Tải bản đầy đủ (.docx) (26 trang)

Tieu luan mon quan he chinh tri quoc te chủ nghĩa khủng bố và tác động của nó đến mối quan hệ chính trị quốc tế sau sự kiện 11 9 2001

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (127.14 KB, 26 trang )

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Để hiểu rõ nguồn và bản chất của khủng bố quốc tế, trước tiên chúng ta
cần biết khủng bố quốc tế là gì: khủng bố quốc tế chính là sự sử dụng hoặc đe
dọa sử dụng vũ lực một cách có tính tốn nhằm tạo ra sự sợ hãi để gây sức ép
đối với chính phủ hoặc tồn thể xã hội nhằm thực hiện các mục đích chính trị,
tơn giáo, lý tưởng có yếu tố nước ngoài. Việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ
lực này không bao gồm các hành động của các phong trào đấu tranh giải
phóng dân tộc, chống ách đơ hộ của thực dân, hoặc sự chiếm đóng của nước
ngoài và các hành động sử dụng vũ lực được quy định trong Hiến chương
Liên hiệp quốc.
Chủ nghĩa khủng bố quốc tế được hình thành và phát triển bắt nguồn từ
hàng loạt nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan: do sự phát triển không
đồng đều về kinh tế-xã hội dẫn đến tình trạng chênh lệch giàu nghèo và bất
bình đẳng ngày càng cao và có xu hướng gia tăng giữa các tầng lớp dân cư
trong nội bộ một nước, cũng như giữa các dân tộc và quốc gia trên thế giới.
Chủ nghĩa thực dân kinh tế mới trỗi dậy mạnh mẽ gây ra những hậu quả nặng
nề cho các nước nghèo, chậm phát triển cũng như đời sống trực tiếp của đại
bộ phận người lao động. Mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo ngày
càng diễn ra gay gắt và phức tạp ...
Sự kiện 11-9-2001, xảy ra trở thành một bước ngoặt lớn, không chỉ đối
với hiện tại mà còn âm hưởng trong một tương lai dài. Quan hệ chính trị quốc
tế đã có sự chuyển động khôn lường kể từ sau sự kiện này, các quốc gia trên
thế giới đều nhìn nhận rằng chủ nghĩa khủng bố là một hành động tội ác và
không thể dung thức cho nó. Lồi người quyết khơng để khủng bố quốc tế
cùng tồn tại được. Từ thực tế đó, đã khiến cho các quốc gia trên thế giới
dường như có sự xích lại gần nhau hơn, thơng cảm và hiểu nhau hơn, cùng sẻ
chia những kinh nghiệm và quyết tâm loại trừ chủ nghĩa khủng bố ra khỏi đời


sống hiện đại. Cả thế giới dường như bừng tỉnh trước sự kiện ngày 11-9, xem


đó như là hồi chng cảnh tỉnh đánh vào sự mơ mộng về một thế giới bình
n và khơng tiếng súng. Lồi người đang tập trung tinh và trí lực để tìm ra
lời giải cho một bài tốn phức tạp và hóc búa đó là: cần phải có một nhận thức
chung đúng đắn về chủ nghĩa khủng bố, loại trừ chủ nghĩa khủng bố làm cho
những kẻ khủng bố tàn bạo khơng cịn hiện diện trên hành tinh này; đồng thời
không để cho bất kỳ lực lượng nào mượn danh chống khủng bố để thực hiện
những hành vi đi ngược lại với lợi ích chung của nhân lọai đó là hịa bình và
chủ quyền dân tộc. Đáp án cho bài tốn này khơng thể thực hiện trong một
sớm một chiều được. Bằng nhiều biện pháp khác nhau kết hợp giữa tình u
và lý trí, tin rằng trong một tương lai không xa trên quả đất này khơng cịn
những hành động khủng bố, khơng cịn chủ nghĩa khủng bố.
Từ những lý do trên thì việc nghiên cứu đề tài này là hết sức cần thiết vì
nó khơng chỉ giải thích rõ nguồn gốc từ đâu mà chủ nghĩa khủng bố hình
thành. Và những xu hướng phát triển của nó. Để từ đó mà chúng ta có những
biện pháp đối phó thích hợp và hữu hiệu nhất.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Tiểu luận này nhằm mục đích nghiên cứu lớn nhất là giải thích được vì
sao có chủ nghĩa khủng bố. Q trình hình thành chủ nghĩa khủng bố quốc tế.
Những bước đi của đế quốc Mỹ trong cơng cuộc chống chủ nghĩa khủng bố.
Vì sao sự kiện ngày 11-9 diễn ra, Mỹ hành động như thế nào trước sự kiện
ngày 11-9. Cũng như những xu hướng quan hệ chính trị quốc tế sau sự kiện
11-9-2001.
Nhiệm vụ nghiên cứu cần xác định chủ nghĩa khủng bố quốc tế là gì?
Mối quan hệ chính trị quốc tế sau sự kiện ngày 11-9-2001. Và những xu
hướng phát triển của nó.
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: khủng bố quốc tế, chủ nghĩa khủng bố, sự kiện
11-9-2001.



