Tải bản đầy đủ (.pdf) (28 trang)

Tom tat luan an: Phân tích kinh tế chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (598.96 KB, 28 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã ngành: 96 20 115
LÊ NGỌC DANH

PHÂN TÍCH KINH TẾ CHUỖI CUNG ỨNG
NGÀNH HÀNG CUA BIỂN
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Cần Thơ , 2022


CƠNG TRÌNH ĐƯỢC HỒN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Người hướng dẫn chính: TS. NGƠ THỊ THANH TRÚC
Người hướng dẫn phụ: TS. TRẦN MINH HẢI
Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng bảo vệ luận án cấp trường
Họp tại: Phòng Bảo vệ luận án tiến sĩ (Phòng họp 3, lầu 2) Nhà
điều hành, Trường Đại học Cần Thơ
Vào lúc: giờ ngày tháng năm

Phản biện 1:
Phạn biện 2:
Xác nhận đã xem lại của Chủ tịch Hội đồng

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Trung tâm Học liệu, Trường Đại học Cần Thơ
- Thư viện Quốc Gia Việt Nam.



i


DANH MỤC CƠNG TRÌNH ĐÃ CƠNG BỐ
Tạp chí quốc tế
1. Le Ngoc Danh and Ngo Thi Thanh Truc (2022). Analysis of factors
affecting the consumption intention of processed sea crabs in big
cities in Vietnam. Journal of the Austrian Society of Agricultural
Economics, Volume 18, Issue 01, January, 2022, 841-849.
Tạp chí trong nước
1. Lê Ngọc Danh và Ngô Thị Thanh Trúc (2022). Quản lý chuỗi cung ứng
ngành hàng cua biển vùng Đồng bằng Sơng Cửu Long. Tạp chí
khoa học thương mại, số (162.1TrEM.11).
2. Lê Ngọc Danh, Ngô Thị Thanh Trúc và Trần Minh Hải (2021). Phân
tích hiệu quả kinh tế mơ hình ni cua-tơm quảng canh vùng Đồng
bằng Sơng Cửu Long. Tạp chí Nông Nghiệp và Phát Triển Nông
Thôn, kỳ 2, tháng 7/2021, trang 155-158.
3. Lê Ngọc Danh và Ngô Thị Thanh Trúc (2021). So sánh hiệu quả kỹ
thuật mơ hình ni cua - tơm ở tỉnh Kiên Giang và Cà Mau. Tạp
chí khoa học và công nghệ đại học Đà Nẵng, Vol 19 No.10, 2021,
trang 20-25.
4. Lê Ngọc Danh, Võ Thị Thanh Lộc và Ngô Thị Thanh Trúc (2019).
Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ cua biển vùng Đồng bằng
sông Cửu Long. Tạp chí kinh tế dự báo, số 15 - Tháng 05/2019,
trang 12-15.
5. Lê Ngọc Danh và Ngô Thị Thanh Trúc (2020). Phương pháp tiếp cận
chuỗi cung ứng ngành hàng thủy sản tại Đồng Bằng Sơng Cửu
Long. Tạp chí tài chính, Kỳ 1 - Tháng 04/2020 (726), trang 155158.
6. Lê Ngọc Danh (2021). So sánh hiệu quả tài chính mơ hình ni cua –

tơm quảng canh ở tỉnh Kiên Giang và Bạc Liêu. Tạp chí kinh tế &
quản trị kinh doanh, số 19 (2021), trang 17-25.
7. Lê Ngọc Danh, Nguyễn Thị Kim Phước và Lê Thị Hồng Hạnh (2022).
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định lựa chọn của nơng hộ với mơ hình
canh tác cua-tơm-lúa tại Tỉnh Kiên Giang. Tạp chí khoa học nơng
nghiệp Việt Nam, số 3/2022.
Kỷ yếu hội thảo
1. Le Ngoc Danh and Ngo Thi Thanh Truc (2022). Technical efficiency
of crab-shrimp farming: a comparison between Kien Giang And Ca
Mau Province. Proceedings of the third international Conference
in Business, Economics & Finance, 522-542, School of Economics,
Can Tho University, 2022
1


2. Lê Ngọc Danh (2019). Thực trạng sản xuất và tiêu thụ cua biển vùng
ĐBSCL. Hội thảo nhung tư tưởng kinh tế quản trị hiện đại trong
bối cảnh tự do hóa thương mại. tháng 10 năm 2020.2020.

2


CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu
Tính cấp thiết về mặt lý thuyết
Trong những năm gần đây trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã
có nhiều nghiên cứu về chuỗi cung ứng ngành hàng thủy sản (Abduho &
Madjos, 2018; Belton et al., 2011; Chojar, 2009; Coronado Mondragon
et al., 2021; Jahan & Islam, 2016; Loc, 2006; Lộc, 2009; Love et al.,
2021; Mojammel et al., 2016; Nga & Tựu, 2020; Patchanee et al., 2017;

Quagrainie et al., 2007; Shamsuddoha, 2007; Thái, 2013; Thu, 2015; Vân,
2010; Vi & Anh, 2010; Xuân & Thu, 2012). Đa phần các nghiên cứu đã
chỉ ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng ngành
hàng thủy sản như “tiết kiệm chi phí trong vận hành, cải thiện chất lượng
sản phẩm thủy sản, tăng cường liên kết dọc và liên kết ngang giữa các tác
nhân trong chuỗi cung ứng”. Ngồi ra có một số ít nghiên cứu về “quản
lý rủi ro trong chuỗi cung ứng, tối ưu hóa trong logistics và cũng cố kênh
phân phối” (Anggrahini et al., 2015; Christopher, 2011; Lin & and Wu,
2016; Love et al., 2021; Panchal et al., 2012 ). Tuy nhiên, các nghiên cứu
về ngành hàng thủy sản chỉ tập trung phân tích nâng cao lợi nhuận hay
chỉ chú trọng đến một khâu nào đó trong chuỗi cung ứng mà chưa chú
trọng đáp ứng toàn bộ quy trình vận hành của chuỗi cung ứng là đúng
chất lượng, đúng thời gian, đúng địa điểm và đúng người tiêu dùng. Ngoài
ra, ngành hàng cua biển là ngành hàng tiêu thụ chủ yếu là tươi sống, chất
lượng cua biển sẽ giảm theo thời gian chờ cùng với rủi ro do hao hụt trong
quá trình vận chuyển là rất lớn và đây cũng là rào cản lớn nhất làm cho
ngành hàng cua biển phát triển chậm. Hiện tại chưa có nghiên cứu nào tại
Việt Nam phân tích sâu và đầy đủ về việc đáp ứng đúng và đủ quy trình
vận hành của chuỗi cung ứng. Chính vì vậy, nghiên cứu chuỗi cung ứng
ngành hàng cua biển sẽ giúp nâng cao chất lượng cua biển trong khâu sản
xuất, tiết kiệm được chi phí vận hành logistics, rút ngắn thời gian chờ
trong vận hàng chuỗi, giảm rủi ro do cua chết và đáp ứng đúng nhu cầu
người tiêu dùng.
Tính cấp thiết về mặt thực tiễn
Năm 2020, Việt Nam có gần 70% dân số hoạt động trong ngành
nuôi trồng thủy sản và mang lại kim ngạch xuất khẩu đạt 8,6 tỷ USD tăng
13% so với năm 2019 (VASEP, 2021).Với tốc độ này thì sản lượng thủy
sản tại Việt Nam sẽ đáp ứng đủ về số lượng yêu cầu các nước nhập khẩu
và đồng thời cũng tiềm ẩn rủi ro như dư sản lượng do thị trường biến động
và giá giảm do chất lượng thủy sản khơng đồng đều. Đồng bằng Sơng

