
+ Nội dung: Bài thơ thể hiện hào khí chiến thắng và khát vọng thái bình, thịnh trị
của dân tộc ta ở thời đại nhà Trần
+ Nghệ thuật: thể thơ ngũ ngơn tứ tuyệt, hình thức diễn đạt cô đúc, dồn nén cảm
xúc vào bên trong,…


- Cảm nhận chung về bài thơ: Bài thơ chính tới cảm hứng hào sảng, tự hào, kiêu
hãnh trước những chiến công lẫy lừng, vang dội trước kẻ thù. Niềm tin, khát vọng
dân tộc thái bình, thịnh trị. Bài thơ là khúc khải hoàn ca hùng tráng, cao đẹp của
dân tộc.

Mẫu 1:
Trần Quang Khải (1241-1294) vừa là một võ tướng kiệt xuất của nhà Trần, ơng là
người có cơng lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, đặc biệt
trong hai trận chiến lớn ở Hàm Tử và Chương Dương. Không chỉ vậy ơng cịn là
một thi sĩ nổi tiếng với rất nhiều những tác phẩm có giá trị trong đó khơng thể
khơng kể tới bài thơ “Phị giá về kinh”. Đây là tác phẩm tiếp nối mạch nguồn cảm
hứng yêu nước của thời đại nhà Trần, thể hiện hào khí chiến thắng và khát vọng về
một đất nước thái bình thịnh trị của dân tộc.


Sau chiến thắng Chương Dương và Hàm Tử, kinh đô Thăng Long được giải phóng,
Trần Quang Khải đích thân đi đón Thái thượng hồng Trần Thánh Tơng và vua
Trần Nhân Tơng hồi kinh, bài thơ “phị giá về kinh” được viết trong hồn cảnh ấy.
Trong khơng khí chiến thắng hào hùng ấy, bài thơ cất lên như một bản anh hùng ca
của đất nước. Hai câu thơ đầu, tác giả gợi lại hai trận chiến oanh liệt hào hùng của
dân tộc ta với âm vang tự hào:
“Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm hồ Hàm Tử quan”
Chương Dương và Hàm Tử là hai địa danh nổi tiếng gắn với hai trận đánh lịch sử
của dân tộc được tác giả trực tiếp nhắc tới trong câu thơ. Đối với quân dân nhà
Trần, chỉ cần nhắc tới hai chiến cơng vang dội có tính chất quyết định thành bại ấy
cũng đủ để cất lên âm điệu tự hào, ngợi ca. Tác giả không miêu tả diễn biến trận
chiến, cũng không diễn tả cảnh binh đao trận lửa mà chỉ kể lại bằng cách liệt kê
nhưng như thế cũng đủ để ta hình dung được khơng khí trận mạc cùng tính chất
gay go, căng thẳng của cuộc chiến.

Đặc biệt để nói về chiến thắng, nhà thơ chỉ sử dụng hai cụm động từ “đoạt sáo,
cầm hồ” với sức gợi mạnh mẽ, khẳng định quân ta luôn trong thế chủ động, tự tin,
lấn át và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược cho dù chúng là ai. Trong phần dịch
nghĩa, tác giả sử dụng từ dùng từ “cướp” để dịch thoát nghĩa cho từ “đoạt” trong
phiên âm, tuy nhiên nó đã làm mất đi sắc thái ý nghĩa của hành động. “Cướp” thiên
về sự phi nghĩa, trái với đạo lí, dùng sức mạnh để chiếm đoạt của người khác, nó
đã làm mất đi sự hào hùng vốn có của hành động “đoạt” là tư thế chủ động, tự tin
của phe chính nghĩa tước đoạt dã tâm xâm lược của kẻ thù. Với giọng điệu hào
hùng, sôi nổi kể lại những chiến công oanh liệt, hào hùng cùng của dân tộc cùng
hào khí chiến đấu, chiến thắng vẻ vang của quân và dân nhà Trần, hai câu thơ đầu


