ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CHUYÊN NGÀNH KHẢO CỔ HỌC
-----□□□□-----
NIÊN LUẬN CỬ NHÂN TÀI NĂNG
ĐỀ TÀI:
QUÁ TRÌNH CƯ TRÚ TẠI DI CHỈ BẾN ĐỊ TRONG HỆ THỐNG DI
TÍCH LƯU VỰC SƠNG ĐỒNG NAI
Họ tên sinh viên: Hồng Anh Tâm
Mssv: 2056040115
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Hà
Thành phố Thủ Đức, ngày 19 tháng 11 năm 2022
1
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: VĂN HĨA ĐỒNG NAI.......................................................................................................4
1.
Tổng quan văn hóa Đồng Nai:.......................................................................................................5
1.1
Q trình nghiên cứu văn hóa Đồng Nai:.............................................................................5
1.2 Địa hình, khí hậu tự nhiên:..........................................................................................................9
2.
Tổng quan một số di tích khảo cổ lưu vực sơng Đồng Nai:.......................................................11
2.1
Cù Lao Rùa:..........................................................................................................................12
2.2
Bình Đa:................................................................................................................................12
CHƯƠNG II: DI CHỈ BẾN ĐỊ:.............................................................................................................13
1.
Q trình nghiên cứu:..................................................................................................................14
2.
Tầng văn hóa:...............................................................................................................................14
3.
Hiện vật:........................................................................................................................................15
4.
3.1.
Đồ đá:....................................................................................................................................15
3.2.
Đồ gốm...................................................................................................................................18
Nhận xét về di chỉ Bến Đò:...........................................................................................................20
CHƯƠNG III: Q TRÌNH CƯ TRÚ TẠI DI CHỈ BẾN ĐỊ.............................................................21
1.
2.
Thời gian, địa điểm cư trú...........................................................................................................21
1.1.
Không gian địa lý:.................................................................................................................21
1.2.
Niên đại cư trú:.....................................................................................................................22
Hoạt động sinh hoạt, sản xuất:....................................................................................................23
2.1.
Nghề chế tác đá:....................................................................................................................25
2.2.
Nghề nông:............................................................................................................................25
2.3.
Nghề làm gốm:......................................................................................................................26
2.4.
Hoạt động sinh sống, giao lưu:.............................................................................................26
3.
Tư duy, tín ngưỡng:......................................................................................................................27
4.
Q trình cư trú tại Bến Đò với một số địa điểm khác lưu vực sông Đồng Nai:......................28
4.1.
Thời gian, địa điểm cư trú:..................................................................................................29
4.2.
Hoạt động sinh hoạt, sản xuất:............................................................................................30
4.3.
Tư duy, tín ngưỡng:..............................................................................................................32
KẾT LUẬN...............................................................................................................................................33
Tài liệu tham khảo....................................................................................................................................35
LỜI MỞ ĐẦU
2
Di chỉ Bến Đò là một trong rất nhiều di chỉ khảo cổ học nằm dọc lưu vực sông Đồng
Nai, được xác định địa điểm và tổ chức khai quật tại một gò đất cao thuộc phường Long
Phước, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. Là một phần thuộc khơng
gian văn hóa khảo cổ Đồng Nai, di chỉ Bến Đò được đặt tên cho giai đoạn giữa trong 3
giai đoạn được chia ra trong thời đại đồ đồng của văn hóa Đồng Nai: “Giai đoạn Bến Đò”
với niên đại tương đối 3000 năm cách ngày nay, cùng giai đoạn nghiên cứu với các di tích
Bình Đa, Cù Lao Rùa, cũng đều thuộc lưu vực sông Đồng Nai với vị trí lần lượt tại thành
phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Dương theo thứ tự từ gần đến xa với di chỉ
Bến Đò.
Thuộc lưu vực sơng Đồng Nai đoạn từ Tân Un, Bình Dương đến khu vực cầu Long
Thành nối giữa Thành phố Hồ Chí Minh với tỉnh Đồng Nai, trước khi hợp chung dịng
với sơng Sài Gịn hướng ra biển, di chỉ Bến Đị là một trong những di tích khảo cổ được
khai quật sớm và đầy đủ nhất, được xác định nằm ở cuối sơ kỳ đồng thau cách ngày nay
3500 năm, cùng với sự phát hiện của rất nhiều hiện vật bằng đá có trình độ kỹ thuật chế
tác cao cùng phong phú về số lượng và loại hình các hiện vật bằng gốm.
Với những phát hiện đa dạng về số lượng cùng các loại hình hiện vật tại di chỉ Bến Đị
cùng những di tích khảo cổ khác trong khu vực, rất nhiều nhà nghiên cứu đã công nhận và
đặt ra giả thuyết về những yếu tố trong quá trình cư trú của cư dân tại di chỉ Bến Đò thông
qua những nghiên cứu chung tại khu vực liên quan mà sinh viên nghiên cứu có thể tham
khảo như TS. Nguyễn Khánh Trung Kiên (Các loại hình xưởng chế tác đá Thời tiền sử ở
Đông Nam Bộ, 2017) cùng PGS-TS. Đặng Văn Thắng, TS. Vũ Quốc Hiền, TS. Nguyễn
Thị Hậu, TS. Ngô Thế Phong, NCS. Nguyễn Kim Dung và PGS-TS. Nguyễn Lân Cường
(Khảo cổ học tiền sơ sử Thành phố Hồ Chí Minh, 1998).
Nhận thấy nhu cầu làm rõ hơn quá trình cư trú của cư dân tiền – sơ sử tại di chỉ Bến
Đò là một yêu cầu thiết thực và quan trọng đối với khảo cổ học Đông Nam Bộ nói riêng
và khảo cổ học Việt Nam nói chung, khi góp phần cho cơng cuộc vẽ lại sinh động bức
tranh cư trú của người Đồng Nai tiền – sơ sử, tạo tiền đề thúc đẩy những nghiên cứu sau
3
này. Em (Sinh viên Hoàng Anh Tâm) khi đưa ra ý tưởng và bắt đầu nghiên cứu về đề tài:
“QUÁ TRÌNH CƯ TRÚ TẠI DI CHỈ BẾN ĐỊ TRONG HỆ THỐNG DI TÍCH LƯU
VỰC SƠNG ĐỒNG NAI” vào tháng 11/2022, mong muốn rằng thơng qua việc tìm đọc
những tài liệu liên quan để tổng hợp để sắp xếp, nhận xét và so sánh di chỉ Bến Đò với
một số di tích khảo cổ khác lưu vực sơng Đồng Nai theo góc nhìn cá nhân sẽ góp phần
cho việc làm đa dạng hơn những nghiên cứu, thảo luận về quá trình cư trú của cư dân Bến
Đò thời tiền – sơ sử cũng như gia tăng nhận thức của bản thân em về những giá trị khảo
cổ học trong di chỉ Bến Đị và các mối liên hệ trong và ngồi ngành học của vấn đề trên.