Cửu Long (ĐBSCL) có hệ thống kênh ngòi chằng chịt và hệ sinh thái đa
1


dạng tạo điều kiện thuận lợi cho ngành nuôi trồng thủy sản phát triển.
Tổng diện tích ni trồng thủy sản năm 2019 là 826 nghìn ha với sản
lượng đạt 3,15 triệu tấn (Tổng cục thống kê, 2021). Từ năm 2004 đến
2014 ĐBSCL chủ yếu xuất khẩu hai mặt hàng thủy sản chính là tơm và
cá tra. Nhưng, từ năm 2015 trở lại đây ĐBSCL chịu tác động lớn biến đổi
khí hậu như xâm ngập mặn, nhiệt độ tăng, mưa trái mùa từ đó gây ra nhiều
dịch bệnh trên con tơm, trong đó có 22,35% nơng dân bị thua lỗ với mơ
hình ni tơm–lúa (Tuấn, 2018). Trong điều kiện khó khăn này cua biển
(Scylla paramamosain) có đặc tính tăng trưởng nhanh, sức chịu đựng cao
với sự biến đổi của các yếu tố môi trường, khả năng đề kháng với dịch
bệnh, phổ thức ăn rộng, có kích thước lớn, chủ động nguồn giống, giá trị
kinh tế cao và dễ dàng bảo quản sau khi thu hoạch nên cua biển được xem
là đối tượng được người dân chọn nuôi ghép với tôm hiệu quả (Johnston
& Keenan, 1999; Long, 2019b; Nghi et al., 2015a).
Tổng sản lượng cua biển nuôi ở ĐBSCL năm 2020 là 67 nghìn tấn
tăng 19% so với năm 2015 (Tổng cục Thủy Sản, 2020). Lợi nhuận từ việc
chuyển đổi mơ hình nuôi chuyên tôm qua nuôi cua quảng canh bước đầu
mang lại lợi nhuận cao. Trung bình mỗi người dân kiếm lời 30 triệu
đồng/ha/vụ (Nghi et al., 2015a; Việt et al., 2015). Bên cạnh sự tăng trưởng
nhanh về sản lượng cũng như lợi nhuận mang lại cho nơng hộ ni cua
thì ngành hàng cua biển gặp rất nhiều khó khăn trong tiêu thụ cũng như
phát triển ổn định. Chính sự phát triển nhanh chóng và khơng ổn định này
đã mang lại cho ngành hàng cua biển những khó khăn hiện tại như khơng
có quy hoạch vùng ni cụ thể cho cua biển, con giống khơng có kiểm
dịch, sự liên kết hợp tác giữa các tác nhân chưa có, chưa phát triển được
thương hiệu cua biển, chưa có bộ tiêu chuẩn trong khâu sản xuất, chất

lượng cua khơng đảm bảo tính đồng nhất, thời gian vận chuyển và chờ
dài và không đáp ứng đa dạng về sản phẩm cho người tiêu dùng. Từ những
nguyên nhân này đã làm cho ngành hàng cua biển phát triển không ổn
định trong thời gian qua, từ đó làm cho ngành hàng cua biển chủ yếu tiêu
thụ nội địa, chưa xuất khẩu được qua các thị trường quốc tế.
Sản phẩm cua biển nuôi (CBN) chủ yếu là tiêu thụ nội địa, chưa
xuất khẩu thị trường quốc tế (Hiền et al., 2015). Mặc dù, trên thế giới thị
trường tiêu thụ cua biển khá lớn, năm 2019 tổng sản lượng là 187 triệu
tấn, các nước như Mỹ, Trung Quốc, Indonesia, Singapore có thị trường
tiêu thụ hàng đầu (FAO, 2020a). Bên cạnh đó, cua biển đa phần là tiêu
thụ tươi nguyên con và hiện tại ĐBSCL chưa có nhà máy chế biến xuất
khẩu cua biển quy mô lớn mà chỉ có các cơ sở chế biến thơ nhỏ lẻ tại địa
phương. Trong khi đó, khi thời gian chờ của cua biển từ lúc nông hộ thu
hoạch cho đến tay người tiêu dùng cao thì chất lượng thịt giảm và làm
2


giảm giá thành của sản phẩm (Lorenzo et al., 2021; Phương & Hải, 2009;
Quế, 2005a).
Để khắc phục và vượt qua những khó khăn trong ngành hàng cua
biển hiện nay thì phải có cái nhìn đầy đủ, đúng đắn và nghiêm túc về phát
triển quy hoạch vùng nuôi cua xây dựng thương hiệu cua biển vùng
ĐBSCL. Trong điều kiện cua biển bị nhiều sản phẩm thay thế và cạnh
tranh về số lượng và chất lượng thì các tác nhân trong chuỗi cung ứng cua
biển cần hiểu đúng vai trò của việc vận hành chuỗi cung ứng từ việc mua
nguyên liệu đầu vào, sản xuất, quản lý chất lượng cho đến phân phối sản
phẩm tới tay người tiêu dùng. Phân tích kinh tế chuỗi cung ứng gắn liền
với hầu như tất cả các hoạt động của sản xuất, từ việc hoạch định và quá
trình tìm nguồn cung, thu mua, sản xuất thành phẩm, quản lý hậu cần sản
xuất,… đến việc phối hợp với các đối tác, nhà cung ứng, kênh trung gian,

nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng (Shamsuddoha, 2007; Thái, 2013;
Thu, 2015; Vân, 2010; Vi & Anh, 2010; Xuân & Thu, 2012). Trong bối
cảnh tồn cầu hóa ngày nay, đặc biệt là tiến trình hội nhập kinh tế thế giới
thì vai trị của phân tích chuỗi cung ứng càng được coi trọng.
Từ thực trạng hoạt động của các tác nhân ngành hàng thủy sản nói
chung và ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL nói riêng. Trong bối cảnh
hội nhập của nền kinh tế quốc tế, vùng ĐBSCL địi hỏi phải có những giải
pháp thiết thực và hữu hiệu để hoàn thiện chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng
đúng về thời gian, số lượng, chất lượng và đúng người tiêu dùng với giá
cạnh tranh giúp phát triển bền vững ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL.
Xuất phát từ những thực trạng đó nghiên cứu: “Phân tích kinh tế chuỗi
cung ứng ngành hàng cua biển vùng Đồng bằng Sông Cửu Long” làm
luận án tiến sĩ là rất cần thiết.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích kinh tế chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng Đồng
bằng Sơng Cửu Long nhằm nâng cao tính kinh tế chuỗi cung ứng, góp
phần đáp ứng đúng thời gian, địa điểm, chất lượng và người tiêu dùng sản
phẩm cua biển với giá cạnh tranh.
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là phân tích kinh tế chuỗi cung
ứng ngành hàng cua biển (Scylla paramamosain ) vùng ĐBSCL.
Tác nhân cung cấp là (các chủ đại lý vật tư thủy sản, chủ trại giống),
tác nhân sản xuất là nơng hộ ni cua biển ở các tỉnh có diện tích và sản
lượng cua biển lớn nhất ĐBSCL (Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau), tác
nhân phân phối là các tác nhân trung gian tham gia trong chuỗi (thương
lái, vựa, bán sỉ, bán lẻ), tác nhân người tiêu dùng được phỏng vấn người
3



tiêu dùng cá nhân tại ba thành phố Cần Thơ, Hồ Chí Minh và Hà Nội
nhằm phân tích hành vi tiêu dùng và tìm ra các yếu tố ảnh hưởng ý định
mua sản phẩm cua chế biến của người tiêu dùng nội địa trong tương lai
gần.
Không gian nghiên cứu
Đối với nông hộ được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp nông
hộ tại ba tỉnh (Kiên Giang, Cà Mau và Bạc Liêu). Đối với các tác nhân
trung gian và người tiêu dùng trong chuỗi được phỏng vấn trực tiếp theo
mạng quan hệ tại các tỉnh phỏng vấn nông hộ và ba thành phố tiêu thụ
cua biển tại Cần Thơ, Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Thời gian nghiên cứu
Số liệu thứ cấp là các tài liệu liên quan đã được công bố, thời gian
từ năm 2012 đến năm 2020, chủ yếu từ 2016 đến năm 2020.
Số liệu sơ cấp của các tác nhân phân phối phỏng vấn vào năm 2019.
Tuy nhiên, đối với nông hộ và tác nhân cung cấp được phỏng vấn vào vụ
nuôi cua biển năm 2018.
Nội dung nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về chuỗi cung ứng, phân tích kinh tế
chuỗi cung ứng ngành hàng thủy sản
Phân tích kết cấu và vận hành chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển
vùng ĐBSCL.
Phân tích kinh tế chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng
ĐBSCL.
Đề xuất các giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng cua
biển nhằm tăng tính kinh tế chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng
ĐBSCL.
1.4 Những điểm mới của luận án
Sau khi tổng hợp những nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả
nhận thấy rằng có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến chuỗi cung ứng và
đặc biệt là chuỗi cung ứng sản phẩm thủy sản. Tuy nhiên, chưa có nghiên

cứu nào đi chuyên sâu về chuỗi cung ứng của ngành hàng cua biển. Những
nghiên cứu về chuỗi cung ứng trước chỉ đề cập đến một trong những vấn
đề như phân tích kinh tế, phân tích tiêu chuẩn chất lượng, phân tích thời
gian vận hành, phân tích chi phí logistics và phân tích rủi ro trong chuỗi
cung ứng,…Chưa có nghiên cứu nào tích hợp tất cả những vấn đề trên để
tìm ra điểm nghẽn trong xun suốt chuỗi cung ứng. Ngồi ra, luận án
cịn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cua biển trong khâu
sản xuất và phân tích hành vi tiêu dùng để tìm ra ý định mua cua biển chế
biến. Cụ thể luận án đã có những đóng góp sau:
4


Về học thuật
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về vận hành chuỗi cung
ứng và kinh tế chuỗi cung ứng, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cua
biển trong khâu sản xuất và các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua cua
biển của người tiêu dùng trong chuỗi cung ứng cua biển tại Việt Nam. Do
vậy, kết quả của nghiên cứu sẽ có những đóng góp nhất định vào việc
hoàn thiện khung lý thuyết về chuỗi cung ứng. Nghiên cứu bổ sung lý
luận phân tích tổng hợp về kinh tế chuỗi, tiêu chuẩn chất lượng, thời gian
vận hành, chi phí logistics và rủi ro cho một ngành hàng.Nghiên cứu đã
tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cua biển trong khâu sản
xuất và kết quả phân tích của luận án giúp bổ sung thêm biến (quyết định
bắt cua Y4; số lượng bẫy cua, thời gian nuôi) cho các nghiên cứu sau.
Nghiên cứu đã tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua cua biển
chế biến và kết quả phân tích của luận án giúp bổ sung thêm biến (thu
nhập; nhận thức về an toàn vệ sinh thực phẩm; nhận thức về sức khỏe;
nhận thức về sự tiện lợi; nhận thức về xã hội) cho các nghiên cứu sau.
Nghiên cứu là một công trình thử nghiệm kết hợp giữa nghiên cứu hàn
lâm lặp lại và nghiên cứu ứng dụng, qua đó xây dựng và kiểm định mơ

hình nghiên cứu với các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua cua biển và
các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cua biển trong khâu sản xuất. Chính
vì vậy, kết quả nghiên cứu phản ánh độ tin cậy cũng như bổ sung và phát
triển về mặt phương pháp luận trong đánh giá chuỗi cung ứng và đề xuất
các giải pháp khả thi.
Về thực tiễn
Nghiên cứu kinh tế chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển đang là
một lĩnh vực còn mới tại Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu giúp cho các
nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong ngành hàng cua biển có cái nhìn
đầy đủ và toàn diện hơn về một phương thức tiếp cận kinh tế chuỗi cung
ứng ngành hàng cua biển. Đồng thời nghiên cứu còn nhận diện các yếu tố
cơ bản và vai trò tác động của chúng đến chất lượng cua biển trong khâu
sản xuất. Ngồi ra, cịn tìm ra được các nhân tố ảnh hưởng đến ý định
mua cua biển chế biến của người tiêu dùng. Đây sẽ là điều kiện để triển
khai những nghiên cứu ứng dụng hoặc có những giải pháp phù hợp để
nâng cao kinh tế chuỗi cung ứng cua biển vùng ĐBSCL. Nghiên cứu này
là một thể nghiệm vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu đó
là phương pháp định tính và định lượng như phân tích tài chính (Cost and
Return Analysis-CRA), phân tích hồi quy đa biến, phân tích Cronbach
Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích hồi quy nhị phân.
Mỗi phương pháp được vận dụng phù hợp theo từng nội dung nghiên cứu
trong luận án.
5


CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan cơ sở lý thuyết chuỗi cung ứng
Các khái niệm cơ bản
Cho đến nay, có rất nhiều cơng trình nghiên cứu về chuỗi cung ứng
theo nhiều cách tiếp cận khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau về

thuật ngữ “chuỗi cung ứng” bao gồm:
Theo Lambert (2008) cho rằng chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa
các doanh nghiệp nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ ra thị trường. Tuy
nhiên theo nghiên cứu của Betts & Tadisina (2009) chuỗi cung ứng là tập
hợp của 3 thực thể hoặc nhiều hơn (có thể là pháp nhân hoặc thể nhân)
liên quan trực tiếp đến dòng chảy qua lại của sản phẩm, dịch vụ, tài chính
và thông tin từ nguyên liệu đến khách hàng.
Cấu trúc vật lý
Cấu trúc vật lý chuỗi cung ứng liên kết nhiều doanh nghiệp độc lập
với nhau, mỗi doanh nghiệp có cấu trúc, tổ chức riêng bên trong tương
ứng với đặc điểm hoạt động và mục tiêu riêng. Đồng thời, cấu trúc doanh
nghiệp phải “mở” để liên kết hoạt động với các thành viên khác trong
chuỗi thông qua mối quan hệ với khách hàng ở phía trước, nhà cung cấp
ở phía sau và các doanh nghiệp hỗ trợ xung quanh. Các doanh nghiệp
thực hiện các quá trình tạo ra sản phẩm/dịch vụ được gọi là thành viên
chính của chuỗi (Ivanov, 2018). Theo nghiên cứu của Croxton et al.,
(2001) cho rằng các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bảo hiểm, tư vấn, cho
thuê tài sản cho những thành viên chính gọi là các thành viên hỗ trợ .
Vận hành của chuỗi cung ứng
Trong chuỗi cung ứng có 3 dịng chảy cơ bản xun suốt chiều dài
của chuỗi là dòng sản phẩm/dịch vụ, dòng thơng tin và dịng tài chính
(Christopher, 2011).
Dịng sản phẩm/dịch vụ
Dịng thơng tin trong chuỗi cung ứng:
Dịng tài chính:
2.2 Kinh tế chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL
Phân tích kinh tế chuỗi cung ứng
Phân tích kinh tế chuỗi thơng qua việc phân tích tài chính (Cost
and Return Analysis - CRA) cho từng tác nhân trong chuỗi cung ứng cũng
như phân tích cho tồn bộ chuỗi cung ứng. Xác định các chỉ tiêu sản lượng,

doanh thu, chi phí, giá bán, lợi nhuận của các tác nhân tại các khâu trong
chuỗi nhằm đánh giá năng lực, hiệu quả vận hành của chuỗi (Concina,
2014). Phân tích tài chính là một trong những trọng tâm của phân tích
ngành hàng. Phân tích tài chính là phân tích hiệu quả kinh doanh của các
6


tác nhân trong ngành hàng dựa vào khung tính tốn bảng. Một số điều cầu
lưu ý khi phân tích tài chính (Mamun, 2011) Chỉ kể tới những phần mua
bán ra mà khơng tính tới phần tự sản xuất, tự tiêu dùng nội bộ. Cần phải
xác định được hệ thống giá thị trường cho tất cả các khoản mục phân tích;
các hệ số kỹ thuật có liên quan để tính luồng vật chất lưu chuyển qua từng
tác nhân. Đối với khoản mục tiền lương và phụ cấp, chỉ tính khoản tiền
cơng phải trả cho lao động th ngồi. Khi phân tích tài chính có thể tiến
hành phân tích cho tồn bộ luồng vật chất của hàng ngành trong phạm vi
phân tích hoặc có thể phân tích theo một đơn vị khối lượng sản phẩm của
các tác nhân đầu tiên trong ngành hàng sau đó suy ra cho cả ngành hàng.
Trong nghiên cứu này tơi tiến hành phân tích theo một đơn vị khối lượng
sản phẩm của các tác nhân đầu tiên trong ngành hàng sau đó suy ra cho
cả ngành hàng.
Chất lượng sản phẩm thủy sản
Chất lượng thủy sản đề cập đến giá trị khách quan hoặc chủ quan
được quy cho một hoặc cả bốn đặc tính định tính được xác định. Chất
lượng sản phẩm thủy sản ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu trong chuỗi
cung ứng và tác động đến kinh tế chuỗi. Tùy theo loại thủy sản mà chất
lượng có thể bao gồm 04 đặc tính dinh dưỡng, an tồn, chức năng và thuộc
tính cảm quan. Việc đánh giá chất lượng sản phẩm thủy sản sẽ liên quan
đến các yếu tố: nghiên cứu sản phẩm, trải nghiệm, niềm tin và các thuộc
tính khác (Migliore et al., 2015). Trong đó, việc nghiên cứu hàng hóa
được thực hiện trước khi mua (giá cả, màu sắc, kích cỡ), việc trải nghiệm