Phạm vi nghiên cứu: những diễn biến tình hình thế giới trong thời gian
qua thông qua các phương tiện truyền thơng đại chúng. Những bài viết, bình
luận, thơng tin về sự kiện 11-9 trên báo, đài, Internet.
4. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm chính sách của Đảng và Nhà
nước ta. Cơ sở quá trình hình thành sự kiện ngày 11-9.
Phương pháp nghiên cứu là vận dụng phương pháp logic, thống kê,
phân tích, so sánh... để lý giải vấn đề.
5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Tiểu luận góp phần nghiên cứu bản chất của chủ nghĩa khủng bố quốc
tế, nội dung của quá trình chống khủng bố quốc tế của đế quốc Mỹ. Từ đó đưa
ra được cái nhìn và quan điểm đúng đắn về chủ nghĩa khủng bố. Không xem
nhẹ và đặt nặng vấn đề chống khủng bố, mà quan trọng phải nắm vững bản
chất xuất phát của khủng bố quốc tế xuất phát từ đâu mà có cái nhìn toàn diện
và thiết thực hơn.
6. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm 7 phần, mỗi phần có
những lý giải riêng của tác giả nhằm đúc kết vấn đề thành một chuỗi sự kiện
theo một logic trình tự.


NỘI DUNG
1. Sự kiện ngày 11-9-2001 và những thiệt hại của nó.
Ngày 11-9-2001, hai chiếc máy bay dân sự đã đâm vào tòa nhà Trung
tâm thương mại thế giới tại New York (Mỹ), một niềm kiêu hãnh của kinh tế
Mỹ đã đổ vụn thành đống tro tàn chỉ trong chốc lát. Một chiếc máy bay khác
tấn công vào lầu năm góc, một tiếng nổ lớn thêm một niềm kiêu hãnh nữa của
Mỹ bị sát thêm muối. Các cuộc tấn công trên đã làm cho trên 5.000 người
thiệt mạng và mất tích, trong đó khơng chỉ có dân thường mà cịn có nhiều

ơng chủ của các tập đồn kinh tế hùng mạnh của Mỹ. Cuộc tấn công khủng
bố, cảm tử chỉ diễn ra trong vòng 1 tiếng 40 phút nhưng đã gieo rắc một bầu
khơng khí kinh hồng, thảm khốc lên toàn nước Mỹ. Sự kiện này được so
sánh như trận Trân Châu Cảng thứ hai về mức độ bất ngờ, nhưng nó cịn
nghiêm trọng hơn vì lần đầu tiên, một nước Mỹ được coi là bất khả xâm phạm
đã bị tấn công ngay từ bên trong. Cả nước Mỹ dường như đang chìm trong
bóng đêm, người Mỹ chưa bao giờ thấy cảnh tượng này. Trong tâm trí họ có
lẻ chưa bào giờ tồn tại những hình ảnh này dù chỉ thống qua. Cả thế giới
cũng bàng hồng và rúng động theo người Mỹ. Họ cũng không ngờ rằng một
nơi từng được xem là an toàn nhất thế giới lại chịu một cuộc tổng tiến công
quy mô đến như vậy. Ước tính tổng thiệt hại trực tiếp về vật chất của thảm
họa này riêng đối với nước Mỹ ước khoảng 100 tỷ USD. Cịn thiệt hại về tinh
thần thì người ta chưa tính tốn được. Nhưng trơng những bộ mặt đầy vẻ sợ
sệt của người Mỹ thì chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy rằng thiệt hại về tinh
thần là còn khủng khiếp hơn. Thiệt hại về vật chất thì có thể bù đắp được
nhưng thiệt hại về con người và tinh thần thì khơng gì có thể làm vơi đi. Có lẽ
bây giờ thì Mỹ đã thấu hiểu nỗi đau này. Một thảm họa không chỉ đối với
nhân dân Mỹ mà cịn đối với những người u chuộng hịa bình trên hành tinh
này.
Người Mỹ khóc, cả thế giới cùng sững sờ, ngạc nhiên rồi họ cũng cảm
thông và chia sẻ mất mát to lớn này. Những kẻ khủng bố tàn bạo đã hành


động khơng cịn tính người, những con người vơ tội đã chết và khơng có gì có
thể biện minh cho những hành động đó. Cả thế giới nhìn vào bọn khủng bố
với một con mắt căm hờn và oán giận. Người Mỹ cũng vậy, khi cái niềm kiêu
hãnh bị tổn thương họ bắt đầu hành động nhằm trả đủa lại với những hành
động tội ác. Nhưng kẻ thù của họ là ai, bao nhiêu người, đang ở đâu, khơng ai
có thể trả lời chính xác câu hỏi này cả. Loay hoay một lúc, chính quyền Bush
đã nhanh chóng phát động một chiến dịch chống khủng bố toàn cầu, huy động

