Tải bản đầy đủ (.docx) (55 trang)

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ THUẬT NGỮ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (999.59 KB, 55 trang )


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ THUẬT NGỮ

ĐTĐ: Đái tháo đường
WHO: World Health Organization

Tổ chức Y tế thế giới

USD:

IDF: International Diabetes Federation

Liên đoàn về bệnh Đái tháo đường thế giới


DANH MỤC BẢNG


I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Đặt vấn đề
ĐTĐ là bệnh mãn tính, nằm trong ba căn bệnh có nguy cơ tử vong cao cùng với
tim mạch và ung thư mà xã hội phải đương đầu[9TR][12Tr]. Theo Liên đoàn về ĐTĐ
thế giới (International Diabetes Federation-IDF) năm 2017, cứ 11 người thì có 1 người
bị ĐTĐ (IDF atlas) số người hiện đang mắc bệnh ĐTĐ trên toàn thế giới là 425 triệu
người, tăng khoảng 10 triệu người so với năm 2015 và ước tính sẽ tăng lên 6,3 triệu
người vào năm 2045 [9].
Trong 4 loại ĐTĐ thì ĐTĐ type 2 đang được cả xã hội quan tâm vì nó chiếm
khoảng 90-95% tổng số người mắc bệnh[13,15IDF], thường được phát hiện muộn và khi
phát hiện thì đã có nhiều biến chứng tạo nên gánh nặng lớn về kinh tế cho bệnh nhân và
toàn xã hội[]. Bệnh ĐTĐ không chỉ làm giảm chất lượng sống và gây nguy cơ tử vong
cao cho người bệnh mà cịn gây ra gánh nặng về chi phí điều trị bệnh ở hầu hết các quốc


gia[61n]. Hiện nay, chi phí y tế dành cho bệnh ĐTĐ trên thế giới là 727 tỷ USD, chiếm
12% tổng chi phí y tế trên toàn thế giới[10]. Và đến nay, bệnh ĐTĐ vẫn chưa có phương
pháp điều trị chữa khỏi hồn tồn nên bệnh nhân phải điều trị suốt đời và nếu khơng
được phịng chống, cứu chữa thì bệnh nhân sẽ chịu những biến chứng nặng nề.
Việt Nam nằm trong khu vực Tây Thái Bình Dương-khu vực bị ảnh hưởng nặng
nề nhất của đại dịch thế kỉ “Bệnh ĐTĐ”[ADA17], tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ đang gia
tăng nhanh chóng. Theo cơng bố của Bệnh viện Nội tiết Trung ương, tỷ lệ người mắc
bệnh ĐTĐ năm 2012 tại Việt Nam là 5,7%, trong khi đó, năm 2002 tỷ lệ người mắc
bệnh mới chỉ khoảng 2,7%[11]. Đây là mức gia tăng đáng báo động vì trong 10 năm, tỷ
lệ số người mắc bệnh đã tăng lên hơn gấp đôi và tiếp tục đang tăng nhanh[68].
Sự ổn định glucose máu là một trong những mục tiêu chính về phương diện điều trị
đối với bệnh ĐTĐ. Nhưng nhiều cuộc điều tra về ĐTĐ cho thấy đa số bệnh nhân khơng
kiểm sốt được glucose máu. Theo số liệu chương trình Diabcare-Asia tại Việt Nam, có
70% trường hợp kiểm sốt glucose ở mức kém[12].
Chẩn đốn ĐTĐ ln là một chẩn đoán thận trọng đối với thầy thuốc. Việc chẩn
đoán ĐTĐ đồng nghĩa với việc bệnh nhân phải sử dụng thuốc dài hạn và phải theo một
chế độ tư vấn cũng như quản lý bệnh rất đều đặn và kiên trì nhằm phòng ngừa hoặc làm
chậm sự xuất hiện của các biến chứng. ĐTĐ gây ra rất nhiều biến chứng mạn tính nguy
hiểm, việc phát hiện các biến chứng thường muộn, nhất là ĐTĐ type 2. Theo số liệu
thống kê của IDF- Liên đồn ĐTĐ thế giới thì có khoảng 212.4 triệu người trong lứa
tuổi trưởng thành chiếm 50% dân số khơng được chẩn đốn mắc ĐTĐ type 2 [8]
[IDF2017], và tại thời điểm chẩn đốn cũng đã có một số biến chứng trên bệnh nhân:
bệnh võng mạc 35%[77IDF], bệnh thần kinh ngoại vi 20-30%[, bệnh thận


