Tải bản đầy đủ (.doc) (234 trang)

Nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị cho đội ngũ đảng viên ở tổ chức cơ sở đảng của các đảng bộ quận, huyện thành phố hà nội hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (871.77 KB, 234 trang )

LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của
riêng tác giả. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là
trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, khơng trùng lặp
với các cơng trình khoa học đã công bố.
Tác giả luận án

Bùi Thị Thu Hiền


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT

Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

1

Chính trị - Xã hội

CT - XH

2

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

3


Đội ngũ cán bộ

ĐNCB

4

Giáo dục chính trị

GDCT

5

Kinh tế - Xã hội

KT - XH

6

Tập trung dân chủ

TTDC

7

Thành phố Hà Nội

TPHN

8


Tổ chức cơ sở đảng

TCCSĐ

9

Trong sạch vững mạnh

TSVM

10

Xã hội chủ nghĩa

XHCN


MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU

Trang

5

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

11
1.1. Các cơng trình nghiên cứu ở nước ngồi có liên quan đến
đề tài luận án
11
1.2. Những cơng trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan
đến đề tài luận án
22
1.3. Giá trị của các cơng trình khoa học đã tổng quan và những
vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
40
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁO
DỤC CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN
Ở TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG CỦA CÁC ĐẢNG
BỘ QUẬN, HUYỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
45
2.1. Tổ chức cơ sở đảng của các đảng bộ quận, huyện thành
phố Hà Nội và công tác giáo dục chính trị cho đội ngũ
đảng viên ở tổ chức cơ sở đảng của các đảng bộ quận,
huyện thành phố Hà Nội
45
2.2. Những vấn đề cơ bản về chất lượng và nâng cao chất
lượng cơng tác giáo dục chính trị cho đội ngũ đảng viên
ở tổ chức cơ sở đảng của các đảng bộ quận, huyện
thành phố Hà Nội
78
Chương 3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG VÀ KINH
NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CƠNG TÁC
GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ ĐẢNG
VIÊN Ở TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG CỦA CÁC

ĐẢNG BỘ QUẬN, HUYỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
95
3.1. Thực trạng chất lượng công tác giáo dục chính trị cho đội
ngũ đảng viên ở tổ chức cơ sở đảng của các đảng bộ
quận, huyện thành phố Hà Nội
95
3.2. Nguyên nhân và một số kinh nghiệm nâng cao chất 117
lượng cơng tác giáo dục chính trị cho đội ngũ đảng viên


ở tổ chức cơ sở đảng của các đảng bộ quận, huyện
thành phố Hà Nội
Chương 4 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG CƠNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH
TRỊ CHO ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN Ở TỔ CHỨC CƠ
SỞ ĐẢNG CỦA CÁC ĐẢNG BỘ QUẬN, HUYỆN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
4.1. Những yếu tác động và yêu cầu nâng cao chất lượng
cơng tác giáo dục chính trị cho đội ngũ đảng viên ở tổ
chức cơ sở đảng của các đảng bộ quận, huyện thành phố
Hà Nội hiện nay
4.2. Những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng công tác
giáo dục chính trị cho đội ngũ đảng viên ở tổ chức cở sở
đảng của các đảng bộ quận, huyện thành phố Hà Nội
hiện nay

135

135


149
193

KẾT LUẬN
DANH MỤC CƠNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
195
BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
196
PHỤ LỤC
209


5
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Giáo dục chính trị là một bộ phận quan trọng của cơng tác tư tưởng,
văn hóa; một nội dung, biện pháp cơ bản nâng cao trình độ nhận thức, giác
ngộ, bản lĩnh chính trị, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, nâng cao
kiến thức lãnh đạo, quản lý, ý thức chấp hành kỷ luật, pháp luật cho đội ngũ
cán bộ, đảng viên. Cơng tác GDCT có vai trị rất quan trọng trong nâng cao
lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán
bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.
Hà Nội là Thủ đô - trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia,
nơi đặt trụ sở các cơ quan của Đảng, Nhà nước, mặt trận tổ quốc, các tổ chức
chính trị - xã hội, cơ quan ngoại giao của các nước trên thế giới và các tổ chức
quốc tế; đồng thời là trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục,
khoa học, công nghệ của cả nước. TCCSĐ của các đảng bộ huyện TPHN là
nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị, cầu nối giữa đảng với nhân dân, bảo

đảng sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả
công tác GDCT cho đội ngũ đảng viên ở TCCSĐ của các đảng bộ huyện
TPHN là một nội dung, biện pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu
của cấp ủy, tổ chức đảng; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, góp phần
ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi
phạm kỷ luật, pháp luật, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong nội bộ, xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng,
đạo đức, tổ chức và cán bộ.
Những năm qua, quán triệt, triển khai thực hiện quy định về chế độ học
tập chính trị trong Đảng, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Thường vụ Thành
ủy, Ban Tuyên giáo Thành ủy, các quận ủy, huyện ủy thuộc Đảng bộ TPHN
đã có nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất
lượng công tác GDCT cho đội ngũ đảng viên. Nhờ đó, cơng tác GDCT cho