mọi phương tiện đặc biệt là quân sự trong cuộc chiến tranh mới, trước mắt đó
là Bin Laden và tổ chức Al Qeada. Thì ra vậy, khơng tìm được ai họ đành chỉ
đại vào cái ông Bin Laden. Nhưng Bin Laden là ai? Tại sao lại “được” Mỹ
định danh nhanh thế. Và lịch sử được mở lại, thì ra Bin Laden là một nhân vật
từng được CIA đào tạo và nuôi dưỡng. Vậy thứ coi như người nhà đang đánh
người nhà vậy nhé ông Bush! Bin Laden và tổ chức Al Qeada được Mỹ chọn
làm “con tốt” đầu tiên cho lần “trả đủa” mang tính chiến lược của mình.
Sự kiện ngày 11-9, đã chính thức mở ra một bước ngoặt mới trong quan
hệ chính trị quốc tế đó là hợp tác chống khủng bố-một tiêu chí đầu tiên trong
quan hệ hợp tác giữa người Mỹ với các nước trên thế giới kề từ sự kiện này.
“Học thuyết Bush” cũng ra đời từ đấy, lấy chiến lược “chiến tranh khơng
thương” cịn gọi là “chiến tranh không tương xứng” làm chiến lược quân sự
trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu. Các nhà cầm quyền Mỹ đều khẳng
định rằng Mỹ sẽ chống khủng bố bằng tất cả những phương tiện có trong tay,
tại bất kỳ nơi nào trên thế giới. Bộ trưởng Bộ Quốc phịng Mỹ giải thích “học
thuyết Bush, khơng chỉ để quét sạch bọn khủng bố mà còn để tiêu diệt các
hang ổ của chúng, tức là các quốc gia chứa chấp khủng bố”. Như vậy đã rõ, lý
do đã có và cái cớ cho những cuộc chiến về sau đã được đưa ra. Về phạm vi
triển khai, ông công khai “nó (cuộc chiến chống khủng bố) sẽ lan tỏa đến 60
quốc gia trên thế giới”. Phó tổng thống Mỹ Cheney, thì lạnh lùng tuyên bố
“Cuộc chiến tranh chống khủng bộ bắt đầu từ ngày 7-10-2001 và sẽ không
bao giờ kết thúc”. Những điều đó cho phép hình dung được quy mô của “học


thuyết Bush”. Tuy nhiên, Kissinger, một chuyên gia chiến lược quân sự của
Mỹ lại nói toạc ra rằng: ”cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố không phải
chỉ để tiêu diệt quân khủng bố. Trước hết, nó nhằm tranh thủ cơ hội cực kỳ
quý báu để phân chia lại thế giới”. Người Mỹ đã lên tiếng và cả thế giới
dường như đang “nín thở” chờ đợi người Mỹ thực hiện hành động của mình.
Một nền hịa bình (dù chưa thật sự đúng nghĩa) đang bị lung lay dữ dội. Ai sẽ

là nạn nhân “địn trả thù” của Mỹ?
Có thể nói sự kiện tịa tháp đơi ở Mỹ bị sụp đổ, thường được lựa chọn
đăng tải trên các trang báo trong thời gian qua khi bàn về những sự kiện thế
giới nổi bật, chứng tỏ đây là một vấn đề thời sự nóng bỏng dù nó đã xảy ra
cách đây đã 4 năm. Nó gợi lại cảm giác rùng mình, căm phẫn hoảng sợ, cái
ranh giới mong manh giữa hồ bình và chiến tranh sao mà gần gũi đến thế.
Nước Mỹ không cịn như cũ, thế giới khơng cịn như cũ. Nước Mỹ khơng cịn
sống trong giấc mơ màu hồng của một quốc gia bất khả xâm phạm. Vì sao
nước Mỹ lại bị khủng bố. Chính bản thân nước Mỹ cần nhìn nhận lại mình,
xem xét cách cư xử đối với thế giới. Một câu hỏi đau đớn cứ xốy trong lịng
mỗi người dân Mỹ: vì sao nước Mỹ lại lắm kẻ thù như vậy. Khơng ai khác mà
chính cựu tổng thống B.Clinton, vào thời điểm nước Mỹ đang chìm đắm trong
nỗi kinh hồng 11-9 đã nói rằng: “chúng ta phải tạo ra một thế giới nơi chúng
ta có nhiều bạn bè hơn và ít kẻ thù tiềm tàng hơn. Nước Mỹ phải rũ sạch thói
kiêu căng tự phụ”. Vâng, có như vậy thì những hành động tương tự mới
khơng thể xảy ra. Củng kể từ sau sự kiện 11-9, khái niệm an ninh nội địa được
người Mỹ xem như một vấn đề ưu tiên không thể thiếu đối với bất cứ tun
bố chính sách nào của chính quyền Mỹ.
2. Vì sao sự kiện ngày 11-9 diễn ra? Khủng bố, chống khủng bố - và
cách làm của người Mỹ.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trả đủa khủng khiếp vừa qua
phải kể đến đường lối đối ngoại của Mỹ. Đã từ lâu Mỹ cho mình cái quyền
dạy các dân tộc khác, tự cho mình quyền phán xét và can thiệp vào công việc