đã cho thấy niềm vui sướng, hạnh phúc và đầy tự hào của nhà thơ, đồng thời đó
cũng là sự biểu hiện cụ thể của tình u đất nước.
Khơng ngủ quên trong chiến thắng, càng sung sướng, tự hào về chiến cơng bao
nhiêu thì qn và dân nhà Trần càng quyết tâm để giữ gìn sự hịa bình, thịnh trị của
dân tộc bấy nhiêu. Với giọng điệu dứt khoát, đầy tự tin Trần Quang Khải đã lên
tiếng để nói về khát vọng ấy.
“Thái bình tu chí lực
Vạn cổ thử giang san”
Đến hai câu thơ này, giọng điệu trở nên trầm lắng, niềm vui, niềm hân hoan, hạnh
phúc dường như tạm lắng lại, thay vào đó là phút suy tư sâu lắng về vận nước.
Triều đại vừa trải qua cơn phong ba bởi nạn giặc xâm lược, đất nước còn bao điều
bộn bề lo toan, thân làm chủ tướng, Trần Quang Khải làm sao không suy nghĩ, lắng
lo cho được. Trong câu thơ, tác giả đã nhấn mạnh có thái bình rồi nên phải gắng
sức dựng xây thì non nước mới được thịnh trị muôn đời. Câu thơ cho thấy tầm nhìn
xa trơng rộng của một vị chủ tướng tài ba. Đó vừa là lời hứa quyết tâm cùng chung
tay góp sức xây dựng đất nước, cũng vừa là lời nhắc nhở con cháu đời sau về trách
nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với đất nước, dân tộc. Hai câu thơ khiến ta trân
trọng, kính phục và cảm động biết bao trước tấm tấm lòng yêu nước thương dân và

tài năng thao lược tài ba của người con tài giỏi nhà Trần.
Với thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt ngắn gọn mà dồn nén cảm xúc, “phò giá về kinh”
của Trần Quốc Tuấn vừa ngợi ca chiến thắng hào hùng của dân tộc, vừa thể hiện
niềm tin sắt đá vào sự bền vững muôn đời của đất nước. Bài thơ được xem là bản
hùng ca hòa trong dàn đồng ca yêu nước của dân tộc cùng với các tác phẩm như
Nam Quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bình ngơ đại cáo,...Những khúc ca ấy đã khơi


gợi trong mỗi chúng ta tình yêu đất nước và ý thức bảo vệ, xây dựng, giữ gìn đất
nước trong mỗi người.

Mẫu 2:
Cuộc kháng chiến quân Mông – Nguyên đã qua đi nhưng những hồi ức thắng lợi
vẫn còn vang vọng mãi cho đến bây giờ . Nhắc đến cuộc kháng chiến này ta không
thể không nhắc đến Trần Quang Khải – vị tướng tài kiệt xuất đã có cơng lớn trong
cuộc kháng chiến này. Và ơng cũng chính là thi sĩ tài hoa sáng tác ra bài thơ “Phò
giá về kinh", cho chúng ta sống lại khí thế hào hùng lúc bấy giờ. Bài thơ đã thể
hiện được hào khí chiến thắng và khát vọng của dân tộc ta


“Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm hồ Hàm Tử Quan
Thái bình tu nỗ lực
Vạn cổ thử giang san”
Dịch thơ:
Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu
Mở đầu bài thơ là chiến công vang dội của quân và dân Đại Việt và mùa hè năm Ất