6
đội ngũ đảng viên ở TCCSĐ có chuyển biến tích cực, nâng cao nhận thức tư
tưởng, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, kiến thức, năng lực, phong cách
công tác của đội ngũ đảng viên; phịng chống suy thối, tiêu cực trong nội bộ,
chủ động đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch;
củng cố, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của TCCSĐ...
Tuy nhiên, chất lượng công tác GDCT cho đội ngũ đảng viên ở
TCCSĐ của các đảng bộ quận, huyện TPHN vẫn cịn có những hạn chế, bất
cập. Một số cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng các cấp cịn lúng túng
trong quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, hướng
dẫn của cấp trên; chưa coi trọng đúng mức và thường xuyên quan tâm lãnh
đạo, chỉ đạo quyết liệt việc đổi mới chương trình, nội dung, hình thức,
phương pháp GDCT cho cán bộ, đảng viên; tính thuyết phục, tính chiến đấu,
chất lượng, hiệu quả cơng tác GDCT cho cán bộ, đảng viên cịn có những

hạn chế. Công tác nắm bắt dư luận, định hướng tư tưởng và đấu tranh phản
bác, ngăn chặn thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi
thụ động, thiếu sắc bén, hiệu quả thấp. Một bộ phận cán bộ, đảng viên ở các
TCCSĐ thiếu gương mẫu, ngại khó, ngại khổ, lười học tập, trình độ kiến thức,
năng lực hạn chế; thậm chí phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, suy thối về về
tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm
kỷ luật đảng, pháp luật nhà nước...
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có những biến
động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Xu hướng tồn
cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự bùng nổ của mạng
Internet, các mạng xã hội toàn cầu và những tác động hàng ngày, hàng giờ từ
mặt trái của kinh tế thị trường, tiêu cực, tệ nạn xã hội. Các thế lực thù địch,
phần tử phản động, có hội chính trị ráo riết đẩy mạnh hoạt động chống, phá
Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN bằng những chiêu thức, thủ đoạn vô cùng


7
tinh vi, nham hiểm nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội
bộ; lợi dụng vấn đề “tự do dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo” để kích
động “bạo loạn lật đổ”, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội...
Để tiếp tục đẩy mạnh tồn diện, đồng bộ cơng cuộc đổi mới, cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ vững mơi trường hịa bình, ổn định để phát triển
bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; phấn đấu đến giữa thế kỷ
XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đảng ta đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn
Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; nâng cao năng
lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, kiên quyết ngăn
chặn, đẩy lùi suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; củng cố, tăng niềm tin của nhân dân

với Đảng. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội
dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp
thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục
trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước [38, tr.181].
Nhiệm vụ xây dựng, phát triển Hà Nội giàu đẹp, văn minh, hiện đại,
tiêu biểu cho cả nước, xứng đáng là trung tâm đầu não chính trị- hành chính
quốc gia; trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch
quốc tế; động lực phát triển kinh tế- xã hội của cả nước. Yêu cầu tăng cường
công tác xây dựng Đảng bộ Thành phố trong sạch, vững mạnh tiêu biểu địi
hỏi phải nâng cao chất lượng cơng tác giáo dục chính trị cho đội ngũ đảng
viên góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và
nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Với những lý do trên, tác giả lựa
chọn vấn đề “Nâng cao chất lượng cơng tác giáo dục chính trị cho đội ngũ
đảng viên ở Tổ chức cơ sở đảng của các Đảng bộ quận, huyện thành phố Hà
Nội hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng và
chính quyền nhà nước.


8
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn và đề xuất những giải
pháp nâng cao chất lượng công tác GDCT cho đội ngũ đảng viên ở TCCSĐ
của các đảng bộ quận, huyện TPHN hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề cơ bản về chất lượng và nâng cao chất lượng
công tác GDCT cho đội ngũ đảng viên ở TCCSĐ của các đảng bộ quận,
huyện TPHN.
- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra kinh nghiệm

nâng cao chất lượng công tác GDCT cho đội ngũ đảng viên ở TCCSĐ của các
đảng bộ quận, huyện TPHN.
- Xác định yêu cầu, đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng công
tác GDCT cho đội ngũ đảng viên ở TCCSĐ của các đảng bộ quận, huyện
TPHN hiện nay.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng công tác GDCT cho đội ngũ đảng viên ở TCCSĐ của các
Đảng bộ quận, huyện TPHN.
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn
GDCT, chất lượng và nâng cao chất lượng công tác GDCT cho đội ngũ đảng
viên ở TCCSĐ của các đảng bộ quận, huyện thành phố Hà Nội.
- Phạm vi về khách thể khảo sát: Đề tài luận án tập trung nghiên cứu
khảo sát thực tế công tác GDCT và hoạt động nâng cao chất lượng công tác
GDCT cho đội ngũ đảng viên ở một số TCCSĐ của các đảng bộ quận, huyện
thành phố Hà Nội.
- Phạm vi về thời gian: Các tư liệu, số liệu khảo sát thực tế giới hạn chủ
yếu từ 2015 đến nay. Đề xuất các giải pháp có giá trị ứng dụng thực tiễn đến
năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030