sẽ được đánh giá sau quá trình mua và tiêu thụ sản phẩm (mùi, vị), niềm
tin liên quan đến yếu tố an tồn thực phẩm (khơng nhiễm hóa chất hay vi
sinh) và những thuộc tính khác khơng thể quan sát cả trước và sau khi
tiêu dùng như phương pháp sản xuất hay nơi sản xuất (Ivanov et al., 2019;
Varzakas & Tzia, 2015). Bên cạnh đó tại thị trường cua biển ở Việt Nam
thì cua biển được quy định theo bộ tiêu chí về chủng loại, kích thước và
chất lượng cua biển (Chợ đầu mối Bình Điền, 2020). Dựa vào loại cua
chia thành 3 loại cua chính cua thịt (cua đực hay cua cái ko có gạch trên
180g), cua gạch (cua cái có trứng trên 200g) và cua xô (cua bị mất càng,
que hay bị mềm vỏ). Tuy nhiên, từng loại cua khác nhau dựa vào kích
thước và giới tính thì thị trường chia cua biển thành 4 loại, trong đó có 3
loại đạt tiêu chuẩn chất lượng (cua Y1, Y4, Gạch) và 1 loại không đạt tiêu
chuẩn về chất lượng (cua xô).
Thời gian chờ trong chuỗi cung ứng
Hiệu suất chuỗi cung ứng trong lĩnh vực nông nghiệp, kết quả cho
thấy hiệu quả, linh hoạt, đáp ứng nhanh một trong những thành phần quan
trọng và là cơ sở cho hệ thống phương pháp đo lường hiệu suất của chuỗi
7


cung ứng nơng nghiệp - thực phẩm (Aramyan, 2007). Ngồi ra, hiệu quả
thời gian hoạt động bao gồm mức độ linh hoạt về khối lượng, tốc độ giao
hàng, độ tin cậy, sự tiện lợi và rõ ràng, xác nhận đơn hàng nhanh (Betts
& Tadisina, 2009). Trong khi đó cũng có định nghĩa về hiệu quả thời gian
chờ là hoạt động khách hàng theo các tiêu chí đã được đề xuất như sau (i)
thời gian từ khi nhận đơn hàng đến khi giao hàng là ngắn nhất; (ii) khả
năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng; (iii) khả năng đáp ứng số lượng
mua hàng của khách hàng; (iv) khả năng đáp ứng sự thay đổi linh hoạt
trong giao hàng như số lượng, cơ cấu; (v) khả năng đáp ứng thời gian giao
hàng cho khách hàng (Dore, 2000). Trong chuỗi cung ưng sản phẩm thuỷ

sản việc phân tích hiệu quả thời gian chờ sẽ giúp nâng cao chất lượng sản
phẩm đáp ứng đúng thời gian theo nhu cầu của người tiêu dùng (Ralahallo,
2021).
Chi phí logistics trong chuỗi cung ứng
Logistics chuỗi cung ứng là dịng vận động của ngun vật liệu,
thơng tin và tài chính giữa các cơng ty (các xưởng sản xuất, các cơ sở
trong công ty) trong một chuỗi thống nhất. Đó là một mạng lưới các cơ
sở hạ tầng (nhà máy, kho hàng, cầu cảng, cửa hàng), các phương tiện (xe
tải, tàu hoả, máy bay, tàu biển) cùng với hệ thống thông tin được kết nối
với nhau giữa các nhà cung ứng của một công ty và các khách hàng của
cơng ty đó. Các hoạt động logistics (dịch vụ khách hàng, quản trị dự trữ,
vận chuyển và bảo quản hàng hoá) được liên kết với nhau để thực hiện
các mục tiêu trong chuỗi cung ứng trong chuỗi cung ứng là tính tương tác
và sự kết nối giữa các chủ thể trong chuỗi thơng qua 3 dịng liên kết:
(Nyhuis & Wiendahl, 2008)
Rủi ro trong chuỗi cung ứng
Rủi ro có liên quan đến xác suất gắn với tình huống xuất hiện của
các sự kiện có ảnh hưởng đến kết quả của quá trình ra quyết định (Ellis,
1992). Ngồi ra, rủi ro liên quan đến sự khác biệt giữa kết quả nhận được
và kết quả kỳ vọng trong các hoạt động mang tính chất khơng chắc chắn,
có liên quan đến xác suất (Concina, 2014). Trong kinh tế học, rủi ro liên
quan đến sự khơng chắc chắn, bất kể các tác động là tích cực hay tiêu cực.
Một hoạt động rủi ro có nghĩa là có thể xuất hiện các sự kiện mà kết quả
của chúng là không chắc chắn (Dave & Saffer, 2007).
Nhu cầu người tiêu dùng cua biển trong chuỗi cung ứng
Trong phân tích chuỗi cung ứng ngành hàng từ cung cấp-sản xuấttiêu thụ thì tác nhân người tiêu dùng đóng vai trò hết sức quan trọng và
quyết định sự phát triển của sản phẩm đó trong chuỗi cung ứng (Rohm et
al., 2017). Phân tích chuỗi cung ứng có thể chỉ có liên quan gián tiếp với
các vấn đề xung quanh hành vi của người tiêu dùng đối với việc duy trì
8



và thúc đẩy sự hài lòng của khách hàng. Vai trò của chuỗi cung ứng là
một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy sự thành công của tổ chức. Ở
một góc độ riêng, hành vi của người tiêu dùng cũng là một yếu tố cần
thiết đối với khả năng tồn tại của chuỗi cung ứng trong những năm tiếp
theo (Anantadjaya et al., 2007; D'amico et al., 2014).

9


CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Đối với khâu cung cấp (chủ đại lý giống, vật tư thủy sản): Căn
cứ vào tác nhân sản xuất là nông hộ nuôi cua biển, tác nhân cung cấp là
các chủ đại lý giống vật tư thủy sản trên địa bàn các huyện (An Minh, An
Biên và Vĩnh Thuận) thuộc tỉnh Kiên Giang, Tại huyện (Năm Căn, Đầm
Dơi và Ngọc Hiển) của tỉnh Cà Mau, huyện (Giá Rai, Phước Long và
Đông Hải) thuộc tỉnh Bạc Liêu.
Đối với khâu sản xuất (nông hộ nuôi cua biển): Căn cứ vào tiêu
chí sản lượng cua biển của các tỉnh vùng ĐBSCL năm 2018 luận án chọn
ba tỉnh gồm các tỉnh có sản lượng cua biển lớn nhất là Kiên Giang, Cà
Mau và Bạc Liêu (ĐBSCL, 2018). Từ cơ cấu phân bổ diện tích và sản
lượng cua biển của các huyện tại ba tỉnh. Luận án quyết định chọn mỗi
tỉnh ra ba huyện và trên mỗi huyện chọn ba xã và mỗi xã chọn ba ấp theo
tiêu chí diện tích và sản lượng lớn nhất để làm vùng nghiên cứu. Tại tỉnh
Kiên Giang có 03 huyện (An Minh, An Biên, Vĩnh Thuận) có sản lượng
cua biển cao nhất (chiếm 90% tồn tỉnh). Tại tỉnh Cà Mau có 03 huyện
(Năm Căn, Đầm Dơi, Ngọc Hiển) có sản lượng chiếm 60% tồn tỉnh và