Dậu năm 1285:
Đoạt sáo chương dương độ
Cầm hồ Hàm Tử Quan
Chương Dương và Hàm Tử Quan là hai địa danh lừng lẫy lưu danh sử sách. Trước
hết là Chương Dương là bến sơng nằm phía hữu ngạn sơng Hồng thuộc Hà Tây cũ,
trận đánh này do Trần Quang Khải trực tiếp chỉ huy. Hàm tử là địa danh ở tả ngạn
sông Hồng, trận này do tướng Trần Nhật Duật lãnh đạo cùng với sự hỗ trợ đắc lực
của Trần Quang Khải . Hai thắng lợi này đã khiến quân giặc khiếp sợ mà thể hiện
tài năng đánh giặc của Trần Quang Khải. Ngay khi đọc hai câu thơ ta đã thấy 2
cụm từ đặt đầu câu: Đoạt sáo (cướp giáo ), Cầm hồ (bắt giặc ). Nó là một điểm
nhấn trong khúc ca đại thắng vậy. Hơn thế nữa hai từ này là động từ mạnh thể hiện
nhịp độ dồn dập, quyết liệt sôi động của chiến trận. Giọng thơ sảng khối hào hùng
phản ánh khí thế của nhân dân ta lúc bấy giờ. Tác giả không dừng lâu trong chiến
công cũng không say sưa với chiến thắng nhưng ta vẫn cảm nhận được niềm phấn
khởi , kiêu hãnh toát ra từ âm hưởng của bài thơ.


Mùa hè năm Ất Dậu chính là mốc son chói lọi trong lịch sử chống giặc ngoại xâm
của chúng ta . Những chiến công hiển hách đã truyền cảm hứng vào những vần thơ
hùng tráng khiến bài thơ mang đậm phong vị anh hùng ca . Trần Quang Khải thật
tài tình khi sử dụng biện pháp liệt kê và phép đối để làm nổi bật hai sự kiện lịch sử
mang tầm chiến lược. Chắc hẳn cịn sống trong khơng khí hào hùng của chiến
thắng Chương Dương vừa diễn ra nên ông đã đặt nó lên trước, kế đó là trận đánh
Hàm Tử Quan được diễn ra trước đó khơng lâu.
Hai trận đánh này đã lật ngược tình thế đưa nước ta từ thế bị động sang thế chủ
động , giáng một đòn mạnh đến quân giặc khiến chúng phải khiếp sợ. Chương
Dương và Hàm Tử Quan chính dấu ấn quan trọng thể hiện thắng lợi của dân tộc ta.
Phải là người yêu quê hương, đất nước da diết thì Trần Quang Khải mới viết được
những vần thơ hào hùng đến thế . Không ngủ quên trong chiến thắng ông đã nghĩ
ngay đến việc xây dựng và phát triển đất nước trong hịa bình:

Thái bình tu nỗ lực
Vạn cổ thử giang san
Ơng nhấn mạnh trong thời bình mọi người cần phải dốc sức xây dựng non sông đất
nước , nước mạnh dân giàu mới khiến bọn giặc không bén mảng tới cũng như giữ
gìn được độc lập lâu dài. Khơng những là một vị tướng tài ba, Trần Quang Khải
còn là một vị quan có tài trong việc quản lý sắp xếp mọi việc. Ơng ln đặt vấn đề
lo cho nước cho dân lên hàng đầu. Những câu thơ dường như rất giản đơn ngắn
gọn nhưng ý tưởng bên trong thật to lớn. Khi Tổ quốc gặp nạn chúng ta cần đồng
lịng đánh đuổi giặc ngoại xâm, cịn khi hịa bình chúng ta từ các quan đại thần đến
nhân dân cần dốc sức một lòng xây dựng đất nước ngày càng lớn mạnh. Qua đây ta
thấy được tầm nhìn xa trơng rộng của ông. Đến tận bây giờ bài học được rút ra từ
bài thơ vẫn được áp dụng đến tận nay: phải chăm lo xây dựng đất nước thì mới giữ


gìn hịa bình cuộc sống nhân dân mới ấm no hạnh phúc đừng ngủ quên trong chiến
thắng
Chỉ bằng bốn câu thơ ngắn gọn Trần Quang Khải đã thể hiện được khí thế hào
hùng và bày tỏ được khát vọng xây dựng đất nước, giữ gìn hịa bình. Bài thơ cũng
là một lời nhắc nhở mỗi người dân Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
đất nước .