9
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về công tác xây dựng,
chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; về cơng tác tư tưởng, lý luận của Đảng;
về tăng cường củng cố, xây dựng TCCSĐ và nâng cao chất lượng đội ngũ
đảng viên.

* Cơ sở thực tiễn
Là hiện thực hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác
GDCT cho đội ngũ đảng viên ở TCCSĐ của các đảng bộ quận, huyện TPHN.
Luận án sử dụng có chọn lọc các tư liệu, số liệu trong báo cáo sơ kết, tổng kết
của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng các cấp về công tác GDCT cho
đội ngũ đảng viên ở TCCSĐ của các đảng bộ quận, huyện TPHN và kết quả
khảo sát thực tế của nghiên cứu sinh.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin,
luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên
ngành và liên ngành; trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp lơgic - lịch
sử, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, thống kê- so sánh, tổng kết thực
tiễn- nghiên cứu lý luận; điều tra khảo sát và phương pháp chuyên gia.
5. Những đóng góp mới của luận án
- Góp phần luận giải sâu sắc hơn quan niệm chất lượng và nâng cao
chất lượng công tác GDCT cho đội ngũ đảng viên ở TCCSĐ của các đảng bộ
quận, huyện TPHN.
- Rút ra một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng công tác GDCT cho
đội ngũ đảng viên ở TCCSĐ của các đảng bộ quận, huyện TPHN.
- Đề xuất một số nội dung, biện pháp có tính khả thi trong các giải pháp
nâng cao chất lượng công tác GDCT cho đội ngũ đảng viên ở TCCSĐ của các
đảng bộ quận, huyện TPHN hiện nay.


10
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận về GDCT, nâng
cao chất lượng công tác GDCT cho đội ngũ đảng viên ở TCCSĐ của các đảng
bộ quận, huyện TPHN, như: quan niệm, yếu tố quy định, tiêu chí đánh giá
chất lượng cơng tác GDCT cho đội ngũ đảng viên ở TCCSĐ của các đảng bộ

quận, huyện TPHN; xây dựng và luận giải làm rõ nội hàm quan niệm, xác
định những vấn đề có tính ngun tắc; rút ra một số kinh nghiệm và đề xuất
những nội dung, biện pháp cụ thể, khả thi trong các giải pháp nâng cao chất
lượng công tác GDCT cho đội ngũ đảng viên ở TCCSĐ của các đảng bộ
quận, huyện TPHN hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp thêm luận cứ khoa
học phục vụ Thành ủy Hà Nội, các quận ủy, huyện ủy lãnh đạo, chỉ đạo nâng
cao chất lượng công tác GDCT cho đội ngũ đảng viên ở các TCCSĐ.
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng
dạy ở các học viện, nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc gia.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở đầu, nội dung gồm 4 chương (9 tiết), kết luận, danh
mục các cơng trình của tác giả đã cơng bố có liên quan đến đề tài luận án;
danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.


11
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Các cơng trình nghiên cứu ở nước ngồi có liên quan đến đề tài
luận án
1.1.1.

Các cơng trình nghiên cứu về đội ngũ cán

bộ, đảng viên
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (1973), Bản
hướng dẫn các tổ chức của Đảng cộng sản Liên Xô trong Quân đội và Hải
quân Xô viết [5], cuốn sách đã đề ra 13 nhiệm vụ của các TCCSĐ của Quân