tỉnh Bạc Liêu có 03 huyện (Giá Rai, Phước Long và Đơng Hải) có sản
lượng chiếm 70% tồn tỉnh.
Đối với tác nhân thương lái, vựa, bán sỉ, lẻ truyền thống, lẻ
hiện đại, người tiêu dùng cá nhân, người tiêu dùng doanh nghiệp
phỏng vấn theo mạng quan hệ.
3.4 Phương pháp phân tích
Phân tích kinh tế chuỗi cung ứng
Phân tích kinh tế chuỗi cung ứng là đánh giá năng lực, hiệu quả
kinh tế của chuỗi. Nó bao gồm việc xác định lợi nhuận tại các giai đoạn
trong chuỗi cung ứng, chi phí sản xuất và thu nhập của các nhà vận hành.
Nói cách khác, mục tiêu của phân tích hiệu quả kinh tế chuỗi là xác định
lợi ích và chi phí của mỗi tác nhân trong tồn chuỗi. Từ đó, đề xuất các
giải pháp nhằm tăng lợi nhuận của mỗi tác nhân cũng như của toàn chuỗi
cung ứng.
Các yếu tố ảnh hưởng chất lượng cua trong khâu sản xuất
Trong luận án này chất lượng cua biển được đánh giá theo tiêu
chuẩn thị trường cua đạt chất luowgj và cua không đạt chất lượng. Chính
vì vậy, mà các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cua biển nuôi chủ yếu là
các yếu tố về con người (Kinh nghiệm; Tập huấn) (Mangun et al., 2021;
Phong et al., 2021), các yếu tố về quy trình ni (Số lần thu hoạch; Thời
10


gian nuôi; Cải tạo ao; Con giống) (Cao & Diana, 2009; Samah &
Kamaruddin, 2015; Stadtler et al., 2015) và cuối cùng là các yếu tố về
nguồn lực nông hộ (Quyết định bắt cua Y4; Số lượng lú) (Cao & Diana,
2009; Kamaruddin & Baharuddin, 2015; Samah & Kamaruddin, 2015).
Nghiên cứu tiến hành dựa trên phỏng vấn 308 nông hộ nuôi cua biển. luận
án sử dụng mơ hình hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để nghiên
cứu mối liên hệ tuyến tính giữa các nhân tố độc lập (biến độc lập) Xi và

chỉ tiêu Y nào đó (biến phụ thuộc). Trong đó, các Xi ảnh hưởng đến Y và
Y được xem là phụ thuộc vào các Xi. “Mục tiêu của phân tích hồi quy là
mơ hình hóa mối liên hệ bằng một mơ hình tốn học nhằm thể hiện một
cách tốt nhất mối liên hệ giữa X và Y” (Davison & Tsai, 1992; Krämer &
Sonnberger, 2012; Nam, 2008). Mơ hình hồi quy tuyến tính có dạng:
Y = β0 + β1 X1 + β2 X2 + ... + βn Xn
Với Y: là biến phụ thuộc thể hiện chất lượng cua biển trong khâu
sản xuất, đo lường bằng thang đo (%) được tính bằng sản lượng cua xơ
(cua khơng đạt chất lượng)/ (tổng sản lượng các loại cua). Lưu ý rằng
“cua xô không đạt chất lượng” được định nghĩa như là cua bị lỗi phần
phụ, mềm vỏ, không đạt tỷ lệ thịt và kích thước.
Phân tích chi phí logistics trong chuỗi cung ứng
Chi phí logistics (logistics cots) bao gồm: Chi phí cơ hội vốn (suất
sinh lời tối thiểu mà các tác nhân kiếm được khi vốn không đầu tư cho
hàng tồn trữ mà cho một hoạt động khác); chi phí vận tải (chi phí lưu
thơng phân phối), chi phí bảo quản hàng hóa (chi phí th kho bãi, bảo
quản hàng hóa, đưa hàng hóa vào kho, hàng bị hư hỏng, bảo hiểm cho
hàng hóa (Martin, 2016).
Thì chi phí logistics được xác định bằng cơng thức sau:
Clog = C3 + C4 +C5
Trong đó:
C3: Chi phí vận tải
C4: Chi phí cơ hội vốn cho hàng tồn trữ
C5: Chi phí bảo quản hàng hóa
Phân tích rủi ro trong chuỗi cung ứng
Trong chuỗi cung ứng, tác nhân phía trước cung cấp sản phẩm cho
tác nhân đứng sau nó mà trong mỗi tác nhân đều chứa đựng những rủi ro,
do đó nếu một khâu nào xảy ra vấn đề sẽ ảnh hưởng đến tồn chuỗi. Vì
vậy, chúng ta cần hạn chế rủi ro vì tác động của nó đến chi phí, hiệu quả
sản xuất, chế biến và hoạt động tiếp thị. Đặc biệt là những rủi ro xảy ra

dọc theo chuỗi cung ứng (Concina, 2014; Dave & Saffer, 2007; Merrill,
2007). Trong phân tích rũi ro đối với ngành hàng cua biển vùng ĐBSCL
chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích thơng kê mơ tả phân tích tập
11


trung rủi ro trong khâu sản xuất của nông hộ. Trong khâu tiêu thụ chủ yếu
tập trung tính rủi ro do cua chết trong quá trình vận chuyển, quá trình chờ
và biến đổi giá do giảm chất lượng thịt trong cua.
Phân tích thời gian chờ trong chuỗi cung ứng ngành hàng cua
biển vùng ĐBSCL
Just in Time (JIT): JIT có thể được định nghĩa là một hệ thống được
thiết kế để loại bỏ sự lãng phí trong một tổ chức. Lãng phí là bất cứ điều
gì mà khơng trực tiếp tạo thêm giá trị cho các sản phẩm, đặc biệt là lãng
phí thời gian làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và tăng chi phí
(Hirano, 2009; Panchal et al., 2012). Mơ hình JIT giúp cải thiện chất
lượng, giảm lượng hàng tồn kho và cung cấp động lực tối đa để giải quyết
vấn đề ngay khi chúng xảy ra trong quá trình cung ứng (Chan et al., 2010;
Lai & Cheng, 2016). Mơ hình JIT cũng ảnh hưởng đến chất lượng thực
phẩm và các tác động của nó đến chất lượng sản phẩm trong ngành công
nghiệp thực phẩm. Thống kê mô tả được triển khai để cung cấp một hình
ảnh của các khía cạnh JIT và cơ chế chất lượng. Hồi quy và tương quan
chuẩn được sử dụng để kiểm định giả thuyết sản xuất JIT có một tác động
tích cực đến chất lượng thực phẩm. Phân tích nhân tố được áp dụng để
tìm hiểu những tác nhân quan trọng của mơ hình JIT trong các ngành cơng
nghiệp thực phẩm. Dựa trên khảo sát 198 công ty ở Nam Carolina, Mỹ,
đã dẫn đến kết luận rằng mơ hình JIT mang lại tác động tích cực đến chất
lượng thực phẩm (Chan et al., 2010; He & Hayya, 2002; Panchal et al.,
2012).
Phân tích nhu cầu người tiêu dùng cua biển tại Việt Nam