Mẫu 3:
Trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước ta, ghi dấu ấn lại bằng những chiến thắng
oanh liệt trước giặc xâm lăng, trong số đó phải kể đến chiến thắng vang dội khiến
giặc ngoại xâm phải khiếp sợ đó chính là cuộc kháng chiến chống quân Nguyên
Mông xâm lược lần thứ hai. “Phò giá về kinh” được Trần Quang Khải sáng tác khi
mà quân và dân đã giành chiến thắng vang dội, vua và dân nhà Trần quay về trở về
kinh đô Thăng Long. Đây được coi là bài ca khải hoàn ca đầy lẫy lừng của dân tộc
ta. Bài thơ được viết theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt, bằng chữ hán:
“Đoạt sáo Chương Dương độ,

Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san.”
Mở đầu bài thơ là hai câu thơ nhắc đến 2 chiến thắng lịch sử đánh dấu ấn quan
trọng trong việc phá tan giặc Ngun Mơng đó là chiến thắng tại Chương Dương
và Hàm Tử năm 1285:


“Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan.”
Hai câu thơ có thể được dịch như sau:
“Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù ”.
Chương Dương và Hàm tử chính là hai địa danh thuộc tả và hữu của con sông
Hồng. Dưới sự chỉ huy của vị tướng tài ba Trần Quang Khải quân và dân ta đã
dành chiến thắng vẻ vang tại hai phòng tuyến quan trọng này. Hai câu thơ tùy rằng
không nhắc đến sự khốc liệt của cuộc chiến, đến binh đau đến máu chảy nhưng hai
động từ “đạo sáo” và “cầm hồ” đã thể hiện được ý chí chiến đấu vơ cùng ngoan
cường của qn và dân ta. Lời thơ như đưa ta vào giữa cuộc chiến tranh, được
đứng giữa cái cảm giác nâng nâng của sự chiến thắng, chiến thắng đã vang động cả
đất trời.
“Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san.”
Tương lai của đất nước được Trần Quang Khải suy ngẫm và nhắn nhủ đến tồn thể
dân tộc
“Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu”.
Đây là lời nhắn nhủ của vị tướng tài ba kiệt xuất về tương lai của đất Việt, nền thái
bình là tất cả mọi người từ già trẻ lớn bé, gái trai từ vua đến quân, dân đều phải tự
ý thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ nền thái bình đó “tu trí lực”,muốn như thế

mỗi con người chúng ta cần tu dưỡng phẩm chất, đạo đức, tài năng cống hiến cho
đất nước. tinh thần đoàn kết chính là sức mạnh vượt qua mọi khó khăn thử thách.


Câu kết “Vạn cổ thử giang san” chính là sự nhấn mạnh của Trần Quang Khải kết
quả của sự cố gắng dựng xây và bảo vệ đất nước kia chính là “Non nước” ấy lưu
danh ngàn đời trường tồn đến hàng ngàn năm sau , đây cũng chính là ước mơ của
tác giả hay của chính dân tộc ta về một khát khao mãnh liệt về một thế giới thái
bình trường tồn đến muôn đời. Việc dùng đến gươm đao để đấu lại quân thù chỉ là
giải pháp tình thế mà thơi.
“Phị giá về kinh” đã ra đời đến mấy trăm năm lịch sử nhưng giá trị mà bài thơ để
lại vẫn còn vẹn nguyên cho đến ngày nay. Vị danh tướng tài ba-một nhà thơ lớn
của dân tộc Trần Quang Khải đã dành hết tâm tư của mình cho bài thơ, nhắn nhủ
đến tồn thể nhân dân, chính đồn kết là sức mạnh dẫn đến chiến thắng, đồng thời
cũng nêu lên tinh thần tự hào dân tộc và nhắc nhở mọi người cần tu dưỡng tài
năng, đạo đức cống hiến của tổ quốc.

