HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT THẦN KINH VIỆT NAM LẦN THỨ 21
ĐÁNH GIÁ CÁC KỸ THUẬT THEO DÕI ĐIỆN SINH LÝ
THẦN KINH TRONG PHẪU THUẬT LẤY BỎ NHÂN ĐỆM
VÀ LÀM CỨNG CỘT SỐNG CỔ LỐI TRƯỚC
Nguyễn Minh Anh1, Ngô Anh Phụng1, Nguyễn Nhựt Linh1
TÓM TẮT
26
Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm mục đích
khảo sát giá trị của các kỹ thuật theo dõi sinh lý
thần kinh trong mổ (IONM) trong phẫu thuật lấy
bỏ nhân đệm và làm cứng cột sống cổ lối trước
(ACDF) để điều trị các bệnh lý thối hóa cột
sống cổ.
Phương pháp: Những bệnh nhân được sử
dụng IONM đa phương thức: điện thế gợi vận
động kích thích điện xuyên sọ (tcMEP), điện thế
gợi cảm giác (SSEP) và đo điện cơ thụ động liên
tục (raw EMG) cho ACDF từ năm 2017 đến
2022. Tỷ lệ thiếu hụt thần kinh sau phẫu thuật,
cảnh báo sinh lý thần kinh trong mổ và các đặc
điểm liên quan được phân tích.
Kết quả: Trong số 277 bệnh nhân, tỷ lệ thiếu
hụt thần kinh sau phẫu thuật lần lượt là 0%. Tổng
cộng, 65 cảnh báo đã được quan sát thấy trong
IONM (10 SSEP, 5 tcMEP và 50 Raw EMG).
Gía trị tiên đoán âm của 3 kỹ thuật là 100%. Độ
đặc hiệu của cảnh báo IONM để phát hiện biến
chứng thần kinh lần lượt là SSEP 96.4% , MEP
98.2% và Raw EMG 81.9%.
Kết luận: IONM, đặc biệt là IONM đa
phương thức, có thể là một cơng cụ hữu ích để
Khoa Ngoại thần kinh, Bệnh viện Đại học Y
Dược TP. Hồ Chí Minh
Chịu trách nhiệm chính: Ngơ Anh Phụng
Email:
Ngày nhận bài: 20.10.2022
Ngày phản biện khoa học: 27.10.2022
Ngày duyệt bài: 31.10.2022
1
202
phát hiện tổn thương thần kinh trong ACDF đặc
biệt trong các trường hợp nguy cơ cao.
Viết tắt: ACDF: phẫu thuật lấy nhân đệm và
làm cứng cột sống cổ lối trước; ACSS: phẫu
thuật cột sống cổ trước; EMG: điện cơ; IONM:
theo dõi điện sinh lý thần kinh trong mổ; SSEP:
điện thế kích thích gợi cảm giác; tcMEP: điện thế
kích thích vận động xun sọ; TIVA: gây mê
tĩnh mạch tồn bộ.
Từ khóa: theo dõi điện sinh lý thần kinh
trong mổ, phẫu thuật lấy nhân đệm và làm cứng
cột sống cổ lối trước, biến chứng thần kinh sau
mổ.
SUMMARY
EVALUATING
NEUROPHYSIOLOGICAL
MONITORING TECHNIQUES IN
ANTERIOR CERVICAL DISCECTOMY
AND FUSION
Objectives: This study aims to investigate
the value of intraoperative neurophysiological
monitoring (IONM) techniques in anterior
cervical discectomy and fusion (ACDF) for the
treatment of degenerative disease of the cervical
spine at Neurosurgery department, University
Medical Center HCMC.
Methods: Retrospective study of patients
received multimodal IONM: transcranial
electrical motor-evoked potentials (tcMEP),
somatosensory-evoked potentials (SSEP), and
continuous electromyography (raw EMG) for
ACDF from 2017 to 2022. The rate of
postoperative neurological deficit, intraoperative
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 521 - THÁNG 12 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022
neurophysiological warning, and related features
was analyzed.