Trong quá trình nghiên cứu, tổng hợp, dù gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận một
số tài liệu để hoàn thiện và làm thiết thực hơn đề tài này nhưng thông qua sự tư vấn và
giúp đỡ của ThS. Nguyễn Thị Hà, em cũng đã khắc phục phần nào khó khăn trên trong
quá trình thực hiện đề tài niên luận. Tuy vậy quan trọng nhất vẫn là kinh nghiệm nghiên
cứu và kiến thức khảo cổ học nói chung của em cịn rất nhiều hạn chế, dẫn tới sự giới hạn
trong đề tài và tư duy nghiên cứu, do vậy em mong rằng bài nghiên cứu này, nếu được
đánh giá tích cực, sẽ là nền tảng quan trọng để em mở rộng phạm vi và phát triển tư duy
nghiên cứu về vấn đề nghiên cứu trên trong những cơng trình học thuật sau này.
CHƯƠNG I: VĂN HÓA ĐỒNG NAI
Chỉ xét riêng ghi nhận dựa trên những ghi chép về di chỉ Bến Đị, thì di chỉ này đã
dược biết đến lần đầu và đặt tên qua những phát hiện của nhà khảo cổ người Pháp Lous
Malleret vào năm 1963, sau đó vào những năm 1970, 1971, 1972, 1975 di chỉ Bến Đò
cũng được nhà truyền giáo, khảo cổ người Pháp Henri Fontaine nhắc đến. Sau ngày thống
nhất, di chỉ Bến Đò được Viện Khảo Cổ tổ chức thám sát vào năm 1976, trước khi tiến
hành khai quật và bảo tồn di chỉ này từ năm 1977. (Hà Văn Tấn, 1999, tr 356-357)
Khi đề cập đến những yếu tố khách quan tới di chỉ Bến Đò, tức làm rõ được những
mối liên hệ của Bến Đị trong hệ thống các di tích khảo cổ lưu vực sơng Đồng Nai nhằm
phục vụ mục đích của đề tài. Em nhận thấy để đáp ứng được yêu cầu này, cần phải xét
đến những nghiên cứu nền tảng về những yếu tố cấu thành lên đặc điểm của di chỉ này
4
như những nghiên cứu về văn hóa khảo cổ Đồng Nai, địa chất khu vực và những nghiên
cứu về đặc điểm, tính chất của các loại hiện vật. Hơn nữa để phục vụ cho nhiệm vụ so
sánh và nhận xét mối liên hệ, những nghiên cứu về các di tích khảo cổ học khác trong lưu
vực sông Đồng Nai như Bình Đa, Cù Lao Rùa cũng cần được làm rõ.
1. Tổng quan văn hóa Đồng Nai:
1.1 Q trình nghiên cứu văn hóa Đồng Nai:
Khái niệm văn hóa khảo cổ Đồng Nai phản ánh một hệ thống những di tích khảo cổ
tiền sơ sử được phân bố chủ yếu tại khu vực Đông Nam Bộ với đa dạng các loại địa hình
cư trú. Có thể kể đến như vùng đất đỏ Badan ở Đồng Nai với các di tích Cầu Sắt, Xn
Bình, Xn Lộc, Suối Chồn, Gị Dưa, Phú Hịa, Suối Đá,... đến những vùng đầm lầy ven
biển với các di tích Cái Vạn, Gị Cát, Bưng Bạc, Bưng Thơm, ND11, Rạch Núi, Rạch
Rừng,... hay như dọc vùng đất xám ven sơng Vàm Cỏ Đơng với các di tích Gị Dinh Ông,
Gò Cao Su, Gò Chùa Cao Sơn, An Sơn,... và khu vực đất xám theo dịng chảy của sơng
Đồng Nai, cũng là loại địa hình cư trú của di chỉ Bến Đò, với các di chỉ như Suối Linh,
Gò Đất, Dốc Chùa, Cù Lao Rùa, Cù Lao Phố, Bình Đa, Hội Sơn, Long Bửu,... Do sự phân
bố rộng lớn các di tích và sự đa dạng của các hiện vật được phát hiện, có rất nhiều đề xuất
cách gọi tên khác nhau như “Văn hóa Bến Đị” của Phạm Văn Kỉnh, “Văn hóa Cù Lao”
của Hà Văn Tấn, hay như Hồng Xn Chinh với đề xuất “Văn hóa tiền sơ sử Đông Nam
Bộ”. Dù vậy đến ngày nay, khái niệm “Văn hóa Đồng Nai” vẫn được sử dụng rộng rãi
nhất (Nguyễn Khánh Trung Kiên, 2017, tr 37).
PGS.TS Đặng Văn Thắng cùng nhóm tác giả cũng đã tổ chức, hệ thống lại giai đoạn
phát triển của văn hóa Đồng Nai thành 4 giai đoạn, bao gồm giai đoạn Cầu Sắt, giai đoạn
Bến Đị và giai đoạn Dốc Chùa thuộc thời kì đồ đồng, cịn giai đoạn Phú Hịa thuộc thời
kì đồ sắt, cụ thể là sắt sớm. Trên lập luận vừa rồi, nhóm tác giả cũng tự đánh giá hệ thống
phân chia giai đoạn trên là chủ quan dựa trên tư duy nghiên cứu, và rằng những giai đoạn
được sắp xếp chỉ là cơng cụ phục vụ mục đích nghiên cứu cũng như khẳng định quá khứ
lịch sử là một dòng chảy liên tục. (Đặng Văn Thắng, Vũ Quốc Hiền, Nguyễn Thị Hậu,
5
Ngô Thế Phong, Nguyễn Kim Dung và Nguyễn Lân Cường, Khảo cổ học tiền sơ sử
Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr 301-302)
Nhìn lại q trình nghiên cứu văn hóa Đồng Nai đã có từ những năm 70 của thế kỉ 19,
nghi vấn về một nền văn hóa khảo cổ mới được gợi ý khi F. Caspar và M. Jugant thu
được khá nhiều những công cụ bằng đá và đồng ở quanh vùng Sài Gòn, gây được sự chú
ý của giới khảo cổ Pháp. Đến năm 1902, cuộc khai quật khảo cổ đầu tiên dựa theo những
phát hiện trên được tổ chức tại Cù Lao Rùa bởi thiếu tá O.Grossin và A. Jordin, những kết
quả khai quật được công bố trong tập san Trường Viễn Đông Bác Cổ cùng năm, bao gồm
384 di vật đầy đủ kích cỡ, kiểu dáng.