đội và Hải qn Xơ Viết. Trong đó có các nhiệm vụ liên quan đến công tác
giáo dục, rèn luyện đội ngũ viên ở các đơn vị Hải quân Liên Xô như:
Giáo dục các đảng viên Cộng sản là người chiến sĩ tích cực và
giác ngộ chính trị của Đảng, tinh thần trung thành với sự nghiệp của
Đảng Cộng sản Liên Xô, tinh thần tin tưởng vào đạo đức Cộng sản; tổ
chức cho các đảng viên nghiên cứu lý luận Mác - Lênin; giáo dục mọi
đảng viên chính thức và đảng viên dự bị của Đảng tinh thần cảnh giác
cao, lòng căm thù với mọi kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản, có ý chí kiên
định, tinh thần dũng cảm, chủ nghĩa anh hùng, khả năng chịu đựng mọi
khó khăn trong cuộc sống chiến đấu, cống hiến tất cả sức lực nếu cần
để bảo vệ tổ quốc XHCN [5, tr 245].
I.S.Mét-Nhi Cốp (1974), Đảng cộng sản người lãnh đạo và giáo dục
các lực lượng vũ trang Xô Viết [76]. Tác giả cho rằng:
Sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và củng cố Quân
đội là quy luật khách quan, nó bắt nguồn từ bản chất của Đảng Mác Lênin và việc tăng cường vai trò ảnh hưởng của tổ chức đảng trong Quân
đội và Hải quân là nền tảng cơ bản nhất của việc xây dựng lực lượng vũ
trang. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội đòi hỏi phải


12
nâng cao vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong thực
hiện chức trách người chiến sĩ [76, tr.159].
Viện Lịch sử quân sự BQP Liên Xô (1976), Cơng tác đảng, cơng tác
chính trị trong các lực lượng vũ trang Liên Xô 1918-1973 [146]. Các tác giả đã
phân tích và khẳng định vị trí, vai trị quan trọng của các TCCSĐ, chi bộ trong
việc xây dựng, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội Xô viết trong chiến
tranh bảo vệ tổ quốc. Tác giả cũng xác định, để nâng cao năng lực lãnh đạo của
chi bộ phải chú trọng kiện tồn tổ chức, bồi dưỡng đội ngũ bí thư cấp ủy, đặc biệt
là bí thư chi bộ về phẩm chất, năng lực, phương pháp tác phong công tác. Đồng
thời chỉ rõ, TCCSĐ, chi bộ là nơi trực tiếp quán triệt, triển khai thực hiện thắng lợi

mọi nghị quyết, chỉ thị của tổ chức đảng cấp trên; nơi giáo dục, rèn luyện, đảng
viên.
CU. Tréc-Nen-Cô (1984), Những vấn đề về công tác của bộ máy Đảng
và Nhà nước [17]; cuốn sách đã tập trung phân tích luận giải những vấn đề có
tính ngun tắc trong hoạt động bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước;
phân biệt chức năng nhiệm vụ của cấp ủy đảng với những nhiệm vụ của cơ
quan Nhà nước; những kinh nghiệm trong phát huy nền dân chủ XHCN; vấn
đề cán bộ, vấn đề lãnh đạo tập thể và trách nhiệm cá nhân, vấn đề kiểm tra và
kiểm soát, ý thức tổ chức kỷ luật của người cán bộ và trách nhiệm của các cơ
quan Đảng, Nhà nước với việc phát huy vai trò làm chủ của quần chúng, về
vấn đề cán bộ tác giả luận giải, Đảng Cộng sản Liên Xô luôn quan tâm đến
công tác cán bộ, văn kiện Đại hội XXVI, Đảng Cộng sản Liên Xô khẳng định
việc tạo ra nguồn dự trữ cán bộ vững chắc là một nhiệm vụ quan trọng. Do
đó, “Trong cơng tác cán bộ đã và đang nghiêm chỉnh tuân theo những nguyên
tắc và kế hoạch do Lênin vạch ra. Nguyên tắc lựa chọn cán bộ theo những
tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị và năng lực làm việc là nguyên tắc cơ bản
trong số những nguyên tắc đó” [17, tr. 118]. Đảng nhận thức rằng việc cải tiến
chất lượng ĐNCB trong bộ máy quản lý Nhà nước là quá trình kết hợp hữu cơ


13
giữa chọn lọc và sắp xếp với GD-ĐT. Vấn đề học tập, đào tạo và bồi dưỡng
cán bộ Đảng Xô viết và kinh nghiệm phát triển luôn luôn là một trong những
mặt lãnh đạo trong chính sách cán bộ của Đảng.
Đặng Thúy Hà (2004), Tình hình xây dựng đội ngũ đảng viên và vấn
đề kết nạp đảng viên mới của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong giai đoạn
mới [64]. Tác giả đã phân tích tình hình xây dựng đảng viên ở Trung Quốc,
nhất là thực trạng phát triển đảng viên, Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tác giả
cho rằng, phát triển đảng viên cần hết sức tránh tình trạng chạy theo số lượng,
hạ thấp tiêu chuẩn, xem nhẹ chất lượng hoặc rụt rè, hẹp hòi trong phát triển