Results: Among 277 patients, the rate of
postoperative neurological deficit was 0%. In
total, 65 warnings were observed in IONM (10
SSEP, 5 tcMEP, and 50 Raw EMG). The
negative predictive value of the three techniques
is 100%. The specificity of the IONM alert for
the detection of neurological complications was
SSEP 96.4%, tcMEP 98.2%, and Raw EMG
81.9%, respectively.
Conclusion: IONM, especially multimodal
IONM, can be useful to detect nerve damage in
ACDF, especially in high-risk cases.
Abbreviation: ACDF: anterior cervical
discectomy and fusion; ACSS: anterior cervical
spine surgery; EMG: electromyography; IONM:
Intraoperative neurophysiological monitoring;
SSEP:
somatosensory-evoking
potentials;
tcMEP: transcranial electrical motor-evoked
potentiala; TIVA: total intravenous anesthesia.
Keywords: intraoperative neurophysiological
monitoring, anterior cervical discectomy and
fusion, neurologic complications after surgery.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo dõi sinh lý thần kinh trong phẫu
thuật (IONM) cung cấp thơng tin thời gian
thực về tính tồn vẹn của tủy sống và rễ thần
kinh trong quá trình phẫu thuật cột sống.
IONM hiện là một thành phần thường quy
của một số phẫu thuật cho các bệnh bao gồm
dị tật và u tủy sống nội tủy [1].
Đối với những phẫu thuật này, IONM
làm giảm các biến chứng thần kinh và tối đa
hóa việc cắt bỏ thích hợp [1]. Phẫu thuật lấy
nhân đệm và làm cứng cột sống cổ lối trước
(ACDF) là một trong những phẫu thuật được
thực hiện thường xuyên nhất để điều trị bệnh
lý tủy hoặc bệnh ý rễ do thoát vị đĩa đệm cột
sống cổ. Giá trị của việc áp dụng IONM
trong ACDF đã được thế giới ghi nhận. Đặc
biêt các biến chứng thần kinh sau ACDF ở
các nhóm dân số có nguy cơ cao bị biến dạng
cột sống, u tủy, cốt hóa dây chằng dọc sau
(OPLL) thường xảy ra hơn (13-31%)
[2,3,4,5].
Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có nghiên
cứu nào về ứng dụng theo dõi điện sinh lý
trong phẫu thuật lấy nhân đệm và làm cứng
cột sống cổ. Mục đích của nghiên cứu này là
đánh giá tiện ích của IONM đa phương thức
trong ACDF và mô tả các cảnh báo sinh lý
thần kinh xảy ra trong quá trình phẫu thuật.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Hồ sơ bệnh án, hình ảnh học thần kinh và
nghiên cứu sinh lý thần kinh của những bệnh
nhân trải qua ACDF có hoặc khơng cắt bỏ
thân sống với sự hỗ trợ của IONM tại Bệnh
viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí
Minh từ tháng 01 năm 2017 đến tháng 05
năm 2022 được xem xét. Trong đó, bệnh
nhân có các ngun nhân khác của ACDF
ngồi thối hóa như (nhiễm trùng, gãy
xương, khối u và / hoặc viêm và rối loạn cơ
xương bẩm sinh), và những bệnh nhân có hồ
sơ y tế không đầy đủ để xác nhận trạng thái
thần kinh sau phẫu thuật bị loại trừ. Biến
chứng thần kinh sau phẫu thuật được xác
định là bất kỳ sự thiếu hụt thần kinh cảm
giác, vận động hoặc cơ vòng mới nào được
quan sát thấy trong giai đoạn hậu phẫu ngay
lập tức. Tất cả các bệnh nhân bao gồm đều
được kiểm tra tình trạng thần kinh của họ
trước khi phẫu thuật, ngay sau khi tỉnh dậy
sau khi gây mê, 1 ngày sau khi phẫu thuật,
thời gian xuất viện và thời gian theo dõi tại
các phòng khám ngoại trú. Bệnh nhân có
203
HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT THẦN KINH VIỆT NAM LẦN THỨ 21
bệnh lý tủy hoặc nhóm bệnh khơng tủy được
phân loại theo sự hiện diện của những thay
đổi tín hiệu MRI trong tủy sống.