40%[90,91ADA], tăng huyết áp 60% [41h][61h]. Để chẩn đoán ĐTĐ, hiện nay có thể
dựa vào glucose máu đói, glucose máu sau 2h làm nghiệm pháp dung nạp glucose,
glucose máu bất kì và dựa vào HbA1c. Mỗi xét nghiệm trên đều có những ưu, nhược
điểm riêng, và việc kết hợp các xét nghiệm rất có giá trị trong chẩn đốn, theo dõi bệnh.
Hàng năm có một lượng lớn bệnh nhân ĐTĐ mới được chẩn đốn, khảo sát giá trị

glucose máu đói và HbA1c có ý nghĩa quan trọng đối với nhóm bệnh nhân này trong
việc chẩn đoán cũng như quyết đinh phương hướng điều trị.
Trước tình hình thực tế tại đơn vị, nhằm tìm hiểu về tỷ lệ kiểm sốt chỉ số
Glucose máu đói và chỉ số HbA1C ở bệnh nhân được chẩn đốn ĐTĐ type 2. Từ đó, có
thể đưa ra một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm sốt chỉ số đường huyết đói và
chỉ số HbA1C cũng như nâng cao chất lượng điều trị chúng tôi tiến hành thực hiện đề
tài: “Khảo sát thực trạng kiểm sốt chỉ số Glucose máu đói và HbA1C trên bệnh
nhân mắc bệnh ĐTĐ type 2 đang điều trị ngoại trú tại phịng bệnh mãn tính-TTYT
huyện Đắk R’Lấp, cùng các yếu tố liên quan”
1.2. Câu hỏi nghiên cứu
Tỷ lệ bệnh nhân kiểm sốt được chỉ số Glucose máu lúc đói và chỉ số HbA1c trên
bệnh nhân điều trị bệnh ĐTĐ Ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Đăk R’lấp năm 2019
là bao nhiêu?
1.3. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu chung
Xác định tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát được chỉ số Glucose máu lúc đói và chỉ số
HbA1c trên bệnh nhân điều trị bệnh ĐTĐ Ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Đăk R’lấp
năm 2019.
Mục tiêu cụ thể
Xác định tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát được chỉ số Glucose máu lúc đói trên bệnh
nhân điều trị bệnh ĐTĐ Ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Đăk R’lấp năm 2019
Xác định tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát được chỉ số HbA1c trên bệnh nhân điều trị
bệnh ĐTĐ Ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Đăk R’lấp năm 2019
Khảo sát thực trạng về chi phí điều trị, các thuốc điều trị, chỉ số HA, chỉ số
Triglycerid, chỉ số LDL, chỉ số HDL, chỉ số Creatinin trên bệnh nhân điều trị bệnh ĐTĐ
Ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Đăk R’lấp năm 2019
1.4. Liệt kê và định nghĩa các biến số
1.4.1 Biến số đặc điểm chung người bệnh



Giới tính là biến số giá trị, gồm 2 giá trị: nam, nữ
Tuổi được tính tuổi trịn theo năm dương lịch: Tuổi= 2019- năm sinh
Dân tộc: là biến nhị giá, gồm 2 giá trị: Kinh; khác
Trình độ học vấn là biến thứ tự gồm 3 giá trị: không biết chữ, tiểu học; trung học
cơ sở, phổ thông, trung cấp nghề; cao đẳng, đại học, sau đại học
Nghề nghiệp là biến danh định gồm 7 giá trị: Công nhân, lao động; Viên chức
nhà nước; Doanh nhân; Nội trợ; Thất nghiệp; Nghỉ hưu; khác.
Sử dụng BHYT là biến số:
Địa chỉ (Nơi ở): Biến số danh định tên xã bệnh nhân đang sinh sống
Lối sống:
Tiền sử mắc bệnh của người thân là biến số nhị giá gồm 2 giá trị: Có; Khơng
kg/m2

Chỉ số BMI là biến số thứ tự gồm 3 giá trị: <18.5 kg/m2; 25-29,99 kg/m2; >30

1.4.2 Định nghĩa các biến số yếu tố liên quan đến đặc điểm cận lâm sàng
Chỉ số huyết áp là biến số thứ tự gồm 3 giá trị
Chỉ số Glucose máu đói là biến số thứ tự gồm 3 giá trị: 4,4-6,1mmol/l; <=7
mmol/l; >7 mmol/l.
Chỉ số HbA1c là biến số thứ tự gồm 3 giá trị: <6,2 %; 6,2-8,0 %; >8,0 %.
Chỉ số Cholesterol TP là bình thường nồng độ cholesterol tồn phần có giá trị từ
4-5mmol/l. Nếu chỉ số này lớn hơn mức tiêu chuẩn thì bạn đã nhiễm mỡ máu cao.
Chỉ số Triglycerid là thành phần chính của mỡ động vật và thực vật: Để định
lượng nồng độ triglycerid tồn phần. Bình thường nồng độ triglycerid tồn phần có giá
trị nhỏ hơn 2,3mmol/l. Khi chỉ số này vượt quá tiêu chuẩn thì được gọi là mỡ máu cao.
1.4.3
1.4.4


1.5 Dàn ý nghiên cứu:


Lối sống

Chế độ ăn uống

Sử dụng thuốc

TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ

CHỈ SỐ GLUCOSE MÁU ĐÓI VÀ HBA1C


2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đại cương về ĐTĐ
2.1.1 Khái niệm
Theo hướng dẫn mới nhất của Bộ Y tế năm 2017 về chẩn đoán và điều trị ĐTĐ
type 2 định nghĩa: Bệnh ĐTĐ là bệnh rối loạn chuyển hóa khơng đồng nhất, có đặc điểm
tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai.
Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa
carbohydrate, protein, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim
và mạch máu, thận, mắt, thần kinh.[13]
Bệnh ĐTĐ được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa là một nhóm bệnh
chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu mạn tính do hậu quả của thiếu hụt hoặc
giảm hoạt động của insulin hoặc kết hợp cả hai. Tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ
làm tổn thương rối loạn và suy chức năng của nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt là các
tổn thương ở mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu[14]
2.1.2 Nguyên nhân
Có rất nhiều nguyên nhân liên quan đến sự phát triển của bệnh ĐTĐ, bao gồm sự
phá hủy các tế bào β của tuyến tụy do hệ thống miễn dịch dẫn đến những bất thường
trong hoạt động sản xuất insulin.

