1
MỤC TIÊU THỰC THI QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ VÀ ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO
QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ CỦA NHÂN DÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
Các bậc tiền nhân của chúng ta như Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo đã
từng nói: “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”, “Lật thuyền mới biết
dân như nước”... Trong thời đại Hồ Chí Minh, “Lấy dân làm gốc” càng được
Bác Hồ diễn giải giản dị, gần gũi, để dễ dàng trở thành kim chỉ nam trong mỗi
hành động của Ðảng, của chính quyền, của các cấp cán bộ: “Nước lấy dân
làm gốc. Gốc có vững cây mới bền”.
Đảm bảo quyền làm chủ của Nhân dân chính là đảm bảo cho sự hưng
thịnh và tồn vong của một quốc gia dân tộc. Đất nước chúng ta đã hàng ngàn
năm chịu ánh áp bức bóc lột, Nhân dân ta chưa một ngày được làm chủ vận
mệnh của mình cho đến khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo
thành công cuộc cách mạng, Nhân dân đứng lên tranh chính quyền về tay
mình, từ đó người dân đã chở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận
mệnh của chính mình.
Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa là nhà nước của Nhân dân, do
Nhân dân và vì Nhân dân, do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về Nhân dân. Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân
dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền cơng
dân. Đó chính là bản chất tốt đẹp của nhà nước Xã hội chủ nghĩa mà Đảng và
Nhân dân ta đang xây dựng, Nhân dân sẽ ln dốc lịng, hết sức xây dựng đất
nước giàu đẹp khi Nhân dân thực sự là người làm chủ đất nước. Một khi mọi
mục tiêu, hành động đều vì lợi ích đều vì Nhân dân, quyền làm chủ của Nhân
dân được phát huy rộng rãi, những người được Nhân dân ủy quyền lãnh đạo,
2
quản lý đất nước thực sự vì dân, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân
dân thì đất nước sẽ vững vàng bước qua sóng gió.
NỘI DUNG
1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA QUYỀN LỰC
CHÍNH TRỊ
1.1. Khái niệm quyền lực chính trị
Quyền lực chính trị là sức mạnh trong mối quan hệ giữa các chủ thể
chính trị hành động trong đời sống xã hội – trong đó chủ thể chính trị này có
thể chi phối hoặc buộc chủ thể chính trị khác phải phục tùng ý trí của mình
nhờ có sức mạnh, vị thế nào đó trong quan hệ chính trị - xã hội.
1.2. Đặc trưng cơ bản của quyền lực chính trị
- Quyền lực chính trị là khách quan tất yếu trong một giai đoạn phát
triển nhất định của lịch sử xã hội.
- Quyền lực chính trị thống trị trong một xã hội là quyền lực của giai
cấp, lực lượng xã hội giữ địa vị thống trị về kinh tế.
- Quyền lực chính trị mang tính chính đáng, tính đại diện cho lợi ích
nhóm, cộng đồng người; tính hợp lý, hợp pháp của cơ quan quyền lực.
- Quyền lực chính trị bao giờ cũng mang tính giai cấp.
3
2. MỤC TIÊU THỰC THI QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
Ở Việt Nam hiện nay, mục tiêu của quyền lực chính trị là vì dân. Dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trải qua cuộc đấu tranh lâu dài,
gian khổ, với thắng lợi của cách mạng Tháng Tám 1945, Nhân dân ta đã lật
đổ sự thống trị của chế độ thực dân, phong kiến, lập nên Nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, xác lập quyền lực chính trị của Nhân dân lao động, Chủ
tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ”. Bao nhiêu lợi
ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây
dựng là trách nhiệm của dân... Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi
dân.
Hơn nửa thế kỷ qua, Nhân dân lao động ở nước ta dùng quyền lực đó
để bảo vệ và xây dựng đất nước ngày càng phát triển. Chế độ xã hội mà Nhân
dân ta đang phấn đấu xây dựng là chế độ xã hội chủ nghĩa, đó là chế độ “lần
đầu tiên trong lịch sử những xã hội văn minh, quần chúng Nhân dân vươn lên
tham gia một cách độc lập không những vào việc bầu cử và tuyển cử, mà cả
vào việc quản lý hàng ngày nữa”.
Quyền lực chính trị của Nhân dân là ý trí chung của mọi tầng lớp lao
động, thể hiện khả năng thực hiện được những lợi ích cơ bản của những người
lao động, được thực hiện bằng quyền lực nhà nước, bằng hoạt động của các
đoàn thể quần chúng và bằng quyền làm chủ trực tiếp của Nhân dân, dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền.