2.2. Gây mê
Tất cả các bệnh nhân bao gồm đều được
sử dụng gây mê tĩnh mạch toàn phần (TIVA)
với propofol (125–225μg / kg / phút) và
Remifentanil (0,2–0,5μg / kg / phút) để duy
trì trạng thái mê. Thuốc ức chế thần kinh cơ
(rocuronium ở 0,5–1,0mg / kg) chỉ được sử
dụng trong khi đặt nội khí quản để giảm
thiểu tác động nhiễu lên các thông số IONM.
2.3. IONM và tiêu chí cảnh báo
Tất cả bệnh nhân này đều được theo dõi
đa phương thức bao gồm điện thế kích thích
vận động bằng điện xuyên sọ (tcMEP), điện
thế kích thích cảm giác (SSEP), và điện cơ
liên tục (EMG) ở chi trên và chi dưới.
2.3.1. tcMEP
Kích thích tcMEP được cung cấp bằng
điện cực kim dưới da trên C1 và C2 theo hệ
thống điện não đồ quốc tế 10–20. Cặp cực
dương C3 và cực âm C4 hoặc cặp cực dương
C1 và cực âm C2 được sử dụng để kích thích
bán cầu trái, và sự sắp xếp ngược lại được sử
dụng để kích thích bán cầu phải. Chuỗi kích
thích ngắn gồm năm kích thích sóng vuông
với độ rộng xung 50 μs được phân phối trong
khoảng thời gian giữa các kích thích từ 2–
4ms với cường độ 250–800V. TcMEP được
ghi lại ở các cơ chi trên bằng cách sử dụng
kim điện cực dưới da: cơ thang, cơ delta, cơ
tam đầu, cơ nhị đầu và cơ dạng ngón tay cái.
tcMEP của chi dưới được ghi lại trong cơ
dạng ngón chân cái và cơ chày trước để theo
dõi tổn thương tủy (bó tháp đi xuống).
tcMEP được ghi lại thường xuyên sau mỗi
10 phút và được kiểm tra trước và sau các
204
giai đoạn cụ thể như lấy đĩa đệm, đặt đĩa
hoặc theo yêu cầu của bác sĩ phẫu thuật. Các
cảnh báo sinh lý thần kinh được tạo ra nếu
biên độ MEP giảm từ 80% trở lên trong biên
độ tín hiệu. MEP đã được ghi lại ít nhất hai
lần để giảm sự khác biệt giữa các thử
nghiệm. Khi sự suy giảm MEP xảy ra, người
theo dõi điện sinh lý học thần kinh ngay lập
tức xem xét thiết bị ghi, kích thích điện, điều
kiện gây mê (thuốc, độ sâu), huyết áp, nhiệt
độ, trường phẫu thuật và bất kỳ sự chèn ép
nào lên dây thần kinh ngoại vi và động mạch
cảnh. Nếu bất kỳ bất thường nào vẫn tiếp
diễn sau khi hiệu chỉnh các yếu tố có thể ảnh
hưởng đến biên độ MEP, các biện pháp MEP
bổ sung sẽ được hoàn thiện được thiết kế với
sự thay đổi của các thông số kích thích. Sau
một vài phút mà khơng bình thường hóa
MEP, các cảnh báo đã được thông báo cho
bác sĩ phẫu thuật, đồng thời xem xét quá
trình phẫu thuật và can thiệp như truyền
nước muối ấm, steroid liều cao hoặc lấy đĩa
đệm ra.
2.3.2. SSEP
SSEP vỏ và dưới vỏ được kích hoạt bằng
cách kích thích dây thần kinh giữa và thần
kinh chày sau. Xung điện sóng vng (thời
gian 0,3ms, cường độ 10–20mA cho chi trên
và cường độ 20–30mA cho chi dưới, tần số
5,1Hz) đã được sử dụng. Các điện cực ghi
được đặt ở C3 ′ (2cm sau C3), C4 ′ (2cm sau
C4), và Cz ′ (2cm sau CZ) tham chiếu đến
FPz thông qua điện cực da đầu (hệ thống 10–
20 quốc tế). Bộ lọc cao tần được đặt ở
1.000Hz và bộ lọc thấp tần được đặt ở 30Hz.
SSEP được đánh giá sau mỗi 60 giây trong
quá trình phẫu thuật. Giảm biên độ SSEP
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 521 - THÁNG 12 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022
≥50% hoặc tăng độ trễ SSEP ≥10% được coi
là đáng kể.