Bất thường trong sự chuyển hóa carbohydrate, chất béo và protein trong bệnh
ĐTĐ là do sự thiếu hụt insulin tác động lên các mơ đích. Sự thiếu hụt insulin tác động
do sự tiết insulin khơng thích hợp hoặc giảm phản ứng của mô đối với insulin ở một
hoặc nhiều điểm trong các con đường phức tạp của hoạt động hormon. Sự suy giảm tiết
insulin và khiếm khuyết trong hoạt động insulin thường xảy ra cùng trên cùng một
người bệnh và thường không rõ sự bất thường nào là nguyên nhân chính gây tăng đường
huyết[15]
2.1.3 Phân loại
ĐTĐ có hai dạng chính là ĐTĐ type 1 và ĐTĐ type 2[dược lý học, đhydtp], ĐTĐ
thai kì và ĐTĐ do một số nguyên nhân khác.
ĐTĐ type 1
ĐTĐ type 1 do tế bào β bị phá hủy nên bệnh nhân khơng cịn hoặc cịn rất ít
insulin, 95% do cơ chế tự miễn (type 1 A), 5% vô căn (type B). Bệnh nhân bị thiếu hụt
insulin, tăng glucagon trong máu, không điều trị sẽ bị nhiễm toan ceton. Bệnh có thể xảy
ra ở mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu ở trẻ em và thanh thiếu niên. Bệnh nhân cần insulin để
ổn định glucose huyết. Người lớn tuổi có thể bị ĐTĐ tự miễn diễn tiến chậm còn gọi là
Latent Autoimmune Diabetes of Adulthood (LADA), lúc đầu bệnh nhân cịn đủ insulin
nên khơng bị nhiễm toan ceton và có thể điều trị bằng thuốc viên nhưng tình trạng thiếu
insulin sẽ nặng dần với thời gian. ĐTĐ type 1 tự miễn thường có các tự kháng thể (KT)
trong máu trước khi xuất hiện bệnh, lúc mới chẩn đoán: kháng thể kháng Glutamic acid
decarboxylase 65 (GAD 65), KT kháng Insulin (IAA), KT kháng tyrosine phosphatase
IA 2(ICA 512), KT kháng Zinc transpoeter 8 (ZnT8). Khi bệnh kéo dài, các kháng thể sẽ
giảm dần. Những người thân trong gia đình cũng có thể mang các kháng thể này.


Dấu ấn di truyền của ĐTĐ type 1: Mẹ bị ĐTĐ type 1 nguy cơ con bị là 3%, nguy
cơ tăng đến 6% nếu cha bị ĐTĐ. Tỷ lệ cùng mắc ĐTĐ type 1 ở hai trẻ sinh đôi cùng
trứng là 25-50%. Gen mã hóa nhóm phù hợp tổ chức lớp II DR DQ có liên quan đến
tăng nguy cơ ĐTĐ type 1.
Yếu tố môi trường của ĐTĐ type 1: virus quai bị, rubella bẩm sinh, thuốc diệt