Mơ hình hồi quy nhị phân được sử dụng với 6 biến định tính bao
gồm: giới tính, độ tuổi, thu nhập bình qn/tháng, trình độ học vấn, nghề
nghiệp, có ý định mua cua biển chế biến và các biến độc lập kỳ vọng thu
được từ phân tích nhân tố khám phá EFA. Tiến hành đưa biến phụ thuộc
và các biến độc lập kỳ vọng vào phân tích hồi quy nhị phân, thu được các
mơ hình hồi quy nhị phân, từng bước một loại bỏ dần các biến độc lập
khơng có ý nghĩa thống kê đối với biến phụ thuộc cho tới khi thu được
mơ hình tối ưu (ở mức ý nghĩa lựa chọn, các biến độc lập trong mơ hình
đều có tác động tới biến phụ thuộc Y).
Mơ hình logic dự kiến:
𝑃(𝑌 = 1)
log 𝑒 [
] = 𝛽0 + 𝛽𝑖 𝑋𝑖 + 𝛽𝑗 𝑁𝑗
𝑃(𝑌 = 0)
Trong đó:
Y = 1 nếu có ý định mua cua chế biến trong tương lai và ngược lại
Y = 0 nếu khơng có ý định mua cua biển chế biến trong tương lai.
βi: hệ số ước lượng, đo lường sự thay đổi trong tỷ lệ của khả năng
12


xảy ra sự kiện, với 1 đơn vị thay đổi trong biến độc lập Xi.
Xi: là các biến đặc điểm cá nhân của người tiêu dùng
𝛽𝑗 : hệ số ước lượng, đo lường sự thay đổi trong tỷ lệ của khả năng
xảy ra sự kiện, với 1 đơn vị thay đổi trong biến độc lập Xi.
𝑁𝑗 : là các biến định tính các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua cua
biển chế biến của người tiêu dùng ở bước phân tích nhân tố khám phá
EFA.
Phân tích ma trận SWOT
Theo nghiên cứu của (Gordijn et al., 2018) của trung tâm nghiên

cứu và đổi mới của đại học Wageningen Hà Lan đưa ra phương pháp phân
tích SWOT bao gồm các nguyên nhân gây ra điểm tốt, điểm xấu cũng như
viết lại điểm tốt và điểm xấu dạng cơ hội và thách thức bao gồm 7 bước.

13


CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thực trạng nuôi cua biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Thực trạng diện tích ni cua biển vùng Đồng bằng sơng Cửu
Long
Tại Kiên Giang diện tích ni trồng thủy sản năm 2019 là 195
nghìn ha; tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2019 đạt 9,04%/năm; sản
lượng ni trồng thủy sản tăng bình qn 8,8%/năm, sản lượng ni trồng
năm 2020 đạt 264 nghìn tấn. Theo báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh Kiên
Giang năm 2020 thì tổng diện tích ni trồng thủy sản tồn tỉnh là 271
nghìn ha, tăng khoảng 62,2 nghìn ha so với năm 2015, tốc độ tăng trung
bình là 5,6%/năm. Trong đó, diện tích mơ hình cua biển chiếm tỷ trọng
lớn trong cơ cấu ni tơm của tỉnh với tổng diện tích năm 2020 là 73
nghìn ha, chiếm khoảng 27% tổng diện tích ni trồng thủy sản tồn tỉnh
trung bình tăng 7,55%/năm, trong đó huyện An Minh, An Biên và Vĩnh
thuận là ba huyện có diện tích cao nhất tỉnh.
Tại tỉnh Cà Mau, thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn và trở thành
tỉnh dẫn đầu cả nước về nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thủy sản trong
nhiều năm. Với nhiều tiềm năng, lợi thế rất lớn về phát triển thủy sản, đặc
biệt là nuôi tôm, với ba mặt giáp biển, chiều dài bờ biển trên 254 km, có
trên 80 cửa sơng thông ra biển chịu ảnh hưởng bởi hai chế độ triều đặc
trưng của vùng biển Đông và biển Tây.
Tại tỉnh Bạc Liêu, đây là một tỉnh ven biển vùng bán đảo Cà Mau
với tổng diện tích tự nhiên là 247 nghìn ha, trong đó diện tích ni trồng

thủy sản đạt 128 nghìn ha với điều kiện khí hậu, đất đai, nguồn nước đa
dạng (ngọt, lợ, mặn) rất thuận lợi cho ngành ni trồng thủy sản nói chung
và ngành cua biển nói riêng.
4.1.1.1 Thực trạng sản lượng cua biển vùng Đồng bằng Sông
Cửu Long
Từ năm 2016 đến năm 2020, cua biển của vùng ĐBSCL là nơi được
coi là vựa cua của Việt Nam. Sản lượng cua biển chiếm 73% tổng sản
lượng cua cả nước. Năm 2020 tồn vùng đạt 68 nghìn tấn, tăng gần 8,2%
tổng sản lượng trong vòng 5 năm. Bên cạnh đó, năng suất trung bình cua
biển năm 2016 là 143 kg/ha đến năm 2020 là 146 kg/ha . Điều này cho
thấy, năng suất trung bình của cua biển là rất thấp, nguyên nhân là do trình
độ canh tác của người dân và đây là đối tượng được nuôi với các hình
thức như quảng canh, quảng canh cải tiến, nuôi ghép với tôm và nuôi
trong rừng ngập mặn. Các tỉnh như Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu là có
sản lượng cao nhất vì đây là 3 tỉnh có diện tích ni cua lớn nhất vùng
14


ĐBSCL
Theo báo cáo của sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang năm 2020 thì
mức sản lượng cua biển năm 2020 đạt 20 nghìn tấn trung bình tăng 11%
so với năm 2019. Trong đó, ba huyện có diện tích và sản lượng cao nhất
tỉnh là huyện An Minh với sản lượng cao nhất 14,5 nghìn tấn/năm đứng
thứ 2 là huyện An Biên với sản lượng là 3 nghìn tấn/năm và thứ 3 là huyện
Vĩnh Thuận là 1,3 nghìn tấn/năm.
Theo báo cáo của sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau năm 2020 thì mức
sản lượng cua biển đạt 24 nghìn tấn. Trong đó, ba huyện có diện tích và
sản lượng cao nhất tỉnh là huyện Năm Căn với sản lượng cao nhất 5,8
nghìn tấn/năm đứng thứ 2 là huyện Cái Nước với sản lượng là 5,2 nghìn
tấn/năm và thứ 3 là huyện Đầm Dơi là 4,9 nghìn tấn/năm.