2.3.3. Theo dõi EMG tự phát
Các điện cực kim 25 mm ghép nối bằng
thép không gỉ được sử dụng để ghi lại các
hoạt động EMG ở các cơ chi trên. Các cơ chi
trên sau đây được kiểm tra trong mỗi lần
phẫu thuật với các biến thể tùy thuộc vào vị
trí hoạt động: thang, deltoid, nhị đầu, tam
đầu cánh tay, cánh tay quay, và / hoặc dạng
ngón tay cái. Các cảnh báo chính thức được
tạo ra khi các hoạt động báo căng rễ trên
EMG được quan sát thấy.
2.4. Phân tích dữ liệu
Những cảnh báo dương thật là những
cảnh báo vẫn tồn tại cho đến cuối quy trình
và dẫn đến thâm hụt thần kinh hậu phẫu mới.
Các cảnh báo dương tính giả được định nghĩa
là các tín hiệu cảnh báo được duy trì ngay cả
khi đã điều chỉnh, nhưng bệnh nhân tỉnh dậy
Bảng 1. Đặc điểm dân số học
Yếu tố
Giới
Nam
Nữ
Tuổi (năm)
Trung bình ± SD
<40
40-60
>60
Số tầng/ một bệnh nhân
1
2
3
Tầng phẫu thuật
C3C4
C4C5
C5C6
C6C7
mà khơng có biến chứng thần kinh mới. Âm
tính thực sự được định nghĩa là khơng có
cảnh báo và khơng có biến chứng thần kinh
sau phẫu thuật. Âm tính giả được định nghĩa
là bệnh nhân có các biến chứng thần kinh
mới mà khơng có bất kỳ cảnh báo sinh lý
thần kinh nào. Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị
dự đốn dương tính và giá trị dự đốn âm
tính được tính. Số liệu thống kê SPSS 20 của
IBM (New York, Hoa Kỳ) đã được sử dụng
để phân tích.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung bệnh nhân
Tổng cộng, 277 bệnh nhân có sử dụng
IONM đã trải qua ACDF trong suốt thời gian
nghiên cứu. Tuổi trung bình (± độ lệch
chuẩn) là 58.6 ± 11.0 năm. Đặc điểm chung
của bệnh nhân được trình bày trong Bảng 1.
n (%)
150 (54.2)
127 (45.8)
58.6 ± 11.0
19 (6.8)
111 (40.1)
147 (53.1)
164 (59.2)
110 (39.7)
3 (1.1)
20 (5.1)
165 (42.0)
178 (45.3)
30 (7.6)
205
HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT THẦN KINH VIỆT NAM LẦN THỨ 21
3.2. Các biến chứng thần kinh mới sau
phẫu thuật
Biến chứng thần kinh sau phẫu thuật
không ghi nhận ở bệnh nhân nào (0%). Các
biến chứng khác sau phẫu bao gồm hai
trường hợp khàn tiếng, 10 trường hợp khó
nuốt. Tuy nhiên sau đó đều hồi phục. Các
biến chứng này khơng được xem xét như
hiệu quả của IONM trong việc phòng ngừa
biến chứng thần kinh vì khơng theo dõi cơ
thực quản hay dây thanh.
3.3. Đặc điểm của cảnh báo IONM
Kiểu thay đổi SSEP, tcMEP, Raw EMG
được minh họa hình 1,2,3.