Mẫu 4:
Thượng tướng Trần Quang Khải là một vị tướng văn võ song tồn, từng có cơng
rất lớn trong hai cuộc chiến chống quân Mông- Nguyên. Sau chiến thắng vang dội
ở Chương Dương, Hàm Tử, chiến thắng giải phóng kinh đơ năm 1285, ơng được
cử đi đón Thái thượng hồng Trần Thánh Tơng và vua Trần Nhân Tông về kinh.
Trên đường đi, ông đã sáng tác bài thơ “Tụng giá hoàn kinh sư”. Đây là khúc khải
hoàn đầu tiên của dân tộc ta trong công cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm.
Hai câu đầu của bài thơ thể hiện chiến thắng hào hùng vang dội của dân tộc ta
trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông xâm lược.


Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan

(Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.)
Như chúng ta đã biết, trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông thời vua
Trần, nhân dân ta đã giành nhiều chiến thắng trong nhiều chiến dịch, nổi tiếng nhất
là chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Nhưng tại sao Trần Quang Khải chỉ nói đến
chiến thắng ở Chương Dương và Hàm Tử mà không hề nhắc đến trận Bạch Đằng?
Phải chăng đây là hai chiến thắng tiêu biểu, có tính quyết định dứt khốt để giành
thắng lợi cuối cùng? Phải chăng nhờ hai chiến thắng này, nhà vua và cả triều đình
sau thời gian sơ tán, được trở về kinh đô, trở về nhà trong niềm vui sướng? Trong
thực tế lịch sử, chiến thắng Hàm Tử diễn ra trước, chiến thắng Chương Dương sau.
Tại sao tác giả lại nói ngược lại, nêu Chương dương trước, sau đó là Hàm Tử? Tìm
hiểu lịch sử, ta thấy rằng, người chỉ huy trận Hàm Tử là tướng Trần Nhật Duật,
Trần Quang Khải chỉ tham gia hỗ trợ. Còn ở trận Chương Dương, Trần Quang
Khải thống lĩnh ba quân, trực tiếp chỉ huy và giành thắng lợi giòn giã, để rồi ngay
sau đó được cử hộ giá nhà vua về kinh. Niềm vui chiến thắng, đi liền với niềm vui
được “phò giá” dồn dập nối tiếp cộng hưởng cho nhau. Có lẽ vì thế mà trong phút
ngẫu hứng, vị tướng đã nhắc ngay đến chiến thắng Chương Dương, rồi mới hồi
tưởng Hàm Tử. Trong cả hai chiến dịch, quân ta đã chiến đấu rất dũng cảm, khí
thế, quyết đoán. Song, tác giả chỉ đúc lại trong hai câu thơ ngắn gọn với hai động
từ mạnh đó là “đoạt” và “cầm”. “Đoạt” nghĩa là “lấy hẳn được về cho mình qua
đấu tranh với người khác”. Như vậy, dùng từ “đoạt sáo”, nhà thơ vừa ghi nhận
chiến công vừa ngợi ca hành động chính nghĩa, dũng cảm của quân ta. Ở Chương
Dương, ta giành được gươm giáo, vũ khí của giặc thì ở Hàm Tử, ta bắt sống được
tướng giặc ngay tại trận. Trong chiến trận chắc chắn có thương vong, tổn hại lực
lượng của cả bên ta lẫn bên địch. Nhưng lời thơ khơng đề cập đến, vì mục đích


chiến đấu của dân tộc ta không phải là giết kẻ thù mà là giành lại nền độc lập, bắt
kẻ thù phải trả lại đất nước cho ta. Giọng thơ khỏe khoắn, hùng tráng, âm điệu tươi
vui, rộn ràng làm ta có cảm giác vị tướng ấy đang ngẩng cao đầu, vừa đi vừa cất