Sau q trình phát hiện và nghiên cứu văn hóa Đồng Nai kể từ những lần khai quật
đầu tiên của người Pháp tại Cù Lao Rùa là những cuộc phát hiện về các di tích, hiện vật
của nhiều nhân vật người Pháp trong quá trình khai thác thuộc địa tại khắp vùng đất Đông
Nam Bộ. Những cuộc khai quật trong giai đoạn này được tổ chức dựa trên những ghi
nhận về phát hiện trước đó bởi những người “hiếu cổ”. Có thể nhận thấy, văn hóa Đồng
Nai trong giai đoạn này chưa có được giới khảo cổ quan tâm đủ nhiều, nên đa phần những
phát hiện, tổ chức khai quật và nghiên cứu là những sĩ quan, bác sĩ, quan chức người Pháp
cùng một số nhà địa chất Pháp như M. Mansuy, E. Saurin, M. Colani. Đến những năm 60
của thế kỉ 20, khi các nhà địa chất E.Saurin, H. Fontaine cùng Hoàng Thị Thân và Quách
Thị Thanh Tâm trong quá trình khảo sát để nghiên cứu về khống sản, tài nguyên Đồng
Nai đã phát hiện được rất nhiều di tích đồ đá thời tiền sử, kể từ đấy văn hóa Đồng Nai
cùng những phát hiện khảo cổ học được phát hiện khi đó thu hút được rất nhiều quan tâm
và được chú trọng nghiên cứu nhiều hơn, gây được sự chú ý cho dư luận khoa học Việt
Nam và thế giới thời bấy giờ. Xét về phương diện khảo cổ học thì E.Saurin và H.
Fontaine, dù vén được bức màn che dấu những bí ẩn về sự tồn tại của một hệ thống văn
hóa rộng lớn, do là những nhà địa chất nên nhưng về vấn đề chuyên môn khảo cổ học, hai
ông vẫn chưa thực hiện đầy đủ. Nhưng chính hai ơng đã tạo ra rất nhiều nền tảng nghiên
cứu về địa chất Đồng Nai cũng như tạo tiền đề cho những nghiên cứu khảo cổ sau này tại
văn hóa Đồng Nai mà có thể xem E.Saurin và H. Fontaine như những “người bạn gần gũi
6
với khảo cổ học”. Nhưng từ sau 1975, khi đất nước được thống nhất, vấn đề nghiên cứu
hệ thống văn hóa Đồng Nai bấy giờ được giao lại cho Viện khảo cổ cùng những tổ chức
liên kết khác. Bắt đầu bằng việc tổ chức các cuộc khám sát tất cả các di tích được ghi
nhận nhằm làm rõ và kiểm chứng lại những nghiên cứu trước đó và tiến hành khai quật
nhằm thu thập thông tin, phục vụ cho những nghiên cứu về văn hóa Đồng Nai. Các cuộc
đào thám, khai quật trên khơng chỉ định hình lại khơng gian và thời gian tồn tại của văn
hóa Đồng Nai trong cùng một hệ thống đáp ứng đầy đủ tính chuyên mơn của khảo cổ học,
mà cịn giúp phát hiện thêm được hơn 100 địa điểm di tích mới tính kể từ năm 1975 cho
đến 1998 (Lê Xuân Diệm, Phạm Quang Sơn và Bùi Chí Hồng, Khảo cổ Đồng Nai, 1998,
tr 11-19).
Xét về quá trình khai quật và nghiên cứu của di tích Cù Lao Rùa thì kể từ lần khai
quật đầu tiên của thiếu tá O.Grossin, đã rất nhiều cuộc khai quật và nghiên cứu khảo cổ
được tổ chức tại Cù Lao Rùa qua những năm 1911 (Bethère), 1913 (Jodin), 1963
(Malleret), 1971,1972 (Fontaine), 1976-1977 (Viện Khảo Cổ) cho đến tận ngày nay với
nghiên cứu của TS. Nguyễn Khánh Trung Kiên “Di tích khảo cổ học Cù Lao Rùa trong
bối cảnh tiền sử Đông Nam Bộ” năm 2008 từ cuộc khai quật vào năm 2003. Ngoài ra,
trước thời gian bắt đầu những cuộc khai quật Cù Lao Rùa, ghi chép về sự phát hiện di chỉ
Bình Đa của Hamy đã có từ năm 1897, cùng với những năm 70 của thế kỉ 20, Henri
Fontaine có đề cập tới các di tích khảo cổ Bến Đò trong ghi chép về những di tích được
phát hiện ở phía tây lưu vực sơng Đồng Nai. Tuy vậy, phải tới giai đoạn sau thống nhất
đất nước, qua sự thám sát của Viện Khảo Cổ, các di chỉ Bến Đị, Bình Đa mới lần lượt
được khai quật vào năm 1978, 1979. (Hà Văn Tấn, 1999, tr 352-357).
Xét trên giai đoạn của di tích Bến Đị (3000 năm cách ngày nay) thuộc thời kỳ đồ
đồng, văn hóa Đồng Nai khi ấy đồ sắt còn chưa được phát hiện và phổ biến, chất liệu chế
tác của những hiện vật được nghiên cứu bao gồm đá, đồng và gốm.
Đồ đá là di vật phổ biến nhất và có số lượng lớn nhất trong khơng gian văn hóa Đồng
Nai, dù các di tích Đồng Nai được khai quật đều bước tới thời đại kim khí, đồ đá vẫn tồn
tại lâu dài đến cả những giai đoạn về sau do sự khan hiếm của các quặng kim loại. Những
7
loại hình hiện vật tại văn hóa Đồng Nai được tìm thấy rất đa dạng, bao gồm rìu (có vai, tứ
giác), cuốc (có vai, tứ giác), đục, dao hái, vũ khí, trang sức và khn đúc đá thường được
chế tác bằng đá sừng, đá phiến và đá huyền vũ, với những dạng bàn mài thì thường được
làm bằng đá sa thạch. Đa dạng nhất là các loại rìu, nhưng các loại hình trang sức vẫn cịn
đơn điệu.
Đồ gốm tại văn hóa Đồng Nai rất đa dạng với các loại đồ gốm như nồi, bát có chân đế
cao, bình, bếp lị… phân bố rộng rãi khắp các di tích khảo cổ. Gồm 3 loại chính gồm gốm
thơ, gốm mịn và gốm xốp. Gốm ít có hoa văn, chủ yếu là các văn chải chiếm phần lớn.
Hoa văn của gốm đơn điệu khi thường là những đường sóng nước, chữ S, đường răng,
những đồ án hoa văn cầu kì càng ít thấy. Ngồi ra cịn có nhiều dụng cụ bằng gốm như
bàn xoa, dọi se sợi, cà ràng. Phản ánh một ngành nghề chế tác gốm phát triển cùng đời
sống sinh hoạt phong phú. Đồ gốm của văn hóa Đồng Nai phần lớn đều dạng dị, tuy ít
loại hình và trang trí phong phú, nhưng có nhiều kích cỡ khác nhau.