nội bộ của các quốc gia khác. Mỹ kêu căng không chịu tham gia vào những
hoạt động quan trọng của cộng đồng quốc tế: tự ý rút khỏi hiệp định thư
Kyoto, rút lui khỏi hiệp định ABM, rút lui khỏi hiệp định chống chủ nghĩa
phân biệt chủng tộc... Trong khi đó, chính quyền ơng Bush lại có quyết định
đi ngược lại với nền hịa bình quốc tế như: cho xây dựng hệ thống phòng thủ

tên lửa quốc gia (NMD) với tham vọng khống chế tòan thế giới, hậu thuẫn
cho Israel đi ngược với tiến trình hịa bình tại Trung Đơng. Chính những động
thái này đã gây ra những bất bình lớn đối với nhiều nước, kể cả những đồng
mình thân cận nhất của Mỹ. Do đó, sự kiện ngày 11-9, diễn ra là đúng và hợp
quy luật phát triển, khi sự dồn nét đã q mức thì nó sẽ bùng phát.
Xung quanh sự kiện 11-9, có nhiều câu hỏi đặt ra là với một bộ máy an
ninh khổng lồ hàng năm được bổ sung hàng trăm tỷ USD. Vậy mà chẳng lẻ
khơng có một ngân sách nào dành cho chống khủng bố? Vì sao những kẻ
khủng bố dễ dàng hoạt động dưới một mạng lưới an ninh dày đặc và hoạt
động kín kẻ như ở Mỹ? Vì sao khi hai tồ tháp đơi bị đổ, tổng thống Mỹ vẫn
ung dung như chưa biết chuyện gì cả? Phải chăng đây là kế hoạch đã được dự
trù của người Mỹ? Vì sao khi xảy ra sự kiện 11-9, Mỹ liền đổ ngay tội lỗi lên
đầu trùm khủng bố BinLaden và tổ chức Al Qeada... Hàng loạt câu hỏi được
đặt ra xung quanh vấn đề này, cũng đúng thơi vì người ta đang bị sốc trước sự
kiện này. Khơng một ai có thể hình dung nổi một sự việc tồi tệ như thế lại xảy
ra trên đất Mỹ.
Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với thế giới, nhất là thế giới Hồi giáo
là nguyên nhân quan trọng hàng đầu dẫn đến mâu thuẫn giữa khủng bố và
chống khủng bố ngày càng gay gắt. Các hành động của Mỹ ngày càng xem
thường lợi ích, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của nhiều nước trên thế
giới nhất là thế giới Hồi giáo (như vụ hạ nhục các tù binh Iraq và mới nhất là
vụ phỉ báng kinh Coran, một bộ kinh thiêng liêng đối với người theo đạo Hồi)
đã gây oán hận cho dân chúng, nhất là những người Hồi giáo. Và tâm lý bài
Mỹ cũng vì thế mà cũng diễn ra khắp nơi trên thế giới này, điển hình là hoạt


động của tổ chức Al Qeada. Sự đè nén, căm giận, cuồng tín dẫn đến những
trào lưu tư tưởng cực đoan. Hành động đã khơng cịn nghe theo lý trí. Và khi
giới hạn đã khơng cịn thì nó sẻ nổ ra, đó là một tất yếu, mối đe dọa cũng vì
thế mà lớn hơn, thường trực hơn, đáng sợ hơn, nguy hiểm hơn và khó đề

phịng hơn. Cuộc chiến chống khủng bố do người Mỹ phát động sau sự kiện
11-9 đến nay cho thấy nó ngày càng bị lạm dụng và đang đi chệch hướng. Cả
thế giới đang chăm chú theo dõi siêu cường này sẽ đẩy cổ xe “chống khủng
bố” đi đâu và điểm dừng kế tiếp của cổ xe này sẽ là ở đâu.
Sau sự kiện 11-9, chính quyền Mỹ tuyên bố: những nước chứa chấp và
bảo vệ các phần tử khủng bố sẽ bị trừng trị như các thủ phạm khủng bố. Nhiều
thơng tin từ báo chí Mỹ cho biết: ba ngày sau thảm họa 11-9, cả nước Mỹ có
71 nghi can bị bắt, năm ngày sau con số này tăng lên 125, sau một tháng là
1.500 người bị bắt và nghi can là đồng lõa, thủ phạm hoặc bao che khủng bố.
Trong số đó, khơng có ai là người Afghanistan-nghi can số một của một sau
sự kiện 11-9. Vậy ở đây nước đứng đầu trong việc chứa chấp và bao che cho
bọn khủng bố quốc tế phải là nước Mỹ chứ! Chính từ chỗ đó chúng ta mới
thấy rằng đằng sau một sự hô hào là một hố sâu. Nước Mỹ khơng thể hình
dung rằng chính mình đang “vạch áo cho người xem lưng”, đang chứng tỏ
nước Mỹ chứ khơng ở đâu khác có nhiều bọn khủng bố nhất, cần bị tiêu diệt
nhiều nhất. Vậy mà Mỹ vẫn khơng thừa nhận chuyện đó.
Có lẻ do q căng thẳng sau sự kiện 11-9, nên ông Bush đã tự ý chia
thế giới thành 2 phe, một bên là các nước chống khủng bố quốc tế, bên còn lại
là những kẻ khủng bố và các quốc gia hậu thuẫn khủng bố. Với chiêu bài
chống khủng bố Mỹ đã dễ dàng hơn trong việc phát động các cuộc chiến tổng
lực, trong đó khơng loại trừ sử dụng bất kỳ loại vũ khí nào để đạt được mục
đích là “chống khủng bố”. Trật tự thế giới mới đang được hình thành quanh
cái trục “chống khủng bố” mà Mỹ là kẻ cầm lái chính.
Khủng bố và chống khủng bố - đây là vấn đề khơng mới. Đã từ lâu
nhiệm vụ phịng chống khủng bố quốc tế đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của