đảng viên. Chất lượng đảng viên gắn liền với số lượng đảng viên là một yếu
tố quan trọng tạo thành sức mạnh của ĐNĐV. Phải có một số lượng đản viên
nhất định thì mới tạo nên được lực lượng chiến đấu của Đảng, mới tăng
cường vai trò lãnh đạo của Đảng.
Thẩm Vinh Hoa (2008), Tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài, kế lớn
năm năm chấn hưng đất nước [70]; cuốn sách đã phân tích rõ cơ sở lý luận,
thực tiễn của việc xây dựng ĐNCB Trung Quốc trong thời kỳ mới, trong đó
tri thức được đề cao, đi đơi với địi hỏi “tài đức song toàn”. Trên cơ sở tổng
kết kinh nghiệm thực tiễn của cách mạng Trung Quốc, tác giả chỉ ra tính cấp
thiết để xây dựng CNXH, Đảng phải tìm cho ra và đào tạo được ĐNCB có tài,
đức, hết lịng với sự nghiệp cách mạng. Đảng Cộng sản Trung Quốc kiên trì
tư tưởng Mao Trạch Đơng và lý luận Đặng Tiểu Bình trong tiến hành đường
lối cơng tác tổ chức cán bộ. Theo quan niệm của Mao Trạch Đông và Đặng
Tiểu Bình, sự nghiệp xây dựng CNXH cần những con người Macxit-Lêninnit
chân chính, tồn tâm tồn ý phục vụ cho sự nghiệp vĩ đại của tuyệt đại đa số
nhân dân Trung Quốc. Mao Trạch Đông nhấn mạnh rằng: cán bộ lãnh đạo
phải cố gắng để trở thành chuyên gia tinh thông công tác kinh tế “Những
người không chú trọng nghiên cứu sản xuất thì khơng thể nói là người lãnh


14
đạo tốt được” [70, tr. 67]. Mao Trạch Đông cũng yêu cầu: cán bộ, đảng viên
phải hăng hái nỗ lực để nâng cao trình độ chủ nghĩa Mác-Lênin, làm cho
mình trở thành chun gia tinh thơng cơng tác chính trị nữa.
Vôngxavăn Xaynhavông (2013), “Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở
Lào - Thực trạng và giải pháp” [141]. Tác giả đã phân tích thực trạng những ưu
điểm, hạn chế của công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB công chức ở Lào từ năm
2006 đến năm 2012. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp đào tạo, bồi
dưỡng ĐNCB công chức ở Lào hiện nay là: tiến hành phân loại cán bộ cơng
chức để có các hình thức đào tạo, bồi dưỡng phụ hợp với yêu cầu sử dụng và

trình độ cán bộ, cơng chức; thực hiện đào tạo, bồi dưỡng theo quy hoạch, gắn
chặt với quy hoạch cán bộ công chức; đầu tư hợp lý và có chế độ, chính sách
thích hợp cho cơng tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức; thực hiện đào tạo,
bồi dưỡng tồn diện; đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, bồi
dưỡng, chăm lo xây dựng đội ngũ giảng viên có trình độ cao và tăng cường hợp
tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức.
BunLon SaLuôiSắc (2014), “Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội nhân
dân Lào ngày càng vững mạnh và có chất lượng cao” [11]. Tác giả đã phân
tích làm rõ vị trí, vai trị và tầm quan trọng của ĐNCB những năm qua Đảng
ủy, Bộ Quốc phòng Quân đội nhân dân Lào đã có nhiều chủ trương, biện pháp
lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, nâng cao chất lượng ĐNCB quân đội về mọi mặt,
là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và
nhân dân các bộ tộc Lào. Trên cơ sở chỉ rõ thực trạng tác giả đã đề xuất các
giải pháp xây dựng ĐNCB quân đội. Trong nội dung, biện pháp nâng cao chất
lượng hiệu quả lãnh đạo, quản lý, chỉ huy đơn vị của ĐNCB tác giả chỉ rõ:
thực hiện các nội dung trong cơng tác cán bộ, nâng cao trình độ mọi mặt của
ĐNCB phải gắn với trách nhiệm lãnh đạo, quản lý, chỉ huy đơn vị; gắn quy
hoạch với đào tạo, bồi dưỡng quản lý và thực hiện chính sách đối với cán bộ;


15
đẩu tranh khắc phục hiện tượng tiêu cực, sai trái trong công tác cán bộ; lấy kết
quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao của cán bộ để đánh giá chất
lượng công tác xây dựng ĐNCB.
Vũ Dần (2013), Xây dựng văn hóa liêm chính của Đảng Cộng sản Trung
Quốc [21]. Cuốn sách đã đưa ra các giải pháp xây dựng liêm chính cho cán bộ,
đảng viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc, như: Tăng cường giáo dục, dẫn dắt
cán bộ, đảng viên xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan và quan niệm quyền
lực đúng đắn; quán triệt thực iện quy phạm ngành nghề và quy phạm hành vi
làm việc liêm khiết của cán bộ, đảng viên lãnh đạo, thúc đẩy cán bộ lãnh đạo