Bảng 2. Kết quả SSEP
Dấu thần
Kỹ
Lâm sàng sau
Độ
Độ
kinh sau mổ
PPV(%) NPV(%)
thuật
mổ tốt(n)
nhạy(%) chuyên(%)
nặng hơn(n)
SEP
0
96.4
0
100
Dương
Dương tính
Dương tính
tính
thật =0
giả = 10
Âm
Âm tính giả = Âm tính thật =
tính
0
267
PPV: giá trị tiên đốn dương, NPV: giá trị tiên đốn âm
Hình 1. Giảm biên độ SSEP
206
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 521 - THÁNG 12 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022
Bảng 3. Kết quả MEP
Dấu thần
Kỹ
kinh sau mổ
thuật
nặng hơn(n)
MEP
Dương
Dương tính
tính
thật =0
Âm tính giả =
Âm tính
0
Lâm sàng sau
mổ tốt (n)
Độ nhạy
(%)
Độ chuyên
(%)
PPV
(%)
NPV
(%)
0
98.2
0
100
Dương tính giả
=5
Âm tính thật =
272
PPV: giá trị tiên đoán dương, NPV: giá trị tiên đốn âm
Hình 2. Kiểu đáp ứng cơ trên tcMEP
Bảng 4. Kết quả Raw EMG
Dấu thần
Lâm sàng
Độ
Kỹ
Độ chuyên
kinh sau mổ
sau mổ tốt
nhạy
PPV (%) NPV (%)
thuật
(%)
nặng hơn(n)
(n)
(%)
Raw
0
81.9
0
100
EMG
Dương
Dương tính
Dương tính
tính
thật =0
giả = 50
Âm
Âm tính giả = Âm tính thật
tính
0
= 227
PPV: giá trị tiên đoán dương, NPV: giá trị tiên đoán âm
207
HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT THẦN KINH VIỆT NAM LẦN THỨ 21
Hình 3. Căng trên Raw EMG
Tổng cộng, 10 cảnh báo SSEP, 5 cảnh lấy nhân đệm dễ gây tổn thương thần kinh
báo MEP, 50 cảnh báo Raw EMG ( lần lượt hơn.
chiếm 3.6%, 1.8%, 18% tổng số ca phẫu
Một nghiên cứu trên toàn quốc được thực
thuật ACDF) đã được phát hiện. Độ nhạy, độ hiện ở Bắc Mỹ cho thấy biến chứng thần
đặc hiệu, giá trị dự báo dương tính và giá trị kinh chỉ xảy ra ở 0,17% bệnh nhân điều trị
dự báo âm tính đối với từng kỹ thuật IONM ACDF có theo dõi sinh lý thần kinh, và tỷ lệ
được tóm tắt trong Bảng 3,4,5.
này tương đương với nhóm khơng được theo
dõi (0,22%). Nghiên cứu của chúng tôi
IV. BÀN LUẬN
không ghi nhận tỷ lệ biến chứng thần kinh.
Trong nghiên cứu của mình, chúng tơi đã Tuy nhiên, chỉ có sáu bệnh nhân OPLL được
đánh giá hiệu quả của việc áp dụng IONM đưa vào làm đối tượng và khơng có sự kiện
trong phẫu thuật ACDF. Một số nghiên cứu thâm hụt nào trong nhóm OPLL đã loại trừ
đánh giá lợi ích của IONM đối với ACDF các phân tích sâu hơn. Một phân tích tổng
hoặc phẫu thuật cột sống cổ trước (ACSS) đã hợp xem xét 26.357 trường hợp trong 10
bao gồm các chỉ định phẫu thuật khác nhau nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng
(bệnh lý tủy, bệnh nhân rễ, khối u, nhiễm IONM cho ACSS cho thấy nguy cơ biến
trùng, dị tật và chấn thương) và điều trị phẫu chứng thần kinh có trọng số là 0,20% (0,05–
thuật (ACDF, cắt thân sống hoặc cả hai) 0,47) đối với ACDF. Trong nghiên cứu của
đồng thời [8]. Bệnh lý tủy cổ và bệnh lý rễ cổ chúng tôi, tỷ lệ biến chứng thần kinh đối với
được nhấn mạnh bởi các sinh lý bệnh khác phẫu thuật ACDF kèm theo IONM là 0%. Tỷ
nhau. Không giống như bệnh căn nguyên, lệ này cao hơn đáng kể so với các báo cáo
các yếu tố mạch máu đóng một vai trò quan trước đây về IONM từ các thực thể bệnh hỗn
trọng trong bệnh lý tủy, và bệnh lý tủy được hợp. So với những bệnh nhân đối chứng
coi là dễ bị tổn thương hơn trong các phẫu trước đây không trải qua IONM trong khi
thuật. Lực kéo cổ trong quá trình phẫu thuật phẫu thuật ACDF, bệnh nhân IONM phát
triển ít biến chứng thần kinh sau phẫu thuật
208
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 521 - THÁNG 12 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022
hơn đáng kể. Tác dụng có lợi của IONM
trong ACDF có vai trị quan trọng hơn ở
nhóm bệnh lý tủy. Việc sử dụng IONM kết
hợp với bệnh lý tủy được phát hiện là một
yếu tố nguy cơ gây ra các biến chứng thần
kinh sau phẫu thuật trong hồi quy đa biến.