nhiều quốc gia trên thế giới. Vụ khủng bố ngày 11-9, xảy ra trên nước Mỹ một quốc gia đầy uy quyền và gần như tuyệt đối an toàn trước bất cứ nguy cơ
chiến tranh xung đột nào của thế giới, kể cả qua 2 cuộc đại chiến thế giới.
Khủng bố không loại trừ ai và không chừa một quốc gia nào. Người Mỹ lâu

nay vẫn luôn cho rằng đất nước của họ không bao giờ xảy ra chiến tranh, chỉ
có họ mới có quyền đi đánh những nước khác mà thôi. Cái quyền này đã bị
phá bỏ sau sự kiện ngày 11-9. Nỗi đau này quá lớn và quá đột ngột, trong lòng
người dân Mỹ nổi lên cùng một lúc cả lòng yêu nước, nỗi sợ hãi và khát khao
trả thù. Đứng trước một siêu cường đang bị tổn thương và tràn trề quyết tâm,
các quốc gia khác cảm thấy bối rối: ủng hộ hay không ủng hộ cuộc chiến
chống khủng bố của Mỹ. Như khi Mỹ tấn công Afghanistan, khơng cịn một
quốc gia nào cịn dám đứng về phía Taliban, kể cả đồng minh thân thiết nhất
của họ là Pakistan.
Biến niềm đau đó thành hành động của mình, Washington nhanh chóng
tạo được một mạng lưới ủng hộ chống khủng bố khổng lồ trên toàn cầu, cho
cuộc chiến chống khủng bố của mình: từ khối NATO cho đến Nga, Trung
Quốc - 2 quốc gia xưa nay ln có xu hướng phản đối chính sách của Mỹ cho đến các quốc gia khác từ lớn đến nhỏ như Anh, Pháp, Đức, Italia, Nhật,
Thổ Nhĩ Kỳ... đều lên tiếng ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố. Mỹ
đang được hưởng lợi hơn bao giờ hết. Một cơ hội “vàng” có lẽ ngàn năm mới
có một. Và người Mỹ hiểu rõ điều này hơn ai hết. Họ đã thực thi sự ủng hộ đó
một cách “rất hiệu quả”. Cái đích mà họ thu được còn nhiều hơn cái mà họ
nghĩ như: đã xoa dịu được nỗi đau của người dân; tăng uy tín cho Tổng thống
Bush - bằng chứng là ơng đã trúng cử nhiệm kỳ Tổng thống lần 2; tiếp tục
củng cố vị trí độc tơn của siêu cường Mỹ trên thương trường quốc tế; có cơ
hội tiêu diệt những kẻ Mỹ cho là “cứng đầu” như mạng lưới Al Qaeda; và
cuối cùng gửi lời “nhắn nhủ” đến bất cứ ai chống hay đơn giản hơn là khơng
có quan hệ “hữu hảo” với người Mỹ thì hãy coi chừng - bài học Iraq vẫn cịn
nóng hổi.


Một số quan điểm mơ hồ giữa làn ranh khủng bố, chống khủng bố cần
sớm được khai thông như:
Trước hết cần phải phân biệt giữa chủ nghĩa khủng bố cần bị tiêu diệt
với những người yêu nước chân chính chống xâm lược, kế đến là khái niệm