Đồ đồng trong văn hóa Đồng Nai thường được tìm thấy nhiều ở những di tích có niên
đại mn với những loại hình như: Rìu, giáo, lao, mũi tên, lục lạc, lưỡi câu, lao có ngạnh,
hay những chiếc qua đồng. Ngồi các chất liệu chủ yếu trên, trong văn hóa Đồng Nai cịn
tìm thấy những di vật bằng gỗ, xương, sừng hay mai rùa… làm công cụ và đồ trang sức
(Đặng Văn Tháng, 1998, tr 302-304).
Người Đồng Nai cổ đã có thời gian cư trú hàng chục vạn năm, mở đầu cho quá trinh
chinh phục môi trường sống, phát triển cộng đồng từ việc tích lũy nhận thức qua thời
gian. Từ những hoạt động sản xuất chủ yếu là săn bắn, hái lượm với những công cụ thô
sơ, người Đồng Nai cổ đã học được cách chế tạo các công cụ lao động hỗ trợ hiệu quả
phục vụ cho phương thức sinh sống. Ngồi ra, họ cịn có một q trình phát triển nghề
nông và làm gốm phong phú, từ việc dựa vào thiên nhiên để sinh tồn đã làm chủ được
thiên nhiên, không ngừng nâng cao chất lượng đời sống cộng đồng (Huỳnh Văn Tới, Phan
Đình Dũng và Phan Xuân Biên, 2008, tr 25)
8
Ngày nay, các di tích khảo cổ văn hóa Đồng Nai ln đứng trước những nguy cơ bị
xóa sổ bởi nhiều tác động từ con người và thiên nhiên, sự phát triển mật độ dân số tại khu
vực cũng khiến việc nghiên cứu và bảo tồn ngày càng cấp bách. Do vậy, công tác nghiên
cứu và bảo tồn các di tích cần được đầu tư và quan tâm sâu sắc khơng chỉ ở vị trí của các
chun gia, chính quyền mà còn ở người dân sinh ra và làm việc tại mảnh đất nơi này.
1.2 Địa hình, khí hậu tự nhiên:
Về địa hình:
Đặc điểm địa hình cư trú của cư dân Đồng Nai được thể hiện thông qua các bề mặt địa
chật ngang hoặc hơi nghiêng được chồng chất bởi các lớp có nguồn gốc niên đại và nguồn
gốc hình thành khác nhau. Các dạng địa hình của khơng gian cư trú văn hóa Đồng Nai
được hình thành bởi các hoạt động núi lửa, dịch chuyển địa lý, thay đổi của mực nước
biển và dòng chảy của các con sơng như sơng Đồng Nai và sơng Vàm Cỏ.
Được hình thành từ các hoạt động núi lửa là hệ thống cao nguyên, gò đất badan được
chia làm 3 loại: Badan dạng vòm, Badan dạng vòm nguyên sinh, Badan dạng dòng chảy.
Trong số đó Badan dạng vịm ngun sinh là loại địa hình tìm thấy nhiều di tích cư trú
nhất.
Các hoạt động dịch chuyển địa chất và dòng chảy dung nham cịn hình thành các đồng
bằng được hình thành riêng rẽ qua 3 lớp địa chất có nguồn gốc niên đại khác nhau: Thế
Miocen muộn – Pliocen, Pleistocene giữa – đầu Pleistocene muộn và Pleistocene giữa –
muộn.
Hoạt động của sơng ngịi cùng sự đổi dịng của hệ thống sơng từ trước thế Holocen đã
hình thành nên các bậc thềm địa chất dọc các con sơng ngịi khu vực Đơng Nam Bộ.
Được chia làm 3 bậc đánh số tương ứng với độ cao so với mực nước biển và niên đại từ
sớm đến muộn, gồm: Bậc thềm III (50-70m); Bậc thềm II (25-30m) và Bậc thềm I (1015m) (Lê Xuân Diệm và các tác giả khác, Khảo cổ Đồng Nai, 1998, tr 23-25). Xen giữa
các bậc thềm đó, ở khu vực Đơng Nam Bộ cịn có một hệ thống trầm tích phù sa sơng,
được chia thành hai nhóm phù sa cổ và phù sa mới. Lớp phù sa cổ hay còn được gọi là
9
“đất xám” chính là các bậc thềm của sơng Cửu Long trước đây từ giai đoạn Pleistocen.
Phù sa cổ ở Đông Nam Bộ phân bố theo hướng tây bắc – đơng nam, có thể quan sát rõ
nhất ở vùng hạ lưu sông Đồng Nai với xu hướng thấp dần ra phía biển. Ở khu vực phía
Thành phố Biên Hịa cịn được những thềm phù sa mới nằm phủ lên trên do q trình bồi
tích từ sơng Đồng Nai thuộc giai đoạn địa chất hiện nay (Nguyễn Khánh Trung Kiên,
2017, tr 9).
Q trình thay đổi dịng chảy sơng ngịi cịn dẫn tới việc sơng ngịi cắt vào bề mặt cao
ngun, tạo nền các sườn xâm thực, đổ lở thành các sườn đá dốc như ở khu vực Badan
Xuân Lộc. Nhưng chủ yếu phân bố rộng rãi ở khu vực Đông Nam Bộ vẫn là các sườn đất
với độ dốc thoải hơn.
Được hình thành từ hoạt động của sóng biển, bậc thềm biển tại khu vực Đông Nam Bộ
được chia ra thành 5 tầng riêng biệt do sự rút xuống của mực nước biển qua thời gian,
được chia theo độ cao của các bậc thềm so với mực nước biển, gồm: (50-70m); (30-35m);
(10-15m); (4-6m) và (2-3m) (Lê Xuân Diệm và các tác giả khác, Khảo cổ Đồng Nai,
1998, tr 25-26).
Về khí hậu tự nhiên:
Dựa trên những nghiên cứu trong “Các loại hình xưởng chế tác đá Thời tiền sử ở
Đơng Nam Bộ” của TS. Nguyễn Khánh Trung Kiên (2017). Rừng khu vực Đơng Nam Bộ
mang tính chất của vùng nhiệt đới ẩm với thảm thực vật tương đối phát triển được phân
hóa rõ rệt theo địa hình và nguồn nước. Dọc hai bên bờ sông Đồng Nai là những rừng
hành lang tre rộng lớn với mật độ cây khá dày đặc. Quần thể động vật trong vùng cũng
phong phú về giống loài và nhiều về số lượng, ngoài các loài thú dữ, thú hoang dã, cịn có
các lồi hươu nai, bị rừng và thỏ… cho thấy độ đa dạng sinh học cao. Dịng chảy sơng
Đồng Nai tuơng đối ổn định và khơng gây nguy hiểm, lưu lượng nước nhiều nhưng dịng
chảy ít dốc và mở rộng ở hạ lưu nên không gây lũ lụt đột ngột. (Nguyễn Khánh Trung
Kiên, 2017, tr 9-13)
Con người tiền sử Đồng Nai:
10
Con người ở Đồng Nai xuất hiện lần đầu vào khoảng Pleistocen giữa muộn – Holocen
tức có niên đại từ khoảng 600.000 năm BP trong điều kiện khí hậu cận nhiệt đới ẩm. Theo
Lê Xuân Diệm cùng nhóm tác giả, có những yếu tố tự nhiên tại khu vực Đồng Nai sau đã
định hình nên đặc điểm cư trú, đời sống của cư dân tiền sơ sử bao gồm:
-
Hoạt động của núi lửa và phân tầng địa chất đã hình thành đa dạng các loại đá vừa
đủ độ cứng thích hợp chế tạo công cụ và xây dựng. Hang động khơng thể hình
thành do sự thiếu đi đá vơi tại đây nên các di tích khảo cổ đều nằm ở ngồi trời.