Những phát hiện này ủng hộ quan điểm rằng
ACDF dẫn đến nguy cơ suy giảm thần kinh
cao hơn và các bệnh lý có nguy cơ cao biến
chứng phẫu thuật (OPLL và bệnh lý tủy) có
thể được hưởng lợi từ việc sử dụng IONM.
Một nghiên cứu đa trung tâm của Nhật Bản
đã đánh giá các biến chứng thần kinh và cảnh
báo IONM của phẫu thuật cột sống có nguy
cơ cao bao gồm 622 trường hợp OPLL và
249 trường hợp OPLL lồng ngực. Trong
nghiên cứu này, tỷ lệ thiếu hụt thần kinh sau
phẫu thuật được định lượng là 6,3% đối với
OPLL cổ mặc dù kỹ thuật phẫu thuật được sử
dụng trong nghiên cứu không chỉ giới hạn ở
ACDF mà còn bao gồm cả cắt thân sống.
Hơn nữa, các biến chứng thần kinh sau phẫu
thuật đã tăng lên 20,1% trong OPLL lồng
ngực đã trải qua quá trình giải nén và hợp
nhất sau. Một nghiên cứu khác phân tích 427
ca phẫu thuật cột sống cổ, trong đó 75,9% sử
dụng phương pháp tiếp cận trước, báo cáo
rằng sự hiện diện của bệnh lý tủy sống cổ
hoặc OPLL làm tăng nguy cơ báo động sinh
lý thần kinh. Bên cạnh yếu không chân tay
và các biến chứng sau phẫu thuật, chứng khó
nuốt hoặc khàn giọng phát triển ở 10 trong số
277 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng
tôi. Liệt dây thanh có triệu chứng do dây
thần kinh thanh quản tái phát xảy ra trong
0,07 đến 1% các trường hợp ACDF. Do đó,
cần thận trọng đối với các biến chứng hiếm
gặp như khó nuốt hoặc khàn giọng, và nên
xem xét thêm việc theo dõi dây thanh trong
ACDF.
Độ nhạy và độ đặc hiệu của cảnh báo
IONM trong ACDF khác nhau giữa các
nghiên cứu [7,8]. Sự khác biệt này phần lớn
là do các định nghĩa khác nhau về cảnh báo
dương tính đúng hoặc sai được áp dụng trong
mỗi nghiên cứu. Một số nghiên cứu bao gồm
các cảnh báo được bình thường hóa sau khi
can thiệp là các trường hợp dương tính thực
sự, trong khi những nghiên cứu khác lại tách
chúng ra là 'các trường hợp khơng xác định
hoặc có thể cứu được. Mặc dù một số cảnh
báo bình thường hóa có thể xuất phát từ sự
thay đổi trong phẫu thuật hoặc những thay
đổi sinh lý nhỏ, nhưng một phần đáng kể có
thể là kết quả của các tình huống trong đó
tổn thương thần kinh được ngăn chặn bằng
các biện pháp can thiệp kịp thời. Vì lý do
này, độ nhạy và độ đặc hiệu được đề xuất bởi
mỗi định nghĩa trong nghiên cứu của chúng
tôi. Vì khơng có ca nào khiếm khuyết thần
kinh sau mổ nên độ nhạy và giá trị tiên đoán
dương là 0, giá trị tiên đốn âm là 100%.
Chúng tơi chỉ tính độ chuyên của các kỹ
thuật. Độ chuyên lần lượt của SSEP, tcMEP,
Raw EMG lần lượt là 96.4%, 98.1% và
81.9%. Ưu điểm của việc bao gồm các
trường hợp ‘không xác định’ là dương tính
thực sự để dự đốn biến chứng thần kinh cho
thấy rằng những thay đổi thống qua của
IONM có thể là kết quả của việc cứu chữa
chấn thương sắp xảy ra. Bất kỳ thay đổi
IONM nào (sau khi loại trừ các yếu tố ảnh
hưởng khác) cần phải được xem xét một cách
nghiêm túc và nên can thiệp ngay lập tức.