quốc gia chứa chấp và viện trợ cho khủng bố. Đây là những khái niệm rất mơ
hồ, mà nếu khơng làm rõ nghĩa thì rất dễ bị lạm dụng. Rồi trừng phạt khủng
bố có vi pham nhân quyền và thế nào là trừng phạt không vi phạm nhân quyền
(chẳng lẻ Nga trừng phạt bọn khủng bố Checnya thì bị lên án là vi phạm nhân
quyền, còn Mỹ thực hiện cấm vận Iraq hàng chục năm trời làm hàng ngàn trẻ
em bị chết đói là khơng vi phạm nhân quyền?). Liệu có tiêu diệt được tận gốc
chủ nghĩa khủng bố quốc tế hay không, nếu chỉ dùng biện pháp quân sự, phải
chăng biện pháp quân sự là giải pháp tối ưu, còn cái tiềm ẩn bên trong thì sao?
Có khá nhiều tổ chức khủng bố xuất phát từ một số chủ nghĩa tôn giáo cực
đoan, vậy chống khủng bố có đồng nghĩa đánh đồng tơn giáo nào đó với chủ
nghĩa khủng bố. Vấn đề đặt ra là tại sao khơng để chính tơn giáo sẽ chữa trị
hoặc góp phần quan trọng vào việc chữa trị căn bệnh khủng bố. Hàng loạt vấn
đề được đặt ra cần có sự hợp tác trung thực, nghiêm túc và hết mình của các
quốc gia, dân tộc trên tồn cầu thì mới có thể ngăn chặn và loại trừ được chủ
nghĩa khủng bố quốc tế.
3. Một số nét về chính sách đối ngoại của Mỹ sau sự kiện 11-9-2001.
Sự kiện 11-9, khiến Washington đã có cái nhìn mới trong chính sách
đối ngoại của mình. Chính quyền Bush đã tạm gác hàng loạt vấn đề ưu tiên
khác để tập trung cho cuộc chiến chống khủng bố. Dưới tác động của chiến
dịch ngoại giao, mà nhiều báo và tạp chí cả Việt Nam và thế giới cho rằng
chưa từng có trong lịch sử của Mỹ để thành lập một liên minh chống khủng
bố tồn cầu. Quan hệ quốc tế cũng vì thế mà có những bước chuyển cơ bản.
Mối quan hệ giữa Nga và Mỹ đã trở nên khăng khít, đơi bên cùng có
chung một quan điểm là chống khủng bố và cùng nhìn về một hướng đó là
tiêu diệt bọn khủng bố và chủ nghĩa khủng bố. Đây được xem là sự thay đổi


quan trọng nhất trong số những thay đổi quan trọng trong bản đồ chính trị
quốc tế, kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Trong đường lối chính sách đối
ngoại của mình các quốc gia Hồi giáo được Mỹ đặc biệt quan tâm, Mỹ ra sức

lôi kéo các quốc gia này vào cuộc chiến chống khủng bố. Đưa ra nhiều bức
thông điệp nhằm lôi kéo các nước Hồi giáo vào liên minh của mình. Cùng
với đó mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc cũng được hàn gắn và trở nên
tốt đẹp hơn bao giờ hết, Trung Quốc đồng tình với quan điểm chống khủng
bố của Mỹ và Mỹ chính thức “chấp nhận” cho Trung Quốc gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO) chỉ trong vòng 8 phút đàm phán, dù trước đó
Trung Quốc phải liên tiếp vượt qua nhiều “rào cản” do phía Mỹ dựng lên kéo
dài trong vịng 15 năm.
Dưới triều đại của mình, Bush đã thực thi chính sách “đánh địn phủ
đầu” rất ngang ngược bất chấp tất cả, kể cả Liên hiệp quốc, luôn giương cao
ngọn cờ chống khủng bố. Đây không chỉ là khẩu hiệu để nhằm tập hợp lực
lượng liên minh chống khủng bố tồn cầu, mà cịn nhằm thực hiện ý đồ của
Mỹ đối với từng quốc gia, từng khu vực cụ thể trên thế giới. Đồng thời đó
cịn là cơng cụ để Mỹ gây sức ép lên các nước phải đi theo sự sai khiến của
Mỹ. Hai mục tiêu cụ thể tuy có những điểm đến khác nhau, nhưng nhìn
chung đối với người Mỹ đó là một thứ rượu cũ, có khác chăng là sự pha trộn
một vài mùi vị khác.
Mặc dù, đã có những thay đổi cơ bản trong đường lối, chính sách đối
ngoại sau sự kiện 11-9, nhưng nhìn chung Mỹ vẫn ln hướng đến một mục
tiêu chính đó là: xác lập quyền thống trị thế giới của Mỹ. Đây được xem là
một trong những mục tiêu nhất qn của chính quyền Mỹ xun suốt trong
tiến trình lịch sử. Không chỉ thống trị thế giới mà người Mỹ cịn muốn ngăn
chặn và khơng cho bất kỳ quốc gia nào cạnh tranh đe dọa vị trí số 1 siêu
cường của Mỹ. Để duy trì thực hiện những mục tiêu đó Mỹ vẫn dựa vào 3
con bài chính là vũ khí hiện đại, thị trường tự do và con bài dân chủ-nhân
quyền theo kiểu Mỹ, để lôi kéo các nước vào cuộc chiến chống khủng bố, và


cũng là con bài để Mỹ “rêu rao” và có cơ hội tiến hành chiến tranh chống
khủng bố. Về con bài quân sự, dưới chính quyền Bush, chi phí quân sự lên