thực hiện quan niệm liê chính; đi sâu cơng khai cơng tác đảng, cơng tác chính
quyền, để quyền lực vận hành dưới ánh mặt trời. Ánh mặt trời có chức năng diệt
khuẩn, khử độc, có khả năng tăng cường sức miễn dịch của cơ thể người, để vạn
vật tràn đầy sức sống, là thuốc chống thối rữa tốt nhất.
Pheng sỏn Khu Thoong Khăm (2014), Chất lượng đội ngũ đảng viên
ở nông thôn các tỉnh miền trung nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào
trong giai đoạn hiện nay [93]. Luận án đã làm rõ một số khái niệm và tiêu
chí đánh giá chất lượng ĐNĐV nói chung và ĐNĐV ở nơng thơn các tỉnh
miền trung nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào. Trên cơ sở tiêu chí đó,
luận án đã đánh giá thực trạng ưu, khuyết điểm của ĐNĐV và công tác
nâng cao chất lượng đảng viên của các tổ chức đảng, đề ra các giải pháp
khả thi để nâng cao chất lượng ĐNĐV. Tác giả luận án quan tâm đến một
trong những giải pháp mà luận án đưa ra là tăng cường công tác quản lý
đảng viên ở nơng thơn trong tình hình mới.
Neang Phat (2016), Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội Hoàng gia
Campuchia hiện nay [88]. Luận án đã làm rõ quan niệm, đặc điểm, vị trí, vai
trị; u cầu phẩm chất năng lực của ĐNCB Quân đội Hoàng gia Campuchia.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, rút ra những kinh nghiệm, chỉ ra những yếu tố


16
tác động, xác định yêu cầu, tác giả đã đề xuất sáu giải pháp tăng cường xây
dựng ĐNCB Quân đội Hoàng gia Campuchia hiện nay. Ở giải pháp thứ ba, bàn
về đổi mới, nâng cao chất lượng tạo nguồn, tuyển chọn, quy hoạch ĐNCB Quân
đội Hoàng gia Campuchia, tác giả cho rằng: thực hiện đúng phương châm
“động”, “mở” và “mềm” trong quy hoạch ĐNCB các cấp, đảm bảo cho công tác
quy hoạch khơng hạn chế số người định sẵn, có nhiều nguồn để lựa chọn, khơng
khép kín trong từng cơ quan, đơn vị; cần nhớ đến chính sách tiến cử, bầu cử,
thăng chức vượt cấp của các triều đại Campuchia trong lịch sử dựng nước và giữ
nước nhằm trọng dụng, khơng bỏ sót người tài. Chính sách này đã được thực

tiễn lịch sử chứng minh là đúng đắn và có hiệu quả.
Đảng Cộng sản Trung Quốc (2018), Tổng tập Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIX Đảng Cộng sản Trung Quốc [29]. Nội dung cuốn sách
gồm: Báo cáo tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIX Đảng Cộng sản Trung
Quốc do Tổng Bí thư Tập Cận Bình trình bày; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIX Đảng Cộng sản Trung Quốc về báo cáo của Ban Chấp hành
Trung ương khóa XVIII; Điều lệ Đảng Cộng sản Trung Quốc (sửa đổi); Báo
cáo công tác của Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung
Quốc khóa XVIII trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIX...
Để thực hiện mục tiêu “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa”, Đại hội
lần thứ XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc xác định: “Kiên định quản lý
đảng nghiêm minh tồn diện, khơng ngừng nâng cao năng lực cầm quyền và
trình độ lãnh đạo của Đảng” [29, tr.93], “đặt xây dựng chính trị của Đảng
lên vị trí hàng đầu. Xây dựng chính trị của Đảng là cơng việc mang tính cơ
bản của Đảng, quyết định phương hướng và hiệu quả xây dựng Đảng” [ 29,
tr.94]. Đảng Cộng sản Trung Quốc đặc biệt chú trọng xây dựng nền tảng tư
tưởng của Đảng với phương châm “lý tưởng cách mạng cao hơn tất cả”
nhằm “trang bị cho toàn Đảng bằng tư tưởng xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung


17
Quốc trong thời đại mới” [tr.96]. Tập trung giáo dục lý tưởng cao cả của chủ
nghĩa cộng sản và lý tưởng của chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc là “ trụ
cột tinh thần và linh hồn chính trị của các đảng viên Trung Quốc, cũng là
nền tảng tư tưởng giữ gìn khối đồn kết và thống nhất của Đảng” [ 29, tr.97].
Đảng Cộng sản Trung quốc rất coi trọng cơng tác GDCT cho đội ngũ đảng
viên trong tồn Đảng, trọng tâm là GDCT cho cán bộ, đảng viên ở cấp
huyện, cấp phịng. “Tơn vinh tác phong và tạo khơng khí học tập chủ nghĩa
Mác, thúc đẩy bình thường hóa, chế độ hóa giáo dục học tập “hai học, một
làm”, lấy cán bộ lãnh đạo từ cấp huyện, cấp phòng trở lên làm trọng điểm,