Kỹ thuật tcMEP tỏ ra vượt trội hơn SSEP
trong việc phát hiện các tổn thương đường
vận động đang tiến triển. SSEP có độ nhạy
rất thấp và độ đặc hiệu cao trong phẫu thuật
ACDF, không giống như trong phẫu thuật
vẹo cột sống. SSEP tiếp cận các đặc tính
chức năng của đường đi lên của cột sống
209
HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT THẦN KINH VIỆT NAM LẦN THỨ 21
lưng, nhưng các tổn thương riêng biệt của
đường vận động cơ trong điều kiện thối hóa
hoặc chấn thương (so với các tác động toàn
cầu lên tủy sống trong phẫu thuật vẹo cột
sống) có thể khơng được SSEP phát hiện.
Tính ưu việt của tcMEP so với SSEP trong
phẫu thuật cột sống cổ đã được báo cáo liên
tục [5,6,7]. Đáng chú ý, theo dõi EMG liên
tục cho thấy độ đặc hiệu cao trong nghiên
cứu của chúng tơi. Hoạt động EMG duy trì là
một dấu hiệu của kích thích rễ thần kinh
trong quá trình giải nén rễ thần kinh và hiếm
khi cho thấy tổn thương tủy sống nghiêm
trọng. Vai trò của EMG liên tục ít được thiết
lập hơn. Một số nghiên cứu đã phân tích
EMG là một trong những cơng cụ theo dõi đa
phương thức trong phẫu thuật cột sống cổ.
Cảnh báo EMG là thường xuyên (35–81,6%
trong tổng số cảnh báo) nhưng có giá trị dự
báo dương tính thấp. Trong nghiên cứu của
chúng tôi, các cảnh báo thường xuyên nhất là
từ Raw EMG, nhưng có một số lượng đáng
kể các cảnh báo EMG với giá trị dự báo
dương tính cao. Nguyên nhân cho sự khác
biệt này là không rõ ràng. Việc sử dụng đa
kênh của cả tcMEP và giám sát EMG trong
nghiên cứu của chúng tơi có thể là một lý do
có thể xảy ra. Một điểm mạnh của nghiên
cứu của chúng tôi là hầu hết tất cả bệnh nhân
IONM bao gồm đều có thơng tin đầy đủ từ
theo dõi đa phương thức (kết hợp SSEP,
tcMEP và EMG), và tất cả các giám sát được
thực hiện trong gây mê bằng TIVA để giảm
thiểu ảnh hưởng đến việc theo dõi. IONM đa
phương thức làm tăng độ nhạy với tác động
tối thiểu đến độ đặc hiệu. Phát hiện của
chúng tơi cho thấy tính ưu việt của IONM đa
phương thức so với IONM đơn phương thức
trong phẫu thuật ACDF. tcMEP và EMG liên
tục là phương thức kết hợp thích hợp cho
ACDF. Các yếu tố như bệnh lý có sẵn hoặc
210
tác dụng gây mê có thể làm giảm công dụng
của IONM. Bác sĩ phẫu thuật và người theo
dõi điện sinh lý nên hiểu đặc điểm của các
cảnh báo và những hạn chế của chúng để đưa
ra quyết định tốt hơn dựa trên việc theo dõi
sinh lý thần kinh.
Ngiên cứu của chúng tơi có một vài hạn
chế. Chúng tơi đã thực hiện phân tích hồi cứu
và khơng có nhóm chứng. Tỷ lệ biến chứng
cao trong các nghiên cứu của thế giới có thể
khơng chỉ bị ảnh hưởng bởi việc áp dụng
IONM mà còn do các yếu tố khác như kỹ
thuật phát triển của bác sĩ phẫu thuật, sự phát
triển của các dụng cụ mới và sự an toàn trong
các phương pháp gây mê. Tuy nhiên, việc
thiết kế các nghiên cứu tiền cứu bao gồm các
biện pháp kiểm soát không IONM là một
thách thức từ quan điểm y tế-pháp lý và đạo
đức. Lựa chọn các trường hợp không phải
IONM trong cùng giai đoạn nghiên cứu dẫn
đến sai lệch vì IONM thường được yêu cầu
trong phẫu thuật có nguy cơ cao. Do thiết kế
hồi cứu, việc đánh giá các biến chứng thần
kinh phụ thuộc vào hồ sơ bệnh án, nhưng
bằng cách thực hành thông thường của chúng
tôi, các biến chứng thần kinh ngay sau phẫu
thuật có thể được xem xét ở tất cả các bệnh
nhân. Ngoài ra, chỉ những cơ được chọn mới
có thể được theo dõi trong q trình IONM.