-
Q trình xâm thực gây ra sự phong hóa mạnh mẽ, hình thành nhiều loại đất sét
được dùng để làm đồ gốm, song điều này cũng lí giải vì sao các di tích, hiện vật
của con người tiền sử đến ngày nay khơng cịn ngun vẹn nhiều.
-
Trong khu vực khơng có các mỏ kim loại đáng kể, dẫn tới việc công cụ bằng đá
vẫn được sử dụng phổ biến và tập trung phát triển đa dạng về loại hình và kỹ thuật
mài đá.
-
Các di tích khảo cổ được tìm thấy ở các đồi Badan phong hóa cao và lưu vực sơng,
bãi bồi.
2. Tổng quan một số di tích khảo cổ lưu vực sơng Đồng Nai:
Trong khơng gian văn hóa khảo cổ Đồng Nai, ngoài những nghiên cứu về di chỉ Bến
Đị, cịn có rất nhiều cơng trình nghiên cứu cụ thể về các di tích khác. Để đảm bảo tính
mới cho đề tài cũng như phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra ở trên, em nhận thấy
cũng phải tìm hiểu những di tích khảo cổ khác để hình thành những mặt bằng chung cho
các di tích khảo cổ văn hóa Đồng Nai, để từ đó nêu nổi bật lên những phát triển đặc biệt
của di chỉ Bến Đị. Để thực hiện điều đó, em đã chọn ra 2 di tích khảo cổ khác là: Di chỉ
Bình Đa và di tích Cù Lao Rùa theo thứ tự vị trí gần đến xa xét với di chỉ Bến Đị, cả 2 di
tích khảo cổ trên đều thuộc giai đoạn Bến Đò như đã đề cập ở các phần trên. Đây là 2 di
tích khảo cổ có nguồn tài liệu nghiên cứu phong phú mà sinh viên có thể tiếp cận được và
cũng là các di tích khảo cổ lớn và được nghiên cứu sâu sắc trong không gian văn hóa
Đồng Nai, mang những giá trị rất thiết thực trong việc xác định khách quan hơn quá trình
cư trú của cư dân Bến Đò.
11
2.1 Cù Lao Rùa:
Cù Lao Rùa (hay còn gọi là Cù Lao Thạch Hội) là một di tích khảo cổ học ở xã
Tân Uyên, tỉnh Bình Dương ngày nay. Địa điểm khai quật của di tích Cù Lao Rùa được
xác định nằm trên trung tâm Gò Rùa, cũng là vị trí mà ngày nay ở ngay dưới nền đất chùa
Khánh Sơn. Quá trình cư trú tại Cù Lao Rùa của cư dân văn hóa Đồng Nai được chia làm
hai giai đoạn sớm (3500-3000 BP) và muộn (3000-2500 BP). Trên cơ sở của cuộc khai
quật vào năm 2003, thì theo TS. Nguyễn Khánh Trung Kiên (2008), niên đại sớm của di
tích Cù Lao Rùa (được gọi là Cù Lao 1) có cùng giai đoạn thời gian với di chỉ Bến Đò.
Trong giai đoạn sớm của di tích, có thể nhận thấy Cù Lao Rùa được cư trú bởi một cộng
động dân cư có truyền thống chế tác đá và làm gốm phát triển. Khi nhìn chung trong tổng
thể văn hóa Đồng Nai lưu vực sơng Đồng Nai, di tích Cù Lao Rùa sở hữu môi trường sinh
thái rất riêng so với những di tích khảo cổ cùng thời khác (Nguyễn Khánh Trung Kiên,
2008, 17 ;28 ;104).
Bộ sưu tập đồ đá tại Cù Lao Rùa mang rất nhiều đặc trưng với di chỉ Bến Đị khi
sở hữu nhiều loại hình cơng cụ đá như rìu, cuốc, bàn mài, đục,... cùng tỉ lệ rìu có vai
chiếm ưu thế, ngồi ra, Cù Lao Rùa cịn ghi nhận sự có mặt của các loại hình trang sức
bằng đá. Đồ gốm Cù Lao Rùa mang những đặc trưng chế tác cơ bản của văn hóa Đồng
Nai với kỹ thuật phát triển và độ phổ biến của văn chải trong trang trí, thế nhưng với đồ
án trang trí khắc vạch thì vơ cùng phong phú với 24 loại hình khác nhau. Với di chỉ Bến
Đị, tại Cù Lao Rùa cũng phát hiện nhiều đặc trưng trong đồ gốm tương tự nhau về mơ típ
hoa văn và loại hình như những chiếc bi gốm, cà ràng. Tại đây cũng phát hiện những vị trí
khả năng cao là huyệt mộ cùng các loại đồ tùy táng bằng gốm và đá (Nguyễn Khánh
Trung Kiên, 2008, 88-90).