rất cao, chiếm 47% chi phí quân sự của cả thế giới. Mức chi phí quân sự hiện
nay của Mỹ vượt qua cả cao điểm của thời ký chiến tranh lạnh. Về tự do hóa
thương mại, Mỹ chủ trương ép các nước mở cửa tự do hóa thương mại ở thị
trường các nước, nhưng lại bảo hộ cho thị trường trong nước. Mỗi năm có
trên dưới 100 vụ kiện về thương mại và phần lớn kết quả nghiêng về phía các
cơng ty Mỹ. Chính phủ Mỹ đang nỗ lực mở rộng khu mậu dịch tự do có lợi
cho Mỹ (trên cơ sở khu vực 3 nước Mỹ-Canada-Mexico) mở rộng sang
Australia, sang châu Á Thailand, Singapore... Về con bài dân chủ nhân
quyền, Mỹ nhấn mạnh vấn đề dân tộc - nhân quyền, tranh thủ lợi dụng và
ủng hộ các phần tự đối lập - đòi dân chủ ở các nước nhiều hơn.
Nghe theo Mỹ tất nhiên sẽ thu được nhưng lợi ích nhất định. Mà lợi
ích quốc gia ln là vấn đề mấu chốt trong việc hoạch định và thực hiện
chính sách đối ngoại. Những quốc gia nào thu được lợi ích từ các hoạt động
chống khủng bố của Mỹ sau ngày 11-9, đó có thể kể đến như Philippine,
Gruzia, Israel, Pakistan... vốn đang cần sự giúp đở của Washington để giải
quyết những vấn đề bất ổn trong cũng như ngoài nước. Israel là nước được
hưởng lợi nhiều nhất từ cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ, nhờ cuộc chiến
chống khủng bố tư tưởng thân Tel Aviv trong chính quyền Bush tăng mạnh.
Từ chỗ coi các nhóm chuyên tiến hành các vụ đánh bom tự sát Palestine như
Hamas, Jinhad... Mỹ bắt đầu đổ mọi trách nhiệm lên đầu chủ tịch Arafat,
thậm chí cịn đi xa hơn. Mỉa may thay, chiến thắng về ngoại giao của Israel
lại khiến xung đột ở khu vực Trung Đông leo thang lên một nấc thang mới và
khó lịng cứu vãn. Tình hình khu vực Trung Đơng ngày càng thêm phức tạp.
Uy tín của các nhóm cực hữu thì tăng mạnh, cịn tại Israel, người dân luôn
phải sống trong tâm trạng lo sợ bị tấn công, kinh tế trì trệ, chính phủ lúng
túng trong việc xác định chính sách: khi thì đồng ý đối thoại, khi thì đánh vào
các vùng đất của người Palestine.


Còn ở Nga, sau vụ 11-9, tiếng tăm của tổng thống Putin lên như diều

gặp gió, ơng đã khéo léo kéo Nga và Mỹ xích lại gần nhau. Với chính sac1h
thực dụng và mong muốn cải thiện quan hệ với Mỹ, cộng với những tính tốn
lợi ích đối nội trong việc chống lại quân ly khai ở Chechnya, tổng thống Putin
đã nhanh chóng bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ với chiến dịch chống khủng bố của
Mỹ, chia sẻ thông tin tình báo, bật đèn xanh cho các nước Trung Á mở cửa
cho quân Mỹ mượn căn cứ hậu cần làm bàn đạp tấn công Afghanistan.
Washington đồng ý nhượng bộ Matxcơva nhiều vấn đề như: giảm nhẹ phản
ứng đối với các hành động của Nga tại Chechnya-Nga rãnh tay thực hiện cơng
việc của mình; tạm dừng sử dụng vấn đề nhân quyền để chống Nga, hứa hẹn
viện trợ kinh tế và ủng hộ việc Nga gia nhập WTO. Sự điều chỉnh chính sách
mạnh mẽ của Mỹ và Nga sau sự kiện 11-9 vì những tính tốn lợi ích song
trùng đã tạo ra những chuyển biến quan trọng trên một số vấn đề lớn trong
quan hệ Nga-Mỹ, đặc biệt trong vấn đề kiểm sốt vũ khí hạt nhân. Có thể thấy
Nga từ chỗ là đối thủ tiềm tàng đã trở thành đối tác của Mỹ sau sự kiện 11-9.
Tuy nhiên, song song với những bước tiến quan trọng trong quan hệ với Mỹ,
Nga đang phải chịu nhúng nhường ngày càng nhiều trước Mỹ, vai trò và vị thế
của Nga ngày càng suy giảm. Lợi ích kinh tế trước mắt đã làm lu dần vị thế
của một quốc gia từng là siêu cường. Điều này đã thể hiện rõ qua việc một số
quan chức Nga đã than phiền chuyện nhúng nhường trong ngoại giao vẫn chưa
được Mỹ đền bù bằng những lợi ích kinh tế thỏa đáng. Rõ ràng sự kiện 11-9,
đã làm thay đổi nhanh chóng cục diện quan hệ chính trị quốc tế, nhất là quan
hệ giữa các nước lớn. Nhưng câu hỏi cũng được đặt ra là liệu bầu khơng khí
hịa dịu đó sẽ cịn kéo dài được bao lâu, hay nó chỉ mang tính chất nhất thời để
thỏa mãn nhu cầu trước mắt là chống chủ nghĩa khủng bố của Mỹ.
Cùng với việc thay đổi chính sách đối ngoại với nhiều nước, Mỹ xác
định châu Á ngày càng trở nên quan trọng trong chiến lược của Mỹ, nhất là
lý do an ninh. Tình hình trên bán đảo Triều Tiên, xung đột ở eo biển Đài
Loan, chạy đua hạt nhân ở nam Á và hơn hết là sự trỗi dậy của Trung Quốc