chuột Vacor, hydrogen cyanide ở rễ cây sắn có liên quan đến ĐTĐ type 1
ĐTĐ type 2
ĐTĐ type 2 trước kia được gọi là ĐTĐ của người lớn tuổi hay ĐTĐ không phụ
thuộc insulin, chiếm 90-95% các trường hợp ĐTĐ. Thể bệnh này bao gồm nhưng người
có thiếu insulin tương đối cùng với đề kháng insulin. Ít nhất ở giai đoạn đầu hoặc có khi
suốt cuộc sống bệnh nhân ĐTĐ type 2 khơng cần insulin để sống sót. Có nhiều nguyên
nhân của ĐTĐ type 2 nhưng khơng có 1 ngun nhân chun biệt nào. Bệnh nhân
khơng có sự phá hủy tế bào beta do tự miễn, khơng có kháng thể tự miễn trong máu. Đa
số bệnh nhân có béo phì hoặc thừa cân và/hoặc béo phì vùng bụng với vịng eo to. Béo
phì nhất là béo phì vùng bụng có liên quan với tăng acid béo trong máu, mô mỡ cũng tiết
ra một số hormon làm giảm tác dụng của insulin ở các cơ quan đích như gan, tế bào mỡ,
tế bào cơ (đề kháng insulin tại các cơ quan đích). Do tình trạng đề kháng insulin, ở giai
đoạn đầu tế bào beta bù trừ và tăng tiết insulin trong máu, nếu tình trạng đề kháng
insulin kéo dài hoặc nặng dần, tế bào beta sẽ không tiết đủ insulin và ĐTĐ type 2 lâm
sàng sẽ xuất hiện. Tình trạng đề kháng insulin có thể cải thiện khi giảm cân, hoặc dùng
một số thuốc nhưng khơng bao giờ hồn tồn trở lại bình thường.
Nguy cơ ĐTĐ type 2 gia tăng với tuổi, béo phì, ít vận động. Bệnh cũng thường
xuất hiện ở phụ nữ có tiền sử ĐTĐ thai kỳ, những người có tăng huyết áp, rối loạn lipid
máu và ở một số sắc tộc nhạy cảm như Mỹ da đen, Mỹ bản địa, người Mỹ Gốc La tinh,
Mỹ gốc Á, dân châu Mỹ La tinh, người gốc Nam Á, một số đảo vùng Thái Bình Dương.
Yếu tố di truyền ảnh hưởng mạnh trong bệnh ĐTĐ type 2, tỷ lệ cùng bị ĐTĐ của hai
người sinh đôi cùng trứng là 90%, hầu hết người ĐTĐ type 2 đều có thân nhân bị ĐTĐ.
Có thể bệnh do ảnh hưởng của nhiều gen chi phối. Nếu tìm được một gen cụ thể gây
tăng glucose huyết, bệnh nhân sẽ được xếp vào thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ.
Yếu tố môi trường ảnh hưởng đến gia tăng tỉ lệ ĐTĐ type 2 liên quan đến béo phì,
ăn các loại thực phẩm giàu năng lượng, giàu carbohydrat, ít vận động. Do đó tỷ lệ này
gia tăng nhanh chóng ở các nước có sự chuyển dịch nhanh chóng về kinh tế, người dân
thay đổi lối sống từ lao động nhiều sang ít vận động, ăn các loại thức ăn nhanh giàu
năng lượng bột đường làm gia tăng tỷ lệ béo phì. Ở các quốc gia này, người bị ĐTĐ
type 2 có thể xuất hiện bệnh ở lứa tuổi trẻ hơn 40.



Bảng 2.1 Đặc điểm khác nhau giữa ĐTĐ type 1 và ĐTĐ type 2[13]
Đặc điểm
Tuổi xuất hiện
Khởi phát

ĐTĐ Type 1
Trẻ, thanh thiếu niên
Các triệu chứng rầm rộ

Biểu hiện lâm sàng

Sụt cân nhanh chóng
Đái nhiều
Uống nhiều

Nhiễm ceton, tăng ceton Dương tính
trong máu, nước tiểu
Insulin máu
Thấp hoặc khơng đo được
Kháng thể
Dương tính
Kháng đảo tụy (ICA)
Kháng Glutamic acid
Decarboxylase 65 (GAD 65)
Kháng insulin (IAA)
Kháng Tyrosine phosphatase
(IA-2)
Kháng Zinc Transporter 8

(Zn T8)
Điều trị
Bắt buộc dùng Insulin
Cùng biểu hiện với bệnh tự
miễn khác
Các bệnh lý đi kèm lúc mới
chẩn đốn: Tăng huyết áp,
rối loạn chuyển hóa lipid,
béo phì



ĐTĐ Type 2
Tuổi trưởng thành
Chậm, thường khơng rõ
triệu chứng
Bệnh diễn biến ầm ỉ, ít
triệu chứng
Thể trạng béo, thừa cân
Tiền sử gia đình có người
mắc bệnh ĐTĐ type 2
Đặc tính dân tộc, có tỷ lệ
mắc bệnh cao.
Dấu gai đen
Hội chứng buồng trứng
đa nang
Thường khơng có
Bình thường hoặc tăng
cao
Âm tính


Thay đổi lối sống
Dùng thuốc viên và/hoặc
insulin
Hiếm

Khơng có
Thường gặp, nhất là hội
Nếu có, phải tìm các bệnh chứng chuyển hóa
lý khác đồng mắc


ĐTĐ thai kì
ĐTĐ thai kì là ĐTĐ được chẩn đốn trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai
kỳ và khơng có bằng chứng về ĐTĐ type 1, ĐTĐ tuýp 2 trước đó).
Một số bệnh ĐTĐ do các nguyên nhân khác, như ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ do sử
dụng thuốc và hóa chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy
ghép mô[3319]
2.1.4 Cơ chế bệnh sinh
Đường từ thức ăn sau khi vào cơ thể sẽ được bẻ gãy thành các đường đơn như
glucose. Sau khi lưu hành trong máu, glucose được đưa vào tế bào để sử dụng tạo thành
năng lượng cho cơ thể hoạt động. Insulin là hc-mơn do các tế bào β của tuyến tụy nội
tiết bài tiết, có tác dụng vận chuyển glucose vào tế bào. Khi glucose huyết tăng cao,
tuyến tụy sẽ bài tiết một lượng Insulin vừa đủ để vận chuyển glucose vào tế bào. Khi
glucose huyết xuống thấp tụy sẽ ngừng bài tiết Insulin [17].
ĐTĐ type 1: Các tế bào β của tụy bị phá hủy gần như hoàn toàn bởi q trình tự
miễn, khơng thể bài tiết Insulin (thiếu hụt Insulin tuyệt đối), làm lượng đường trong máu
tăng cao. ĐTĐ type 1 thường xuất hiện ở những người có hệ gen nhạy cảm. Các dấu
hiệu nhận biết bệnh gồm có: các tự kháng thể kháng tế bào đảo tụy, tự kháng thể kháng
Insulin, tự kháng thể kháng glutamic acid decarboxylase (GAD) và tự kháng thể kháng