2.2 Bình Đa:
Bình Đa là một di tích khảo cổ học ở phường Bình Đa, thành phố Biên Hòa, tỉnh
Đồng Nai ngày nay. Địa điểm khai quật của di chỉ Bình Đa được xác định nằm cạnh sông
12
Cái (một nhánh sông Đồng Nai bao quanh Cù Lao Phố). Dựa trên những tài liệu địa chất
học, di chỉ Bình Đa khi ấy là một đảo nhỏ giữa đầm lầy gần rừng ven biển. Sau hai đợt
khai quật vào năm 1979 và năm 1993, PTS. Phạm Đức Mạnh đã xác nhận tính chất của di
chỉ Bình Đa là một di chỉ cư trú với tầng văn hóa dày đặc khơng bị gián đoạn. Nhìn
chung, Bình Đa là một di chỉ cư trú rộng và dày đặc với đời sống lao động sản xuất phát
triển, sự phát hiện của những chiếc đàn đá còn cho thấy những dấu hiệu về văn hóa và đời
sống tinh thần của cư dân Bình Đa xưa. (Phạm Đức Mạnh, Trần Thị Diêm, Nguyễn Tuyết
Hồng, Trần Minh Trí, Nguyễn Hồng Ân, Điều tra và khai quật lần thứ hai di chỉ Bình Đa,
1997, tr 135;147-149)
Tương đồng với Bến Đò, bộ sưu tập đồ đá tại Cù Lao Rùa mang rất nhiều đặc
trưng của văn hóa Đồng Nai khi sở hữu nhiều loại hình cơng cụ đá như rìu, cuốc, bàn mài,
đục,... Tuy vậy tỉ lệ giữa rìu vai và rìu tứ giác đã có sự cân bằng hơn. Tại đây ngoài việc
phát hiện một số mảnh trang sức, cịn tìm thấy rất nhiều những chiếc đàn đá mà được coi
là đặc trưng quan trọng nhất của di chỉ này. Về đồ gốm, tại Bình Đa cũng phát hiện rất
nhiều các mảnh gốm thể hiện những đặc trưng cơ bản của văn hóa Đồng Nai. Ngồi
những chiếc bi gốm và cà ràng, so với Bến Đò, tại Bình Đa tìm thấy thêm một loại cà
ràng nữa có nguồn gốc từ khu vực sơng Vàm Cỏ cùng đặc trưng riêng của đồ gốm Bình
Đa là những miệng gốm được đắp gờ nổi cao tuy đến nay vẫn chưa xác định được loại
hình của những mảnh miệng ấy (Lê Xuân Diệm, 1998, tr 60-61)
CHƯƠNG II: DI CHỈ BẾN ĐỊ:
Bến Đị là một di tích khảo cổ học ở phường Long Phước, thành phố Thủ Đức
thuộc thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. Địa điểm khai quật là một khu gò cao và đất
rộng được gọi là Gò Đồn với phạm vi phân bố được xác định lên tới 120.000 mét vng.
Xét trên giai đoạn của di tích Bến Đị (3000 năm cách ngày nay) thuộc sơ kì đồ đồng
thau, văn hóa Đồng Nai khi ấy đồ sắt cịn chưa được phát hiện và phổ biến, chất liệu chế
tác của những hiện vật được nghiên cứu bao gồm đá, gốm và số lượng ít ỏi đồ đồng
(Đặng Văn Thắng và các tác giả khác, 1998, tr 57-58). Là một mắt xích gắn liền với tiến
13
trình phát triển của văn hóa Đồng Nai, di chỉ Bến Đị do vậy dĩ nhiên có rất nhiều đặc
điểm tương đồng đặc trưng trong văn hóa Đồng Nai thuộc giai đoạn cùng thời cũng như
mang những tính chất đặc trưng chung nhất của văn hóa khảo cổ Đồng Nai. Song khơng
hề bị phụ thuộc, gói gọn vào khái niệm văn hóa Đồng Nai, di chỉ Bến Đị sở hữu những
phát hiện riêng biệt hay hiếm gặp đối với các di tích khảo cổ khác trong khu vực, như
những phát hiện về tỉ lệ rìu có vai chiếm ưu thế gần như tuyệt đối so với rìu tứ giác, sự
thiếu vắng các loại hình trang sức và những chiếc bi gốm mà đến nay vẫn khiến các nhà
nghiên cứu tranh cái về nguồn gốc và chức năng thực sự của nó. Do vậy mà trước khi có
thể đề xuất những tính mới của di chỉ Bến Đị, em nhận thấy phải có những tổng hợp đầy
đủ nhằm làm cơ sở cho những luận điểm về những đặc tính riêng của di chỉ Bến Đò, tiếp
đến cho việc làm rõ hơn quá trình cư trú của cư dân tại di chỉ này.
1. Quá trình nghiên cứu:
Vào đầu những năm 1970 trước khi đất nước thống nhất, di chỉ Bến Đò đã được các
nhà địa chất như H. Fontaine phát hiện và đào thám sát, tuy nhiên chưa ghi nhận tổ chức
các hoạt động khai quật nào. Do vậy, vào năm 1977, Viện Khảo Cổ thuộc Viện Khoa học
Xã hội Hồ Chí Minh sau khi khảo sát lại khu di chỉ Bến Đò đã tổ chức khai quật và thu
được thêm rất nhiều hiện vật bằng đá. Đợt khai quật vào tháng 5/1977 này được chỉ đạo
bởi Cố Viện trưởng Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Trần Văn Tám cùng các cán bộ
cộng sự, trong số đó có Phạm Văn Kính khi ấy là chuyên viên nghiên cứu của viện cũng
là người đã viết một bài thông báo về những kết quả khai quật trong đợt khai quật trên
trong tạp chí khảo cổ học. Trong những năm kế tiếp, có nhiều nhà chuyên môn thuộc
nhiều cơ quan khác nhau cũng đến di chỉ Bến Đò điều tra, nghiên cứu, quan sát. Nhưng
nền tảng nhất đến thời điểm được TS Vũ Quốc Hiền ghi nhận (1998) thì đợt khai quật vào
tháng 5/1977 trên vẫn là lớn và nền tảng nhất.
2. Tầng văn hóa:
14
Theo Phạm Văn Kính qua báo cáo Khai quật Bến Đị trong tạp chí Khảo cổ học 41977. Lớp đất mặt ở cả 3 hố khai quật ở phía tây và phía đơng trong di chỉ đều là lớp đất
bồi khá mịn, lẫn ít sỏi với độ dày từ 10-20 cm.
Lớp văn hóa là loại đất đồi màu vàng nhạt, hơi xám có lẫn sỏi, mùn, than tro cùng độ
dày 40-60 cm với phần dày hơn ở hố phía đơng .
Lớp sinh thổ là loại đất sét đồi có lẫn sỏi (Phạm Văn Kính, Khai quật Bến Đị, Tạp chí
KCH, 1977, tr 19).
3. Hiện vật:
Nhìn chung vào tháng 5 năm 1977, khi Viện Khảo Cổ tổ chức khai quật tại di chỉ Bến
Đị, các nhà khảo cổ đã tìm thấy rất nhiều hiện vật mà đáng kể trong số đó là khối lương
rất lớn các cơng cụ bằng đá có kích cỡ phần nhiều từ trung bình tới lớn, với nhiều nhất là
các loại rìu có vai được làm bằng đá badan. Tìm thấy tại di chỉ Bến Đị cịn có rất nhiều
bàn mài đá cùng nhiều mảnh vỡ cơng cụ, tuy nhiên những hiện vật trang sức còn hạn chế.
Đồ gốm tại di chỉ Bến Đò được phát hiện rất dày đặc với nhiều loại hình phong phú và
độc đáo như nồi, bình, chậu. Sự đa dạng về nguyên liệu chế tác còn cho thấy sự phổ biến
của đồ gốm tại di chỉ Bến Đị cùng trình độ, kỹ thuật chế tác cao. Trong số đó, Bến Đị là
di chỉ được phát hiện số lượng bi gốm vô cùng lớn cùng một dạng hiện vật chưa biết được
chức năng và cũng chưa tìm thấy các tài liệu dân tộc học phù hợp để đối chiếu. Qua đó có
thể thấy di chỉ Bến Đò là một di chỉ cư trú của người Đồng Nai xưa, sở hữu nhiều và đa
dạng loại hình cả đồ đá lẫn đồ gốm, các loại hiện vật ít nhiều đều thể hiện trình độ chế tác
cao cùng kỹ thuật phát triển. (Đặng Văn Thắng và các tác giả khác, 1998, tr 78-79).