4
Chủ thể của quyền lực chính trị ở nước ta hiện nay là Nhân dân, đó
khơng phải một giai cấp, một tầng lớp đơn nhất, mà bao gồm những giai cấp
tầng lớp khác nhau tương ứng với địa vị kinh tế của họ trong nền sản xuất xã
hội. Những giai cấp, tầng lớp ấy có một đặc trưng chung là họ sống bằng
chính sức lao động của mình, do vậy họ có lợi ích cơ bản thống nhất với nhau.
Trong Nhân dân lao động thị giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến, đại diện
cho phương thức sản xuất tiên tiến, do vậy cũng là giai cấp đại diện lợi ích cơ
bản chung của tồn thể Nhân dân lao động. Nhân dân với tư cách là chủ thể
quyền lực là khối liên hiệp các tầng lớp lao động, lấy liên minh công nhân –
nông dân và đội ngũ tri thức làm nòng cốt.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội của Đảng ta nêu rõ: Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị
trong thời kỳ quá độ là nhằm từng bước hoàn thiện dần nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân: “Nhân dân là nguồn gốc
của mọi quyền lực. Quyền độc lập dân tộc và quyền làm chủ của nhân dân lao
động được tổ chức thành quyền lực chính trị. Đó là Nhà nước”. Khi quyền lực
chính trị của Nhân dân được tổ chức thành nhà nước thì ý chí chung của Nhân
dân lao động là sức mạnh thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội.
3. ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ CỦA
NHÂN DÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Thực hiện quyền lực chính trị của Nhân dân là một sự nghiệp vĩ đại
diễn ra trong suốt một thời kỳ lịch sử, hồn thiện từ thấp đến cao. Để có
quyền lực chính trị của Nhân dân trong thực tế cần có những điều kiện bảo
đảm sau đây:
5
Thứ nhất, để Nhân dân có quyền lực chính trị phải có cơ sở kinh tế
thích ứng đảm bảo – đó là chế độ cơng hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu.
Khơng có cơ sở kinh tế đó, khơng thể nói tới quyền lực chính trị của Nhân
dân. Leenin nói: “Pháp quyền khơng bao giờ có thể cao hơn chế độ kinh tế và
trình độ phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế quyết định”. Do đó
phải kiên trì tiến hành nhiệm vụ “ quan trọng nhất và khó khăn nhất” là cơng
cuộc xây dựng kinh tế, là việc đặt nền móng kinh tế cho toàn bộ nhà nước xã
hội chủ nghĩa. Vấn đề là trong điều kiện nước ta từ một nền kinh tế lạc hậu,
chậm phát triển cần xác định đúng con đường phù hợp để xác lập cơ sở kinh
tế đó. Đó chính là mơ hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà
Đại hội IX, X, XI, XII của Đảng đã nhiều lần khẳng định. Vì vậy, phát triển
kinh tế trở thành nhiệm vụ trung tâm suốt cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở nước ta hiện nay.
Thứ hai, phải xây dựng Đảng cầm quyền thực sự là chính đảng của giai
cấp cơng nhân, thực sự đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động và của toàn
dân tộc. Đảng phải tập trung những tinh hoa, trí tuệ, phẩm chất của giai cấp,
của dân tộc, xứng đáng là đội tiên phong lãnh đạo Nhân dân thực hiện quyền
lực chính trị của mình. Đây là một điều kiện có ý nghĩa cốt lõi đảm bảo quyền
lực chính trị của Nhân dân. Do vậy, xây dựng Đảng phải là nhiệm vụ then
chốt. Phải xây dựng và giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là
người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
Do vậy, Đảng ta phải luôn tự chỉnh đốn, tự đổi mới khơng ngừng để
nâng cao uy tín của Đảng với Nhân dân, khẳng định vị thế và vai trò lãnh đạo
của Đảng đối với Nhà nước và Nhân dân.
6
Thứ ba, cần xây dựng được nhà nước thực sự “của Nhân dân, do Nhân
dân, vì Nhân dân”. Đó là nhà nước của chính những người lao động, do chính
Nhân dân lao động cử ra và hoạt động của nhà nước đó nhằm đảm bảo lợi ích
của Nhân dân, phục vụ lợi ích của Nhân dân. Các cơ quan quyền lực nhà
nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) do Nhân dân bầu ra và chịu
trách nhiệm trước Nhân dân. Đồng thời “Quy định nhiệm vụ cho tất cả các cơ
quan nhà nước là phải dựa vào Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng
nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của Nhân dân”. Đội ngũ cán bộ công chức
nhà nước phải thực sự thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, xứng đáng là người
đầy tớ thật trung thành của Nhân dân.