triển khai giáo dục chủ đề “ không quên tâm nguyện ban đầu, khắc nghi sứ
mệnh” trong tồn Đảng [29, tr.97].
1.1.2. Các cơng trình nghiên cứu về cơng tác giáo dục chính trị tư tưởng và
nâng cao chất lượng cơng tác giáo dục chính trị tư tưởng
A.A. Grê-scô (1978), Các lực lượng vũ trang của Nhà nước Xô viết
[4]; cuốn sách đã đề cập một cách khái quát về nguồn gốc của sức mạnh
chiến đấu của Quân đội và Hải quân Liên Xô; những quy luật của những
thắng lợi của họ, tính chất tác động của những quy luật ấy trong điều kiện
hiện nay và trong cuộc chiến tranh tương lai có thể xảy ra. Đề cập đến cán
bộ sĩ quan của các lực lượng vũ trang trong chương VII tác giả luận giải
“Không thể xây dựng và phát triển qn đội mà khơng có một số lượng đầy
đủ cán bộ chỉ huy, cán bộ chính trị, cán bộ kỹ thuật - kỹ sư được đào tạo một
cách thích đáng. Đó là chân lý hồn toàn rõ ràng; sĩ quan là cơ sở, là sườn
của quân đội và hạm đội” [4, tr. 289]. Tác giả đã đề ra những yêu cầu rất cụ
thể với cán bộ sĩ quan và việc đào tạo họ: một là, tính kiên định cộng sản
chủ nghĩa, lịng trung thành vơ hạn với Đảng và nhân dân; hai là, kỷ luật và
ý thức chấp hành cao; ba là, sáng kiến và tính chủ động; bốn là, ý chí chỉ
huy và năng lực tổ chức; năm là, cán bộ, sĩ quan phải có trình độ nghiệp vụ,


18
trình độ văn hóa và trình độ kỹ thuật, qn sự cao; sáu là, biết huấn luyện và
giáo dục những người dưới quyền của mình.
Đ.A.Vơncơgơnốp (1980), Phương pháp luận cơng tác tư tưởng [28].
Tác giả khẳng định giáo dục tư tưởng là quá trình tác động tổng hợp của
nhiều lực lượng với nhiều nội dung và bằng nhiều con đường, phương pháp
vào các yếu tố của nhân cách quân nhân như cảm xúc, tình cảm, niềm tin, ý
chí. Trong đó, sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố cơ bản, quyết định của hệ thống
giáo dục. Giáo dục tư tưởng có các phương pháp như thuyết phục, giải thích,
thơng tin, nêu gương, chỉ dẫn, khuyên nhủ, uốn nắn cùng với các phương

pháp bổ trợ như đối thoại, tiếp cận từng người, tự nghiên cứu của quân nhân,
thảo luận, tranh luận,…
A.Êpisép (1980), Công tác tư tưởng trong các Lực lượng vũ trang Xơ Viết
[3]. Khẳng định vai trị của nhân tố con người trong sức mạnh của quân đội. Tác
giả đã xác định: trong xây dựng quân sự, nhiệm vụ hết sức quan trọng về mặt
tinh thần là hoàn thiện hơn nữa hệ thống huấn luyện và giáo dục, đào tạo về tư
tưởng tâm lý, phát triển tinh thần của bộ đội. Tác giả nhấn mạnh: khâu quan
trọng ảnh hưởng đến tất cả các mặt của công tác tư tưởng là hồn thiện việc đào
tạo và nâng cao trình độ của cán bộ làm công tác tư tưởng.
P. I. Các pen cơ (1981), Giáo trình cơng tác đảng, cơng tác chính trị
trong các Lực lượng vũ trang Xô Viết [94]. Trong Chương III. Cơ quan chính trị,
bộ máy Đảng và chính trị, các tổ chức đảng và đoàn trong Quân đội và Hải qn
Xơ Viết, mục 2. Cán bộ chính trị là những người trực tiếp tổ chức CTĐ, CTCT,
đã chỉ rõ:
Trong thời bình và thời chiến, đồng chí phó chỉ huy về chính trị
chịu trách nhiệm về tổ chức và tình hình cơng tác chính trị trong trung
đồn (tàu chiến); về cơng tác giáo dục chính trị, giáo dục qn nhân, củng
cố trạng thái chính trị - tinh thần và kỷ luật qn nhân, về hiệu lực của
cơng tác chính trị trong thực hiện các nhiệm vụ huấn luyện chính trị và