tiếng ngâm thơ.
Có thể nói, hai câu thơ trên đã tái hiện khơng khí chiến thắng oanh liệt, tình cảm
phấn chấn, tự hào của nhà thơ trên đường hộ tống nhà vua về kinh.
Dời xuống hai câu sau, âm điệu thơ như lắng lại. Nhà thơ dường như đang suy
nghĩ về tương lai đất nước:
Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san.
(Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu.)
Đây là lời tự nhủ của vị thượng tướng về tương lai của đất nước, cũng là lời nhắn
nhủ toàn thể quân dân ta bấy giờ. Tiếng nói, khát vọng của một người đã trở thành
động lực, quyết tâm của toàn dân tộc. Trần Quang Khải tự nhắc mình nêu cao tinh
thần trách nhiệm, cố gắng “tu trí lực”, bởi tu dưỡng trí tuệ, rèn luyện sức lực là hai
yếu tố tiên quyết của một con người và một dân tộc nếu muốn làm nên chiến thắng,
muốn xây dựng hịa bình. Đồng thời, ơng động viên quân dân gắng sức, đồng lòng
phát huy thành quả chiến thắng để xây dựng đất nước thanh bình, bền vững dài lâu
chứ không được ngủ quên trên chiến thắng. Câu thơ cuối vừa chỉ ra cái chặng
đường đi tiếp của đất nước vừa bày tỏ lòng mong muốn, niềm khát khao mãnh liệt
về một tương lai tươi sáng muôn đời của dân tộc. Nghĩa của thơ biểu ý, nhưng
nhạc của thơ lại mang tính biểu cảm. Lời răn dạy hài hòa với niềm tin, niềm hi
vọng của quân dân ta.


Hai câu thơ sau là khát vọng hịa bình sau khi giành được chiến thắng vang dội và
sự mong muốn xây dựng nền hịa bình cho đất nước lâu dài. Đây là lời tự nhủ của
vị thượng tướng, đồng thời cũng là lời nhắn nhủ với quân dân: chúng ta khơng
được phép ngủ qn trên chiến thắng. Điều đó thể hiện trí tuệ, biết lường trước
được mọi việc, tầm nhìn xa trông rộng của một vị lãnh đạo tài ba biết lo cho dân
cho nước. Để cho non nước được nghìn thu, hịa bình bền vững, thì khát vọng hịa
bình không chỉ là khát vọng của riêng của người lãnh đạo mà còn là khát vọng

chung của cả dân tộc.
Bằng cách nói chân thành, với câu chữ giản dị, mộc mạc, “Tụng giá hồn kinh sư”
đã thể hiện hào khí chiến thắng vang dội và khát vọng thái bình thịnh trị của dân
tộc ta trong thời đại nhà Trần.

Mẫu 5:
Trần Quang Khải (1241 - 1294) là con thứ ba của vua Trần Thánh Tơng. Ơng được
phong chức thượng tướng vì có cơng rất lớn trong hai cuộc kháng chiến chống
Ngun - Mông (1284 - 1287) và là một trong những anh hùng đã đem tài thao
lược làm nên chiến công Chương Dương, Hàm Tử lừng lẫy muôn đời. Trần Quang
Khải khơng chỉ là một võ tướng kiệt xuất mà cịn là một thi sĩ tài hoa.
Bài thơ Phò giá về kinh (Tụng giá hoàn kinh sư) được sáng tác trong hồn cảnh
thượng tướng cùng đồn tùy tùng đi đón hai vua Trần (vua cha Trần Thánh Tông
và vua con Trần Nhân Tông) về Thăng Long sau khi kinh đô được giải phóng.
Hình thức bài thơ tuy ngắn gọn, cơ đúc nhưng đã thể hiện được hào khí chiến


thắng và khát vọng lớn lao của dân tộc ta ở thời đại nhà Trần. Tác giả đã ghi lại hai
chiến công vang dội của quân và dân Đại Việt vào xuân - hè năm Ất Dậu 1285.
Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
(Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù.)
Chương Dương là bến sông nằm ở phía hữu ngạn sơng Hồng, thuộc huyện Thường
Tín, tỉnh Hà Đông (cũ), nay là Hà Nội. Chiến thắng Chương Dương diễn ra vào
tháng 6 năm Ất Dậu (1285) do Trần Quang Khải trực tiếp chỉ huy. Hàm Tử là địa
danh ở tả ngạn sơng Hồng, thuộc huyện Khối Châu tỉnh Hưng Yên. Chiến thắng
Hàm Tử vào tháng 4 cùng năm do tướng Trần Nhật Duật lãnh đạo cùng với sự hỗ
trợ đắc lực của Trần Quang Khải.
Đây là những trận thủy chiến dữ dội nổ ra trên chiến tuyến sông Hồng. Trận Hàm