3.1.
Đồ đá:
Đồ đá tại di chỉ Bến Đò hầu hết được chế tạo từ đá badan với rất nhiều loại hình
phong phú, thiết diện ngang thân chủ yếu là hình chữ nhật. Nhưng đặc trưng nhất chính là
tỉ lệ loại hình rìu có vai chiếm tuyệt đại đa số so với loại hình rìu tứ giác. Trong số lượng
rìu vai tìm được thì rìu vai xuôi là phổ biến nhất. (Đặng Văn Thắng và các tác giả khác,
1998, tr 78).
15
Rìu vai:
Thu được 280 chiếc rìu vai, TS Vũ Quốc Hiền đã chia các hiện vật tìm được thành 4
loại khác nhau: Rìu vai xi, rìu vai ngang, rìu vai nhọn và rìu một vai.
Rìu vai xi là loại chiếm số lượng nhiều nhất, gồm 198 chiếc được phát hiện, bao
gồm rìu vai xi chi ngắn và loại rìu vai xi chi dài:
-
Rìu vai xi chi ngắn có đặc điểm kích thước lớn hơn rìu vài xi chi dài, tuy
vậy chi của rìu ngắn chỉ bằng từ một nửa hoặc trở xuống tổng chiều dài tồn
hiện vật.
-
Rìu vai xi chi dài có đặc điểm kích thước nhỏ hơn rìu vai xi chi ngắn, tuy
vậy chi của rìu dài tứ một nửa trở lên tổng chiều dài tồn hiện vật.
Rìu vai ngang được tìm thấy tồng số 33 chiếc, kích thước từ trung bình đến lớn, lưỡi
rìu được đẽo khá phổ biến.
Chiếm số lượng ít nhất là loại rìu một vai với chỉ 6 hiện vật được tìm thấy, theo Diệp
Đình Hoa, những chiếc rìu vai buổi đầu thời đại đồ đồng được phát hiện từ Bắc Chí Nam,
là những dáng hình khởi nguyên của loại hình lưỡi xéo đồng thau thuộc sơ kỳ đồ sắt Việt
Nam.
Nhìn chung, rìu vai khơng chỉ tìm thấy với số lượng rất lớn, mà cịn có rất nhiều loại
hình khác nhau. Sự áp đảo của loại hình rìu vai so với loại hình tứ giác cịn cho thấy một
văn hóa chế tác đá xuất hiện sớm tại di chỉ Bến Đị.
Rìu tứ giác:
Thu được 33 chiếc, TS Vũ Quốc Hiền đã tạm phân những chiếc rìu tứ giác được phát
hiện thành hai loại: rìu tứ giác hình thang và rìu tứ giác hình chữ nhật.
Rìu tứ giác hình thang được tìm thấy 14 chiếc, có chiều dài lớn hơn chiều rộng cùng
số đo của lưỡi rìu lớn hơn số đo của đốc, chủ yếu có kích thước trung bình.
16
Rìu tứ giác hình chữ nhật tìm thấy 19 chiếc, có chiều dài tương đương với chiều rộng
cùng số đo của lưỡi nhỉnh hơn số đo của đốc một ít.
Xét với những phát hiện về các loại hình rìu có vai, thì rìu có vai tại di chỉ Bến Đị
được phát hiện nhiều hơn cả về số lượng lẫn loại hình một cách vượt trội, cho thấy một
đặc trưng chế tác đá riêng của văn hóa Cầu Sắt - Bến Đị với loại hình rìu vai chiếm ưu
thế tuyệt đối.
Rìu tam giác:
Thu được 5 chiếc, có kích thước nhỏ với đốc gần ngọn, TS Vũ Quốc Hiền tin rằng
những chiếc rìu tam giác là do những sản phẩm rìu bị lỗi trong quá trình chế tác hay được
ghè đẽo lại nhằm tiếp tục sử dụng sau khi hư hỏng theo những lý luận về mặt kỹ thuật
học.
Rìu nhỏ:
Trong q trình nghiên cứu, đồn khai quật đã tìm thấy 30 hiện vật có dạng giống rìu
vai nhưng với kích thước rất nhỏ (dài 2-4cm, rộng 1-2cm, dày 0,3cm) mà TS Vũ Quốc
Hiền tin rằng không thể sử dụng với mục đích lao động đơn thuần. Mà có thể có thể được
dùng như các dụng cụ làm gốm?
Cuốc đá:
Thu đươc 2 chiếc, có kích thước khá lớn với thân hơi cong, một cái dài và một cái
ngắn. Cả hai chiếc đều được làm bằng đá badan, thiết diện thân hình chữ nhật cùng lưỡi
cuốc mài khơng đều nhưng sắc.
Đục đá:
Thu được 31 chiếc, được làm bằng đá badan với kích thước trung bình, phần lưỡi nhỏ
hơn phần đốc và được mài kĩ và sắc. Trên thân cịn có vết ghè đẽo nên khả năng một số
được tái sử dụng từ rìu bị hư hỏng để tiết kiệm thời gian và nguyên liệu.
Công cụ mũi nhọn:
17
Thu được 14 chiếc, được làm bằng đá badan, một số chiếc có dấu hiệu được tái chế lại
từ những chiếc rìu vai bị hỏng.
Bàn mài:
Thu được 165 chiếc, được làm bằng sa thạch hay diệp thạch, có kích thước đa dạng từ
lớn đến nhỏ để có thể sử dụng ở nhiều mặt. Rãnh mài có hình lịng máng, một số chiếc
nhỏ có các rãnh nơng chồng chéo lên nhau. TS Vũ Quốc Hiền tin rằng người Bến Đò sử
dụng loại bàn mài cầm tay này để làm công cụ.
Một số hiện vật khác:
Ngoài những hiện vật nêu trên, cuộc khai quật tháng 5/1977 tại di chỉ Bến Đò còn thu
được một số lượng đáng kể là 183 mảnh vỡ công cụ, gồm những mảnh là những công cụ
bị hỏng không được tái chế lại hay những mảnh vỡ bể ra từ các cơng cụ trên.
Ngồi ra, cuộc khai quật cịn tìm thấy 14 dạng cơng cụ có hình mũi nhọn được TS Vũ
Quốc Hiền quan điểm rằng được tái chế lại từ những chiếc rìu vai bị hỏng. Nhóm khai
quật cịn tìm thấy một chiếc dao đá badan khơng ngun vẹn cùng một vật đá sa thạch
hình bánh xe, tuy vậy chức danh và công năng thật sự của hai hiện vật trên vẫn chưa thể
xác định được rõ ràng. (Đặng Văn Thắng và các tác giả khác, 1998, tr 51-71).