tyrosin phosphatase [18], [19].
ĐTĐ type 2: có 2 yếu tố cơ bản đóng vai trị quan trọng trong cơ chế bệnh sinh
của ĐTĐ type 2 là kháng Insulin và rối loạn tiết Insulin kết hợp với nhau [18]
 Rối loạn tiết Insulin: tế bào β đảo tụy bị rối loạn về khả năng sản xuất Insulin bình
thường về mặt số lượng cũng như chất lượng để đảm bảo cho chuyển hóa glucose bình
thường. Những rối loạn đó có thể là:
- Bất thường về nhịp tiết và động học bài tiết Insulin.
- Bất thường về số lượng tiết Insulin.
 Kháng Insulin: ở hầu hết các đối tượng ĐTĐ type 2 và tăng glucose máu xảy ra
khi khả năng bài xuất Insulin của các tế bào β đảo tụy khơng đáp ứng thỏa đáng nhu cầu
chuyển hóa. Các hình thức kháng Insulin:
- Giảm khả năng ức chế sản xuất glucose (gan).
- Giảm khả năng thu nạp glucose (mô ngoại vi).
- Giảm khả năng sử dụng glucose (ở các cơ quan) [19], [20


2.1.5 Tiêu chuẩn chẩn đoán
Bảng 2.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ[ADA 2018]
Tiêu chuẩn chẩn đốn ĐTĐ (Có ít nhất 1 trong 4 tiêu chuẩn sau)
Glucose máu đói*(FPG)>= 126 mg/dl (7,0 mmol/l). Đói được định nghĩa là khơng nạp
Calo trong ít nhất 8 h
Glucose máu 2h sau nghiệp pháp dung nạp 75g Glucose uống (2h PG)>=200mg/dl
(11,1 mmol/l). Nghiệm pháp nên được thực hiện theo mô tả của WHO
HbA1C>= 6,5%. Xét nghiệm này nên được thực hiện trong phịng thí nghiệm sử dụng
phương pháp được NGSP(national Glycohemoglobin Standardization) chứng nhận và
chuẩn hóa theo DCCT(Diabetes control and complications trial)
Glucose máu bát kỳ>=200mg/dL(11,1 mmol/L) ở bệnh nhan có triệu chứng kinh điển
của tăng Glucose máu hoặc có cơn tăng Glucose máu cấp
* Nếu Glucose máu tăng không rõ, xét nghiệm nên được lặp lại.
Triệu chứng 4 nhiều phổ biến của bệnh ĐTĐ Type2 bao gồm:

Tiểu nhiều
Gầy nhiều
Khát nhiều
Ăn nhiều
Bảng 2.3 Các loại tăng nguy cơ ĐTĐ (Tiền ĐTĐ)
Rối loạn Glucose máu đói: FPG từ 100-125 mg/Dl (5.6-6.9 mmol/l)
Hoặc
Rối loạn dung nạp Glucose máu: 2h PG từ 140-199 mg/Dl (7,8-11 mmol/l)
Hoặc
HbA1C 5.6-6.4% (39-47 mmol/mol)
Ở những người lớn khơng có triệu chứng, cân nhắc sàng lọc tiền ĐTĐ và nguy cơ
ĐTĐ về sau bằng đánh giá các yếu tố nguy cơ hoặc sử dụng các công cụ đã được phê
chuẩn những đối tượng này bao gồm: người lớn thừa cân hoặc béo phì (BMI >= 25 hoặc
>=23 ở người Mỹ gốc Á) ở bất kì độ tuổi nào và có >=1 yếu tố nguy cơ)
Tất cả mọi người, nên bắt đầu sàng lọc ở tuổi 45
Nếu các xét nghiệm bình thường, khoảng thời gian thích hợp xét nghiệm ít nhất là 3 năm
Để xác định tiền ĐTĐ, Glucose máu đói, Glucose máu 2h sau nghiệm pháp dung
nạp 75g Glucose đường uống và A1C có vai trị như nhau
Ở bệnh nhân tiền ĐTĐ, xác định các yếu tố nguy cơ bệnh lí tim mạch khác, và
điều trị khi thích hợp.
Xét nghiệm tiền ĐTĐ nên được cân nhắc ở trẻ em và trẻ vị thành niên: bị thừa
cân/béo phì và có nhiều hơn một yếu tố nguy cơ khác của bệnh ĐTĐ


Bảng 2.4 Tiêu chuẩn để chỉ định xét nghiệm ĐTĐ và tiền ĐTĐ ở người trưởng
thành khơng có triệu chứng:
1. Xét nghiệm nên được cân nhắc ở người thừa cân hoặc béo phì (BMI>= 25
kg/m2 hoặc >= 23 kg/m2 ở người Mỹ gốc Á) có >=1 yếu tố nguy cơ sau:
+ HbA1C >= 5,7% (39mmol/mol), rối loạn Glucose máu đói hoặc rối loạn
dung nạp Glucose ở xét nghiệm trước đó.