Tử diễn ra vào tháng 4, tướng Trần Nhật Duật chém được Toa Đô. Hai tháng sau,
Trần Quang Khải đại thắng giặc Nguyên - Mông tại Chương Dương. Hàng vạn tên
lính xâm lược bị tiêu diệt, hoặc bị bắt làm tù binh. Quân ta chiếm được nhiều chiến
thuyền, vũ khí và lương thảo của giặc.
Hai cụm từ: Đoạt sáo (cướp giáo) và Cầm Hồ (bắt giặc) được đặt ở đầu mỗi câu
thơ giống như những nốt nhấn trong khúc ca đại thắng. Giọng thơ sảng khoái, hào
hùng, phản ánh khí thế bừng bừng của dân tộc ta thời ấy. Từ vua quan, tướng sĩ
đến dân chúng ai cũng hả hê, sung sướng, tự hào.
Hai câu thơ ngũ ngôn tứ tuyệt với nhịp thơ nhanh, gấp và các động từ biểu thị động
tác mạnh mẽ, dứt khoát (đoạt: cướp lấy; cầm: bắt) thể hiện nhịp độ dồn dập, sôi
động, quyết liệt của chiến trận. Tác giả khơng nói nhiều về những chiến công và


cũng không tỏ ra say sưa với chiến thắng nhưng ta vẫn có thể cảm nhận được niềm
phấn khởi, kiêu hãnh vơ bờ tốt lên từ âm hưởng của bài thơ.
Mùa hè năm Ất Dậu là một mốc son trọng đại trong lịch sử chống ngoại xâm của
dân tộc. Hiện thực sôi động đã truyền cảm hứng vào những vần thơ hùng tráng
khiến bài thơ mang đậm phong vị anh hùng ca. Nhà thơ đã sử dụng thủ pháp liệt kê
và phép đối để làm nổi bật hai sự kiện lịch sử mang tầm chiến lược. Chiến thắng
Chương Dương diễn ra sau nhưng lại được nói đến trước là do nhà thơ đang sống
trong khơng khí hào hùng của chiến thắng Chương Dương vừa diễn ra. Kế đó, nhà
thơ làm sống lại khơng khí sơi động của chiến thắng Hàm Tử trước đó chưa lâu.
Hai chiến cơng Chương Dương độ và Hàm Tử quan đã làm thay đổi cục diện thế
trận của quân ta. Từ chỗ rút lui theo chiến lược, quân ta đã tiến lên phản công như
vũ bão. Mới ngày nào, 50 vạn quân Nguyên do tướng Thoát Hoan cầm đầu ồ ạt
sang cướp phá nước ta. Kinh thành Thăng Long chìm trong khói lửa ngút trời. Hai
mũi tấn công của giặc từ Nam Quan đánh xuống, từ Chiêm Thành đánh ra, kẹp lại
như hai gọng kìm sắt. Vận nước lúc đó như "chỉ mành treo chng" nhưng với tài
thao lược của các vị danh tướng, quân ta đã lấy đoản binh chế trường trận, lấy yếu
đánh mạnh. Với chiến thắng Chương Dương và Hàm Tử, quân ta đã giáng sấm sét

xuống đầu lũ giặc phương Bắc hung hăng, ngạo mạn. Kinh thành Thăng Long
được giải phóng. Quân xâm lược đã bị quét sạch ra khỏi bờ cõi nước ta.
Trần Quang Khải là nhà thơ đầu tiên đã đưa địa danh sông núi Đại Việt thân yêu
vào thơ ca. Cái tên Chương Dương và Hàm Tử đã in đậm vào lịch sử chống ngoại
xâm, vào lịch sử văn chương như một dấu son chói lọi. Phải là người trong cuộc,
tha thiết u non sơng gấm vóc của đất nước mình, Trần Quang Khải mới viết
được những câu thơ hào hùng đến thế! Hai câu thơ sau:


Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san.
(Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu.)
Đây là lời vị thượng tướng động viên dân chúng hãy bắt tay ngay vào cơng cuộc
xây dựng, phát triển đất nước trong hịa bình và tin tưởng sắt đá vào sự bền vững
mn đời của Tổ quốc. Danh tướng Trần Quang Khải vừa từ chiến trường trở về,
áo bào cịn vương khói súng, chưa kịp nghỉ ngơi đã lo ngay đến nhiệm vụ trước
mắt cũng như kế sách lâu dài cho quốc gia, dân tộc. Ơng nhấn mạnh: Trong thời
bình, mọi người cần phải dốc hết sức lực để xây dựng non sông. Nước mạnh, dân
giàu thì mới đánh tan được tham vọng ngông cuồng của giặc ngoại xâm, đồng thời
chủ quyền độc lập mới được giữ gìn lâu dài. Điều đó chứng tỏ Trần quang Khải
vừa là một chiến tướng, vừa là một vị đại thần có tài kinh bang tế thế, luôn đặt
trách nhiệm với dân, với nước lên hàng đầu.
Ngôn ngữ bài thơ Phò giá về kinh rất giản dị nhưng ý tưởng chứa đựng bên trong
thật lớn lao. Khi Tổ quốc đứng trước họa xâm lăng thì vua tơi đồng lịng, anh em
hịa thuận, cả nước góp sức (Trần Quốc Tuấn). Trong hịa bình, từ vua quan đến
tướng sĩ, từ vương hầu đến chúng dân, ai ai cũng phải tu trí lực để đất nước Đại
Việt được trường tồn. Câu thơ hàm chứa một tư tưởng vĩ đại, cho thấy tầm nhìn xa
rộng và sáng suốt của Trần Quang Khải.
Tuy bài thơ ra đời cách đây gần tám trăm năm nhưng cho đến nay ý nghĩa của nó

vẫn cịn nguyên vẹn. Bài học rút ra từ bài thơ là nếu chúng ta không chăm lo xây
dựng đất nước hùng mạnh, dân trí mở mang thì làm sao chống lại được ý đồ xâm
lược, đồng hóa của các thế lực phản động nước ngồi đang rình rập, nhịm ngó đất
nước ta?!


Tương tự bài Sơng núi nước Nam, bài thơ Phị giá về kinh cũng thể hiện lòng yêu
nước theo kiểu mộc mạc, tự nhiên nhưng mạnh mẽ, hào hùng. Hai bài thơ đều phản
ánh bản lĩnh vững vàng, khí phách hiên ngang của dân tộc ta. Một bài nêu cao chủ
quyền độc lập thiêng liêng, khẳng định nước Nam là của vua Nam, không kẻ nào
được phép xâm phạm, nếu cố tình xâm phạm tất sẽ chuốc lấy bại vong. Một bài thể
hiện khí thế hào hùng và bày tỏ khát vọng xây dựng, phát triển đất nước trong hịa
bình với niềm tin đất nước sẽ bền vững nghìn thu.
Bài Phò giá về kinh của Trần Quang Khải là một kiệt tác trong thơ văn cổ. Ý thơ
hàm súc, cô đọng; ngôn ngữ thơ giản dị, gợi cảm. Bài thơ thể hiện niềm tự hào to
lớn về sức mạnh chiến thắng của dân tộc ta và làm sống lại những năm tháng hào
hùng đánh đuổi quân xâm lược Nguyên - Mơng. Đồng thời nó nhắc nhở mỗi người
Việt Nam phải biết nâng cao ý thức trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ và xây
dựng đất nước thanh bình, giàu đẹp, bền vững muôn đời.



×