3.2.
Đồ gốm
Đồ gốm tại Bến Đò được phát hiện với mật độ rất dày đặc, số mảnh gốm thu được
lên đến 1 vạn mảnh, ngồi ra cịn có các hiện vật chưa xác định cơng dụng như những
hiện vật bi gốm hay gốm sừng bò. TS Vũ Quốc Hiền khi nhận định về những đặc trưng
của đồ gốm Bến Đò đã nhận xét rằng người dân Bến Đị sở hữu trình độ kĩ thuật làm gốm
cao. Gốm Bến Đị có thành mỏng, rắn chắc do nhiệt độ nung cao. Sở hữu riêng các kiểu
đồ gốm có miệng loe xiên hay có chân đế hình ống ở các bát chân cao, “đậu” và mâm
bồng cùng số lượng lớn bi gốm và sự phát hiện của những chiếc “gốm sừng bò”. Cũng
theo TS Vũ Quốc Hiền nghiên cứu, những chiếc bi gốm qua các tài liệu dân tộc học có
18
khả năng là những loại đồ chơi trẻ con, và những chiếc “gốm sừng bị” có thể là một dạng
chân đỡ của cà ràng, tương tự như ở Rạch Núi, An Sơn, Lộc Giạng,...
Ngồi những loại đồ gốm có cơng dụng chung, tại Bến Đị cịn có những chiếc
“gốm sừng bị” được tìm thấy với số lượng 12 chiếc, ban đầu được coi là một trong những
kiểu gốm đặc trưng tại Bến Đò. Những chiếc “gốm sừng bò” thực chất là những chiếc cà
ràng được sử dụng nấu ăn với thân đặc, có đầu cong với đỉnh trịn hoặc nhịn, thiết diện
thân trịn và lớn dần về phía chân, được chia ra làm 2 loại với chất liệu khác nhau
(Nguyễn Thị Hà, Cà Ràng trong Di tích Khảo cổ Đơng Nam Bộ, tr 15).
Chất liệu: Chủ yếu là từ đất sét pha cát mịn, phụ gia bao gồm vỏ nguyễn thể, mi
ca, bã thực vật với tỉ lệ tùy loại.
Xương gốm được chia ra làm 4 loại:
-
Xương xám nâu: Chiếm số lượng lớn nhất, phụ gia nhiều gồm các vỏ nguyễn thể
cùng một ít bã thực vật. Trên xương gốm còn thấy rõ các hạt tấm trắng.
-
Xương xám vàng: Làm chủ yếu từ đất sét và cát mịn.
-
Xương xám đen: Phụ gia bã thực vật chiếm phần nhiều, chủ yếu là các xương động
vật ngả màu xám đen.
-
Xương đen thẫm: Phụ gia bã thực vật chiếm phần nhiều, chủ yếu là xương động
vật nung cháy thành than đen. Xương gốm dày, có lỗ hổng tạo cảm giác xốp nhưng
thực chất rất cứng, TS Vũ Quốc Hiền tin rằng là do gốm có xương loại này được
nung ở nhiệt độ cao hơn các loại gốm khác.
Mảnh áo gốm gồm có 3 màu chính: Xám đen, xám vàng, đỏ nhạt. Một số gốm đặc biệt
được tơ bằng màu thổ hồng.
Kỹ thuật:
Rất có thể gốm tại Bến Đị được chế tác bằng bàn xoay do thành gốm mỏng đều cùng
vết xước chạy vòng đều trên các mảnh miệng. Dựa trên các mảnh miệng và chân đế,
nhóm nghiên cứu đã phân ra đa dạng các loại hình gốm ở Bến Đị với 10 loại hình miệng
19
và 3 kiểu chân đế. Ngoài ra về mặt mục địch sử dụng, gốm ở di chỉ Bến Đò cũng được
xác định phong phú về loại hình như nồi, bình, chậu, đĩa chân cao,...
Dựa trên các mảnh gốm thì xét về đồ án trang trí thì chủ yếu vẫn là các loại văn chải
chạy dọc thân và đan chéo với nhau. Đồ án văn thừng cũng có nhưng hầu như rất hiếm
gặp. Hoa văn khắc vạch dù chiếm tỉ lệ nhỏ nhưng khá phong phú trong hình thức trang trí.
TS Vũ Quốc Hiền đã chia các đồ án trang trí gốm tại di chỉ Bến Đị dựa theo những mơ
típ gồm: Mơ típ chữ S, mơ típ hình học, mơ típ hình sóng nước và mơ típ dấu chấm, gạch
chéo. (Đặng Văn Thắng và các tác giả khác, 1998, tr 71-78).
4. Nhận xét về di chỉ Bến Đị:
Phạm Văn Kính khi nhận xét về di chỉ Bến Đị trong cơng bố kết quả khai quật vào
năm 1977 đã khẳng định tính chất cư trú của di chỉ Bến Đị. Sự chiếm ưu thế tuyệt đối của
loại hình rìu đá có vai so với rìu tứ giác cùng sự phát hiện của các công cụ mũi nhọn, dao
cắt cùng hệ thống loại hình, đồ án trang trí gốm độc đáo là các đặc trưng quan trọng của
di chỉ Bến Đị. Ngồi ra, văn hóa Bến Đị cịn được thể hiện qua sự vắng mặt của các đồ
trang sức đá, rọi se chỉ và bàn mài có rãnh dạng lịng máng khi so sánh với các di tích
khác trong khu vực. Ngồi những đặc điểm riêng, di chỉ Bến Đò còn thể hiện sự giao lưu
với các di tích khảo cổ xung quanh, thông qua sự phát hiện của dao cắt, số lượng rìu vai,
đồ gốm có núm nhọn ở trơn, gốm có chân đế cao hình loa, hình ống,... Phạm Văn Kính
cũng đặt giả định về niên đại sớm nhất của di chỉ Bến Đị là có từ 4000 năm BP, tuy nhiên
lại tin vào khả năng quá trình cư trú có thể thật sự được bắt đầu ở một niên đại sớm hơn
so với giả định qua những nghiên cứu mới trong tương lai (Phạm Văn Kính, 1977, tr 21).
Theo TS Vũ Quốc Hiền, di chỉ Bến Đò là một mắt xích quan trọng trong hệ thống các
di tích khảo cổ hậu kì đá mới – sơ kì đồ đại đồng, giúp phần nào thể hiện được tính đa
dạng phong phú của văn hóa Đồng Nai. Nhóm tác giả cũng dựa trên những thơng tin về
các hiện vật rìu có vai mà đã đặt tên Bến Đị cho loại hình văn hóa địa phương Cầu Sắt –
Bến Đị qua mối liên hệ về đặc điểm rìu của đá và đồ gốm với di chỉ Cầu Sắt (Đồng Nai),
20