Mặc dù các cơ bị suy yếu sau phẫu thuật
được chi phối bên trong của cùng một gốc
của các cơ được theo dõi ở những bệnh nhân
được đưa vào, nhưng vẫn có khả năng phân
nhóm âm tính giả có thể do không theo dõi
trực tiếp các cơ bị suy yếu. Trong nghiên cứu
của chúng tôi, tỷ lệ biến chứng thần kinh
trong ACDF là 0% thấp hơn đáng kể so với
các nghiên cứu khác [8]. Mặc dù nghiên cứu
này bao gồm một số lượng tương đối lớn,
mẫu nghiên cứu vẫn còn nhỏ điều này hạn
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 521 - THÁNG 12 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022
chế khả năng tổng quát và có thể bị sai lệch
lựa chọn.
V. KẾT LUẬN
Nghiên cứu này đã xem xét kinh nghiệm
về phẫu thuật ACDF và theo dõi điện sinh lý
thần kinh trong. Phẫu thuật ACDF, đặc biệt
các trường hợp có nguy cơ cao tổn thương
thần kinh là một phẫu thuật có nguy cơ cao
với các biến chứng thần kinh đáng kể sau
phẫu thuật. IONM đa phương thức có thể là
một chất hỗ trợ hữu ích để giảm tổn thương
thần kinh.
4.
5.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ajiboye R.M., D’Oro A., Ashana A.O.,
Buerba R.A., Lord E.L., Buser Z. Routine
use of intraoperative neuromonitoring during
ACDFs for the treatment of spondylotic
myelopathy
and
radiculopathy
is
questionable: a review of 15,395 cases. Spine
(Phila Pa 1976) 2017;42:14–19.
2. Ajiboye R.M., Zoller S.D., Sharma A.,
Mosich G.M., Drysch A., Li J.
Intraoperative neuromonitoring for anterior
cervical spine surgery: what is the
evidence? Spine
(Phila
Pa
1976) 2017;42:385–393.
3. Badhiwala J.H., Nassiri F., Witiw C.D.,
Mansouri A., Almenawer S.A., da Costa
6.
7.
8.
L. Investigating the utility of intraoperative
neurophysiological monitoring for anterior
cervical discectomy and fusion: analysis of
over 140,000 cases from the National
(Nationwide) Inpatient Sample data set. J
Neurosurg. Spine. 2019;29:1–11. Epub 2019
Mar 29.
Bose B., Sestokas A.K., Schwartz D.M.
Neurophysiological monitoring of spinal
cord function during instrumented anterior
cervical fusion. Spine J. 2004;4:202–207.
Charlson M., Szatrowski T.P., Peterson J.,
Gold J. Validation of a combined
comorbidity
index. J.
Clin.
Epidemiol. 1994;47:1245–1251.
Chen C.C., Huang Y.C., Lee S.T., Chen
J.F., Wu C.T., Tu P.H. Long-term result of
vocal cord paralysis after anterior cervical
disectomy. Eur. Spine J. 2014;23:622–626.
Hadley M.N., Shank C.D., Rozzelle C.J.,
Walters B.C. Guidelines for the use of
electrophysiological monitoring for surgery
of the human spinal column and spinal
cord. Neurosurgery. 2017;81:713–732.
Hilibrand
A.S.,
Schwartz
D.M.,
Sethuraman V., Vaccaro A.R., Albert T.J.
Comparison of transcranial electric motor
and somatosensory evoked potential
monitoring during cervical spine surgery. J.
Bone Joint Surg. Am. 2004;86:1248–1253.
211