+ Bố/mẹ/anh chị em ruột mắc ĐTĐ
+ Chủng tộc/dân tộc có nguy cơ ĐTĐ cao (Mỹ gốc Phi, Mỹ Latinh, người
Mỹ bản xứ, Mỹ gốc Á, đảo Thái Bình Dương).
+ Phụ nữ có tiền sử mắc ĐTĐ thai kì
+ Tiền sử bệnh mạnh vành
+ Tăng huyết áp (>=140/90 mmHg hoặc đang điều trị tăng huyết áp)
+ Nồng độ HDL-cholesterol<35mg/Dl (0,90 mmol/L) và/hoặc nồng độ
Triglycerid>250g/dL (2,82 mmol/L)
+ Phụ nữ có hội chứng buồng trứng đa nang
+ Ít hoạt động thể lực
+ Các biểu hiện lâm sàng của đề kháng Insulin (béo phì, dấu gai đen)
2. Cho mọi bênh nhân >=45 tuổi
3. Nếu kết quả bình thường xét nghiệm nên được lặp lại sau khoảng ít nhất 3
năm, cân nhắc thwujc hiện các xét nghiệm thường xuyên hơn tùy vào kết
quả ban daud (ví dụ: với tiền ĐTĐ thì nên kiểm tra hằng năm) và đặc điểm
các yếu tố nguy cơ


Phát hiện sớm và chẩn đoán ĐTĐ (ĐTĐ) Type 2

Tuổi >= 45

Khơng có triệu chứng ĐTĐ

Có triệu chứng ĐTĐ

BMI>= 23 kg/m2 hoặc cân
nặng > 120% cân nặng lý
tưởng và có thêm >= 1
yếu tố nguy cơ (YTNC) của

ĐTĐ type 2

XÉT NGHIỆM CHẨN ĐỐN ĐTĐ
Glucose huyết tương lúc đói (FPG); thời điểm sau 2 giờ làm OGTT 75g; ở thời
điểm bất kì và HbA1C làm lại xét nghiệm lần 2, cách lần 1 từ 1-7 ngày để chẩn
đoán xác định ở những BN khơng có triệu chứng kinh điển của tăng glucose
huyết (tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ ngun nhân)

Bình thường

Chẩn đốn tiền ĐTĐ

Chẩn đốn ĐTĐ

Rối loạn đường huyết lúc đói FPG từ 100125mg/dl (5.6-6.9 mmol/l) hoặc

PPG >= 125mg/dl (7mmol.l) hoặc

Rối loạn dung nạp đường huyết (IGT);
Glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ
sau làm OGTT 75 g từ 140-189mg/dl (2.811 mmol/mol) hoặc
HbA1C từ 5.7%-6.4% (39-47 mmol/mol)

Kiểm tra lại sau mỗi 1-3 năm.
Giáo dục thực hiện lối sống lành
1.1.3 mạnh
Điều trị:

Kiểm tra lại hằng năm
Giáo dục về điều chỉnh lối sống


Hình 2.1 Phác đồ điều trị ĐTĐ

Glucose huyết tương ở thời điểm sau
2 giờ làm OGTT 75g >=100mg/dl
(11mmol/l) hoặc HbA1C >= 6,5%
( hay 48mmol/mol) hoặc BN có triệu
chứng kinh điển của tăng glucose
hoặc mức glucose huyets tương ở
thời điểm bất kì >= 200mg/dl (hay

11,1 mmol/l

Điều trị


2.1.6 Nguyên tắc và mục tiêu điều trị
Nguyên tắc điều trị: Phải có sự kết hợp giữa chế độ ăn uống, luyện tập và dùng
thuốc hạ đường huyết để việc điều trị bệnh ĐTĐ có hiệu quả [19].
Mục tiêu điều trị: Mục tiêu điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ là kiểm sốt, duy trì
nồng độ glucose máu ở mức bình thường, trong đó có việc hạn chế tăng glucose máu sau
ăn, kiểm sốt nồng độ glucose máu lúc đói, HbA1c và Insulin. Đồng thời điều trị các
yếu tố nguy cơ phối hợp (tăng huyết áp, rối loạn lipid máu,…), tránh biến chứng thối
hóa và các tai biến do điều trị (teo mô mỡ, hạ glucose máu) [47] Điều trị và ngăn ngừa
các biến chứng, đặc biệt là biến chứng trên tim mạch [20], [19].
Bảng 2.5 Mục tiêu điều trị ĐTĐ theo ADA 2018[]
Chỉ số
HBA1C
Đường huyết trước ăn
Đường huyết sau ăn