Thứ tư, xây dựng các đoàn thể quần chúng ngày càng lớn mạnh, thực
sự là tổ chức của quần chúng. Các đoàn thể phải phản ánh, đại diện được
những lợi ích cơ bản của quần chúng, chăm lo, bảo vệ được những lợi ích
chính đáng của quần chúng. Đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt
động của các đoàn thể, thu hút, tập hợp đơng đảo quần chúng vào các đồn
thể.
Thứ năm, Nhân dân chỉ có quyền lực thực sự khi bản thân những người
lao động có nhận thức đúng đắn, có ý thức và năng lực thực hiện quyền lực
của mình. Do vậy, địi hỏi nhân dân phải khơng ngừng nâng cao trình độ dân
trí, trình độ văn hóa chính trị của quảng đại quần chúng.
Để nâng cao dân trí, trước hết cần phát triển giáo dục, thực hiện “giáo
dục là quốc sách hàng đầu” để nâng cao trình độ học vấn của Nhân dân, đồng
thời coi trọng phát triển thông tin xã hội, thực hiện đa dạng, phong phú các
kênh thông tin đại chúng để cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ.
7
Thứ sáu, Đẩy mạnh và mở rộng dân chủ hóa xã hội nhằm tạo được một
môi trường xã hội thuận lợi để thực hiện quyền lực chính trị của Nhân dân.
Một môi trường dân chủ thực sự là người dân làm chủ trên thực tế mọi mặt
đời sống xã hội.
Trong q trình mở rộng dân chủ hóa đời sống xã hội cần kiên quyết
đấu tranh chống lại các khuynh hướng dân chủ cực đoan, dân chủ tư sản, dân
chủ hình thức. Cần khắc phục và loại trừ các khuynh hướng sai trái lợi dụng
dân chủ để phá hoại dân chủ. Dân chủ phải gắn liền với kỷ cương, dân chủ
phải trên cơ sở pháp luật.
Về phương diện lý luận có thể thấy rằng: Mọi đường lối, chủ trương
của Đảng đều là kết quả phản ánh khái quát nhu cầu, lợi ích chính đáng của
Nhân dân. Nhà nước là công cụ để thế chế hóa và thực hiện quyền lực chính
trị của Nhân dân, đồng thời thông qua nhà nước, Nhân dân được tổ chức lại
để có được sức mạnh nhằm thực hiện vai trị là chủ thể đích thực của quyền
lực chính trị. Các đồn thể Nhân dân là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và Nhân
dân, là cơ sở chính trị xã hội của Đảng, là nơi đại diện cho ý trí, nguyện vọng
chính đáng của Nhân dân.
8
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội đã khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa
là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng
bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực
hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn
liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được
pháp luật đảm bảo. Nhà nước tôn trọng và đảm bảo các quyền con người,
quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Nhân
dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ
thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”.
4. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT ĐỂ THỰC HIỆN TỐT
QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ CỦA NHÂN DÂN
4.1. Nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn mối quan hệ giữa Đảng lãnh
đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ phù hợp với đặc điểm của thời kỳ
mới ở nước ta.
Nhân dân làm chủ là yếu tố trung tâm của mối quan hệ giữa Đảng lãnh
đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ bởi vì mọi hoạt động của Đảng và
Nhà nước đều từ Nhân dân và vì Nhân dân.
9
Người dân không chỉ thực hiện quyền làm chủ của mình thơng qua các
đại biểu do mình bầu ra, mà họ cịn tự mình thực hiện quyền đó. Người dân
cịn tự thành lập ra các tổ chức, các hội đoàn theo quy định của pháp luật để
thỏa mãn những nhu cầu chính đáng của mình. Cũng thơng qua các tổ chức
của mình, người dân sẽ thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của bộ
máy nhà nước, xem bộ máy đó có thực hiện đúng những “cam kết” đã thỏa
thuận với nhân dân hay không. Như vậy cần nhấn mạnh ở đây là, người dân
thực hiện quyền làm chủ của mình khơng chỉ thơng qua bộ máy nhà nước mà
họ cịn tự mình thực hiện quyền ấy trên cơ sở các tiêu chí, yêu cầu mà pháp
luật đã quy định.