Theo báo cáo của sở NN&PTNT tỉnh Bạc Liêu năm 2020 thì mức
sản lượng cua biển đạt 10 nghìn tấn. Trong đó, ba huyện có diện tích và
sản lượng cao nhất tỉnh là huyện Đông Hải với sản lượng cao nhất 5,1
nghìn tấn/năm đứng thứ 2 là Thị xã Giá Rai với sản lượng là 2,7 nghìn
tấn/năm và thứ 3 là huyện Phước Long là 1,4 nghìn tấn/năm.
4.2 Phân tích kinh tế chuỗi cung ứng ngành hàng cua biển vùng
ĐBSCL
Phân tích hiệu quả tài chính tác nhân cung cấp đầu vào
Trong q trình sản xuất giống cua chi phí thức ăn chiếm tỷ trọng
cao nhất 30% trong cơ cấu chi phí sản xuất giống cua, chi phí thức ăn bao
gồm thức ăn tổng hợp cho, thức ăn tươi sống (artemia) và thức ăn chế
biến (tảo hộp) cho ấu trùng cua. Chi phí lao động chiếm khoảng 25% tổng
chi phí sản xuất giống, đa phần các trại giống cua chủ yếu sử dụng lao
động nhà chỉ có một số trại sử dụng lao động thuê. Chi phí cua mẹ chiếm
20% tổng chi phí trong sản xuất giống. Ngồi ra các chi phí khác như
thuốc, hóa chất, thuế, vận chuyển chiếm khoảng 20% tổng chi phí. Tuy
nhiên, trong sản xuất cua giống tổng chi phí chỉ bằng 25% tổng doanh thu
vì vậy mà lợi nhuận từ việc sản xuất giống là rất cao nhưng rủi ro cũng
rất cao (Lễnh, 2018).
Phân tích hiệu quả tài chính tác nhân sản xuất
Hiệu quả tài chính của mơ hình ni cua-tơm kết hợp được phân
tích qua các chỉ tiêu như doanh thu trên chi phí (doanh thu/chi phí), lợi
nhuận trên chi phí (lợi nhuận/chi phí), lợi nhuận trên doanh thu (lợi
nhuận/doanh thu). Chỉ tiêu doanh thu/chi phí khi chưa tính lao động gia
đình là 4,999 lần. Có ý nghĩa là khi nơng hộ đầu tư 1 triệu đồng chi phí
trên 1000m2 cho việc ni cua-tơm thì nơng hộ sẽ thu được 4,999 triệu
đồng doanh thu, cũng như là doanh thu gấp 5 lần chi phí. Nhưng khi tính
15



chi phí lao động gia đình thì giảm xuống cịn 2,562 lần, có ý nghĩa là khi
nơng hộ bỏ ra 1 triệu đồng chi phí trên 1000m2 ni cua-tơm quảng canh
thu được 2,562 triệu đồng doanh thu, doanh thu gấp 2,5 lần chi phí. Chỉ
tiêu lợi nhuận/chi phí khi chưa tính lao động gia đình thì chỉ số lợi nhuận
trên chi phí là 3,999 lần, có ý nghĩa là khi nơng hộ đầu tư 1 triệu đồng chi
phí trên 1000m2 cho việc ni cua-tơm quảng canh thì nơng hộ thu được
3,999 triệu đồng lợi nhuận, đồng nghĩa với lợi nhuận gấp 4 lần chi phí.
Nhưng khi tính chi phí lao động gia đình thì giảm xuống cịn 1,562 lần,
có ý nghĩa là khi nông hộ bỏ ra 1 triệu đồng chi phí có tính cơng lao động
gia đình trên 1000m2 nuôi cua-tôm quảng canh thu được 1,562 đồng lợi
nhuận. Lợi nhuận nông hộ sản xuất cua-tôm cao hơn so với mơ hình ni
tơm cơng nghiệp là 0,73 lần (Trang et al.,, 2018) và trồng lúa (0,7 lần)
(Thông et al., 2011). Phân tích hiệu quả tài chính tác nhân phân phối cua
biển vùng ĐBSCL
4.2.2.1 Thương lái
Phần lớn thương lái bán cua cho chủ vựa trong huyện (chiếm 72%)
và sỉ tỉnh (19%) và số ít cịn lại là bán cho lẻ (9%). Sau khi thu mua cua
tại ao của nông dân thương lái trói thêm dây vào cua theo quy cách quy
định của vựa cua. Thương lái chở cua tới bán trực tiếp tại vựa với hình
thức phân loại, chủ vựa kiểm tra chất lượng các loại cua thông qua kinh
nghiệm quan sát dưới ánh đèn và thuơng lượng trực tiếp với thương lái
nếu loại cua không đạt chất lượng. Thương lái được thanh toán bằng tiền
mặt 100% ngay sau khi cân cua, 100%. Hoạt động bán của thương lái là
khơng có hợp đồng mà chỉ thỏa thuận giá qua điện thoại trong ngày với
hình thức chủ vựa điện thoại thương lái cho giá mua các loại cua vào buổi
sáng. Điều này gây khó khăn cho thương lái sẽ khơng chủ động được giá
bán trên thị trường mà phụ thuộc vào chủ vựa địa phương.
4.2.2.2 Vựa cua
Trong hoạt động bán của chủ vựa hình thức thanh tốn của vựa rất
đa dạng nhưg chủ yếu là bán gối đầu từ 3-7 ngày và chủ yếu là khơng có

hợp đồng, chỉ thỏa thuận miệng. Riêng đối với bán cho thương lái Trung
Quốc thì sẽ có thỏa thuận với giá bán và hình thức thanh tốn theo từng
đợt hàng. Thơng thường đối với các nhà bán sỉ thanh toán sau khi nhận
được sản phẩm bằng hình thức tiền mặt hoặc chuyển khoản. Đối với
thương lái Trung Quốc thanh toán theo như thỏa thuận trong hợp đồng
miệng. Đối với bán lẻ thanh toán bằng tiền mặt tại vựa.
16



×