Huyết áp
Lipid máu

Mục tiêu
< 7,0 % (cá thể hóa)
80-130 mg/dl (4,4-7,2 mmol/L)
<180 mg/dL
< 140/90 mmHg (< 130/80 nếu có
bệnh thận, BN trẻ)
LDL <100mg/ dL (2,6 mmol/L)
< 70 mg/ dl (1,81 mmol/L)
HDL >40 mg/ dL (1,1 mmol/L)
>50 mg/dL
TG: <150 mg/ dL (1,7 mmol/L)

Năm 2017, Bộ Y tế đã ban hành “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ĐTĐ type 2”
theo Quyết định số 3319/QĐ-BYT, ngày 19 tháng 7 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế,
trong đó mục tiêu kiểm sốt đường huyết cho bệnh nhân ĐTĐ type 2 thể hiện ở bảng 1.4
Bảng 2.6 Mục tiêu điều trị ĐTĐ typ 2 của Bộ y tế 2017 [3319]
Mục tiêu

Chỉ số

HbA1c

< 7%*

Glucose huyết tương mao
mạch lúc đói, trước ăn


80-130 mg/dL (4.4-7.2 mmol/L)*

Đỉnh glucose huyết tương
mao mạch sau ăn 1-2 giờ

<180 mg/dL (10.0 mmol/L)*


Huyết áp

Tâm thu <140 mmHg, Tâm trương <90 mmHg
Nếu đã có biến chứng thận: Huyết áp <130/85-80 mmHg

Lipid máu

LDL cholesterol <100 mg/dL (2,6 mmol/L), nếu chưa có
biến chứng tim mạch.
LDL cholesterol <70 mg/dL (1,8 mmol/L) nếu đã có bệnh
tim mạch.
Triglycerides <150 mg/dL (1,7 mmol/L)
HDL cholesterol >40 mg/dL (1,0 mmol/L) ở nam và >50
mg/dL (1,3 mmol/L) ở nữ.

Mục tiêu điều trị ở các cá nhân có thể khác nhau tùy tình trạng của bệnh nhân
- Mục tiêu điều trị có thể nghiêm ngặt hơn: HbA1c <6,5% (48 mmol/mol) nếu có
thể đạt được và khơng có dấu hiệu đáng kể của hạ đường huyết và những tác dụng có hại
của thuốc: Đối với người bị bệnh ĐTĐ trong thời gian ngắn, bệnh ĐTĐ típ 2 được điều
trị bằng thay đổi lối sống hoặc chỉ dùng metformin, trẻ tuổi hoặc khơng có bệnh tim
mạch quan trọng.
- Ngược lại, mục tiêu điều trị có thể ít nghiêm ngặt (nới lỏng hơn): HbA1c < 8%

(64 mmol/mol) phù hợp với những bệnh nhân có tiền sử hạ glucose huyết trầm trọng,
lớn tuổi, các biến chứng mạch máu nhỏ hoặc mạch máu lớn, có nhiều bệnh lý đi kèm
hoặc bệnh ĐTĐ trong thời gian dài và khó đạt mục tiêu điều trị.
- Nếu đã đạt mục tiêu glucose huyết lúc đói. nhưng HbA1c cịn cao, cần xem lại
mục tiêu glucose huyết sau ăn, đo vào lúc 1-2 giờ sau khi bệnh nhân bắt đầu ăn.


Bảng 2.7: Mục tiêu điều trị ĐTĐ ở người già
Glucose huyết
Glucose lúc
Tình trạng sức Cơ sở để chọn
lúc đói hoặc
HbA1c
đi ngủ
khỏe
lựa
trước ăn
(mg/dL)
(mg/dL)
Mạnh khỏe

Huyết áp
mmHg

Còn sống lâu

<7.5%

90-130


90-150

<140/90

Phức tạp/ sức Kỳ vọng sống
khỏe trung bình
trung bình

<8.0%

90-150

100-180

<140/90

<8.5%

100-180

110-200

<150/90

Rất phức tạp/ sức
khỏe kém

Khơng cịn
sống lâu


Đánh giá về kiểm soát đường huyết
- Thực hiện xét nghiệm HbA1c ít nhất 2 lần trong 1 năm ở những người bệnh đáp
ứng mục tiêu điều trị (và những người có đường huyết được kiểm sốt ổn định).
- Thực hiện xét nghiệm HbA1c hàng quý ở những người bệnh được thay đổi liệu
pháp điều trị hoặc những người không đáp ứng mục tiêu về glucose huyết.
- Thực hiện xét nghiệm HbA1c tại thời điểm người bệnh đến khám, chữa bệnh để
tạo cơ hội cho việc thay đổi điều trị kịp thời hơn.