19
huấn luyện chiến đấu, duy trì sự SSCĐ cao của trung đoàn (tàu chiến) và
cả trong việc thực hiện nhiệm vụ chiến đấu [94, tr. 80].
Trong phạm vi công tác đảng, nhiệm vụ của phó trung đồn trưởng về chính
trị cũng phong phú. Phó trung đồn trưởng đi sâu vào hoạt động thực tiễn của các
TCCSĐ và tổ chức đảng ở các phân đội, huấn luyện và giáo dục có hệ thống bộ
phận cán bộ đảng, cùng với ban chấp hành đảng bộ (cấp ủy) và các bí thư tổ chức
đảng thực hiện các nghị quyết và những nhiệm vụ của tổ chức đảng” [94, tr. 81].
Chương Tử Nghị (1986), Giáo trình cơng tác đảng, cơng tác chính trị

của Qn Giải phóng nhân dân Trung Quốc dùng trong các Học viện, nhà
trường trong thời kỳ mới [90]. Trong chương 10, đã đề cập quá trình xây
dựng và phát triển chế độ chính ủy trong Qn Giải phóng nhân dân Trung
Quốc, phân tích khá sâu sắc nhiệm vụ, nội dung chủ yếu của cơng tác chính
ủy. Trong đó đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ cơ bản của chính ủy là bảo đảm sự lãnh
đạo của Đảng đối với quân đội về tư tưởng, chính trị và tổ chức, bảo đảm
quán triệt thực hiện đường lối, phương châm, chính sách của Đảng, bảo đảm
cho đơn vị thực hiện hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà đảng giao phó
trong bất kỳ điều kiện khó khăn gian khổ nào”. Chính ủy cần: “Phải cố gắng
hết sức, đem hết tinh lực nắm chắc đường lối phương châm, chính sách của
Đảng và quán triệt, chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên...giải quyết
đúng đắn mối quan hệ với người chỉ huy; phát huy đầy đủ vai trị của cơ quan
chính trị; khơng ngừng thay đổi và hồn thiện tác phong làm việc”. Trong
cuốn sách: Cơng tác giáo dục cơng tác chính trị của qn giải phóng nhân
dân Trung Quốc, dùng trong các học viện, nhà trường trong thời kỳ mới; đã
xác định rằng giáo dục tư tưởng là mắt xích trung tâm và là nhiệm vụ cơ bản
của cơng tác chính trị, là sự bảo đảm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng. Dùng
phương pháp kiên trì thuyết phục tiến hành giáo dục tư tưởng là phương châm
nhất quán của Đảng cộng sản Trung Quốc. Nguyên tắc cơ bản của công tác tư


20
tưởng là thuyết phục, giáo dục đối với mọi người chứ không phải dùng
phương pháp cưỡng chế hay phương pháp mệnh lệnh, hành chính.
Vương Tiến Nghĩa, Quần Tuyết Mai (2006), “Tuyên truyền, giáo dục
pháp luật thông qua mạng Internet” [92] cho biết: Từ năm 1969 trên thế giới
xuất hiện mạng Internet và những ứng dụng tiện ích của loại hình này rất
phổ biến, phát triển rất nhanh. Hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật qua mạng Internet đã được Chính phủ Trung Quốc quan tâm thực
hiện nhằm nâng cao nhận thức pháp luật cho nhân dân, phát huy tác dụng và

đẩy mạnh trình độ quản lý bằng pháp luật trên tồn xã hội. Trong đó, ứng
dụng việc tun truyền giáo dục pháp luật kết hợp qua mạng, các loại hình
và những vấn đề cần lưu ý khi tuyên truyền, giáo dục pháp luật qua mạng
Internet [92, tr.70-72].
Thượng Hải (2006), “Nắm bắt và xử lý tốt 10 phương diện có liên quan
tới cơng tác tun truyền, giáo dục” [65] đã đưa ra 10 phương diện để làm tốt
công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong tình hình hiện nay. Cụ
thể là: Quan hệ của quy luật giữa kiên trì vận dụng sự phát triển của khoa học và
tự mình nắm bắt cơng việc; quan hệ giữa tuyên truyền, giáo dục pháp luật với
việc xây dựng xã hội hài hồ; mục tiêu chủ yếu của cơng tác tuyên truyền với
các mục tiêu khác; tuyên truyền, giáo dục pháp luật gắn với thực tiễn từng địa
phương; sáng tạo các hình thức tuyên truyền mới; quan hệ giữa mục tiêu và
phương pháp thực hiện tuyên truyền; gắn quy hoạch, kế hoạch với việc thực hiện
tuyên truyền; sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân.
Đinh Gia Kiện (2007), “Bàn luận về biến từ nhận thức qua hành
động đến đam mê trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ” [77] tác
giả cho rằng: Muốn công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đạt
được hiệu quả cao cần phải kiên trì thống nhất từ nhận biết, hành động đến
đam mê, đó là quy luật phổ biến phù hợp với công tác tuyên truyền pháp



×