4.2. Nhận thức rõ hơn Đảng cầm quyền và Nhà nước pháp quyền trong
việc thực hiện quyền lực của Nhân dân.
Đảng và Nhà nước đều là những tổ chức thực hiện các ủy quyền quyền
lực của Nhân dân, Nhân dân ủy quyền cho Đảng quyền lãnh đạo như: Xây
dựng và quyết định các đường lối, chủ trương; Giới thiệu các đảng viên ưu tú
để Nhân dân lựa chọn bầu vào các cơ quan; thực hiện kiểm tra, giám sát.
Nhân dân ủy quyền cho bộ máy nhà nước thay mặt nhân dân điều hành,
quản lý mọi mặt của đời sống xã hội và chịu sự giám sát của nhân dân.
4.3. Tiếp tục thể chế hóa quyền lực chính trị của Nhân dân, thiết lập các
cơ chế phân định rõ quyền làm chủ của Nhân dân.
10
Trong xã hội ta, mọi quyền lực phải thuộc về nhân dân. Quyền lực của
nhân dân là tuyệt đối không thể so sánh, không thể phân chia. Quyền hạn của
Nhà nước là sự thể hiện tập trung quyền lực của nhân dân. Quyền lực của
Đảng thể hiện ở sự định hướng và lãnh đạo tổ chức thực hiện. Theo đó, “nhân
dân làm chủ” phải là nhân tố bao trùm, Đảng và Nhà nước khơng nằm ngồi
phạm vi nhân dân. Có nghĩa là nội dung “nhân dân làm chủ” hiện nay luôn
luôn bao hàm và luôn đồng hành với “Đảng lãnh đạo” và “Nhà nước quản lý”.
Không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước khỏi
quyền làm chủ của nhân dân. Quyền lực của nhân dân là quyền lực của chủ
nhân đất nước và việc thực hiện quyền lực đó có sự phối hợp hài hòa với
“Đảng lãnh đạo” và “Nhà nước quản lý”.
Thực hiện đúng nguyên tắc “mọi nguồn lực trong xã hội và của Nhà
nước đều thuộc về nhân dân”. Thực hiện tốt vấn đề kiểm sốt quyền lực,
trong đó có quyền lực kiểm soát của Nhân dân đối với các cơ quan trao
quyền.
KẾT LUẬN
Trong 88 năm lãnh đạo toàn dân tộc tiến hành các cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, bài học lịch sử sâu sắc mà Đảng
ta rút ra chính là: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của dân tộc, luôn khẳng định tư
tưởng “lấy dân làm gốc”, vì vậy, khi giành được chính quyền, lập ra Nhà
nước mới, thì Nhà nước đó là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Người
viết:
“Nước ta là nước dân chủ,
Bao nhiêu lợi ích đều là vì dân,
Cơng việc đổi mới và xây dựng là trách nhiệm của dân,
Chính quyền từ xã đến Chính phủ do dân cử ra,
11
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên,
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.
Tư tưởng của Hồ Chí Minh là kim chỉ nam xuyên suốt cho sự nghiệp xây
dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, trong đó Nhà nước là đại diện quyền làm
chủ của Nhân dân, mọi đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà
nước đều vì lợi ích của Nhân dân, có sự tham gia ý kiến của Nhân dân.
Xã hội chúng ta đang xây dựng là “do Nhân dân làm chủ”, việc xác định
quyền lực tối cao của Nhà nước ta thuộc về Nhân dân là lập trường kiên định,
bất di bất dịch của Đảng ta, đồng thời đã, đang và mãi mãi là vinh dự và trách
nhiệm cao cả của Nhân dân ta – “lịng dân đã quyết thì vận nước sẽ lên”.
12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo
tổng kết: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi
mới (1986-2016), Nxb CTQG, H, 2015.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu tồn quốc lần
thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016.
3. Nguyễn Phú Trọng: Về các mối quan hệ lớn cần được gải quyết tốt
trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Nxb CTQG,
H,2011.
4. Giáo trình cao cấp lý luận chính trị, khối kiến thức thứ ba, các vấn đề
khoa học chính trị và lãnh đạo, quản lý, tập 9 Chính trị học, nhà xuất bản lý
luận chính trị.
5. Lê Minh Quân - Bùi Việt Hương (Chủ biên - 2012): Về quyền lực
trong quản lý nhà nước hiện nay, NXB CTQG, Hà Nội.
6. Một số tài liệu tham khảo khác.