HÌNH 2.2 : Chiến lược quản lý lấy bệnh nhân làm trung tâm trong điều trị ĐTĐ tuýp 2


2.1.7 Phương pháp điều trị
Điều trị không dùng thuốc
Thay đổi lối sống hay điều trị không dùng thuốc bao gồm luyện tập thể dục, dinh
dưỡng và thay đổi lối sống[3319]
 Dinh dưỡng: Chế độ ăn khỏe mạnh là một phần quan trọng trong chăm sóc BN
ĐTĐ, đem lại những lợi ích tích cực đối với việc kiểm soát cân nặng, chuyển hóa trong
cơ thể và thể trạng chung của BN [21].
- Cân đối tỷ lệ các chất và cung cấp đủ năng lượng cho hoạt động sống hằng ngày.
- Chọn thức ăn có chỉ số glucose máu thấp, hạn chế muối, ăn nhiều rau quả, hạn chế
rượu bia.
- Chia nhỏ và phân bố bữa ăn phù hợp để duy trì nồng độ glucose trong máu ổn
định.
- Phối hợp tốt với các thuốc điều trị nếu có [22].
- Chế độ tập luyện: mục đích là làm giảm glucose máu qua việc giảm tính kháng
Insulin, giảm yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch [23], [24].
- Nên tập những môn rèn luyện dẻo dai, bền bỉ như đi bộ, đi xe đạp,… hơn là
những bài tập nặng.
- Luyện tập thường xuyên, phù hợp với lứa tuổi và tình trạng sức khỏe [25].

 Kiểm soát glucose máu: cần kiểm tra glucose máu lúc đói 2-3 lần/tuần và kiểm tra
glucose máu sau ăn khi đã dùng thuốc để có thể điều chỉnh chế độ ăn uống và dùng
thuốc cho phù hợp [25].
 Giáo dục BN: nội dung giáo dục BN bao gồm:
- Thay đổi lối sống: tăng hoạt động thể lực, chế độ ăn giảm calo, lựa chọn thực
phẩm, thiết kế bữa ăn hợp lý, tham gia các câu lạc bộ ĐTĐ,… [26].
- Về thuốc: cho BN nhận biết về thuốc được chỉ định: tác dụng điều trị, các phản
ứng bất lợi có thể gặp và cách khắc phục, tương tác có thể gặp giữa thuốc đang sử dụng
với các thuốc không kê đơn và thực phẩm chức năng,… Cách chăm sóc bàn chân khi bị
biến chứng, cách giám sát glucose máu tại nhà [26].
 Khám định kỳ: để theo dõi các biến chứng, đồng thời có tham vấn khơng định kỳ
với thầy thuốc khi có vấn đề đặc biệt xảy ra.
Điều trị bằng thuốc
 ĐTĐ type 1: Insulin là chỉ định bắt buộc với ĐTĐ type 1 để đảm bảo ổn định
glucose máu cho BN. Liều lượng Insulin tùy thuộc tình trạng thiếu Insulin. Chọn dạng
Insulin, phân chia liều tùy thuộc vào mức độ hoạt động và cách sống của BN [27].
 ĐTĐ type 2:


- Dùng các thuốc hạ đường huyết: Sau khi chế độ ăn và vận động thể lực bị thất bại
trong kiểm sốt đường huyết. Sử dụng thuốc ln kèm chế độ ăn uống và vận động thể
lực [27].
- Dùng Insulin.
- Phối hợp các thuốc điều trị ĐTĐ type 2.
Bảng 2.8 Tóm tắt liều dùng các thuốc viên hạ glucose huyết uống
Thuốc

Hàm lượng

Liều mỗi ngày


Thời gian tác dụng

Sulfonylurea
Tolbutamide
250-500 mg
0,5-2 gam chia uống 2-3 lần
6-12 giờ
Chlorpropamide 100-250 mg 0,1-0,5 gam uống 1 lần duy nhất
24-72 giờ
1-4 mg/ngày liều thông thường.
Glimepiride
1-2 và 4 mg
24 giờ
Liều tối đa 8mg/ngày
40mg-320 mg viên thường, chia
12 giờ
80 mg
uống 2-3 lần
Gliclazide
30-60 mg dạng
30-120 mg dạng phóng thích 24 giờ, dạng phóng
phóng thích chậm
chậm, uống 1 lần/ngày
thích chậm
Viên thường 2,5-40 mg uống 30
6-12 giờ
phút trước khi ăn 1 hoặc 2
5-10 mg
lần/ngày

Glipizide
2,5-5-10 mg dạng
Dạng phóng thích chậm 2,5 -10
phóng thích chậm
Dạng phóng thích
mg/ngày uống 1 lần. Liều tối đa
chậm 24 giờ
20 mg/ngày uống 1 lần
Glinide
0,5-4 mg/ngày chia uống trước
Repaglinide
0,5-1-2 mg
3 giờ
các bữa ăn
Thuốc tăng nhạy cảm với insulin
7-12 giờ
500-850-1000mg 1-2,5 gam, uống 1 viên sau ăn,
Dạng phóng thích
ngày 2 - 3 lần
Dạng phóng thích
Metformin
chậm: 500-750 Dạng phóng thích chậm: 500chậm: kéo dài 24
mg
2000 mg/ngày uống 1 lần
giờ
15-30-45
Pioglitazone
15-45 mg/ngày
24 giờ
mg/ngày

Thuốc ức chế enzyme alpha glucosidase
25-100mg uống 3 lần/ngày ngay
Acarbose
50-100 mg
trước bữa ăn hoặc ngay sau
4 giờ
miếng ăn đầu tiên
Nhóm ức chế enzyme DPP-4



×