là những lý do mà chính quyền Bush với xu hướng theo chủ nghĩa hiện thực
chính trị, chú ý hơn đến châu Á. Sự kiện 11-9, không làm thay đổi chiều
hướng chính sách châu Á của chính quyền Bush. Minh chứng rõ nét nhất là
bản báo cáo Quốc phòng của Mỹ năm 2001, vẫn thể hiện sự chuyển hướng
trọng tâm chính sách an ninh của Mỹ từ châu Âu sang châu Á. Mỹ có kế
hoạch sẽ tăng cường lực lượng không quân, hải quân, lục quân cho khu vực
Đông Á-Thái Bình Dương, mở rộng căn cứ quân sự tại Guam và triển khai
thêm các tàu sân bay tới Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
Tóm lại, cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ không những không dẫn
đến thay đổi mà cịn củng cố cơ sở tư tưởng chiến lược tồn cầu của kể từ
sau chiến tranh thế giới thứ 2. Mỹ cần khống chế khu vực Âu-Á thì mới kiểm
sốt được thế giới. Sự kiện 11-9, mở ra cơ hội cho Mỹ cải thiện quan hệ với
Nga, đặt chân vào những khu vực có vị trí chiến lược thiết yếu ở Trung Á,
phục vụ lợi ích dài lâu của Mỹ là ngăn chặn sự trỗi dậy của một cường quốc
có khả năng đe dọa vị trí của Mỹ trong tương lai.
4. Cuộc chiến Afghanistan và bước đi đầu tiên trong cuộc chiến
chống khủng bố toàn cầu của người Mỹ.
Cuộc chiến Afghanistan chỉ là sự khởi đầu cho cuộc chiến chống
khủng bố dài lâu, trên nhiều mặt trận với quy mô to lớn mà nước Mỹ cam kết
theo đuổi. Kể từ 1 tháng sau sự kiện 11-9, Afghanistan đã phải gánh chịu
ngay những trận “mưa bom” của Mỹ. Đánh Afghanistan không chỉ cái cớ
nhằm che mắt thế giới mà nguyên nhân sâu xa hơn đó là yếu tố địa - chiến
lược và lựa chọn mục tiêu trong chỉ đạo chiến lược. Mỹ muốn độc chiếm
vùng đất cửa ngỏ này. Trước đây Liên Xô cũng đã nhiều lần đánh chiếm
vùng đất này để tạo ra một vành đai an toàn bảo vệ mình. Thì nay, Mỹ đánh
vào vùng đất này để xóa bỏ cái vành đai ấy và nâng tầm ảnh hưởng của mình
trong khu vực này. Do Afghanistan có một vị trí chiến lược cực kỳ quan
trọng như thế nên Mỹ từ lâu đã rất “thòm thèm” vùng đất này. Đây là một
khu vực rộng lớn rất quan trọng, có một địa bàn chiến lược cực kỳ thuận lợi



có thể khống chế cả 3 khu vực Á-Âu-Phi, ở đây còn là kho dự trữ dầu mỏ số
1 thế giới. Ngồi ra, Afghanistan cịn có một vị trí chiến lược nhất thiết phải
đánh, đó cịn là vùng đất rất nhạy cảm về chiến lược khi 4 nước xung quanh
Afghanistan là (Trung, Ấn, Pakistan, Nga đều có vũ khí hạt nhân). Và cũng
chính từ vùng đất này Mỹ đã đào tạo nên một Bin Laden, một trùm khủng bố
lẫy lừng của Mỹ, được Mỹ huấn luyện và cung cấp vũ khí trong cuộc chiến
trong Liên Xơ. Nay khi người Mỹ đã khơng cịn thấy sự tin dùng họ nhanh
chóng gạt phắt đi và họ dùng Bin Laden như một công cụ để họ quay trở lại
và chiếm cứ điểm này. Sự tinh ranh có thừa đối với một bộ óc siêu hạng.
Về mục tiêu của cuộc chiến mà Mỹ và Anh tiến hành, theo phía liên
qn Anh-Mỹ thì chiến dịch nhằm tiêu diệt lực lượng khủng bố của BinLaden
và kẻ dung túng là Taliban, mục tiêu này không chỉ được xác định bằng lời
nói, mà trên thực tế phía liên quân cũng cố gắng chứng tỏ bằng việc làm tiếp tế
lương thực cho dân thường ở Afghanistan, tức là cố gắng chứng minh là dân
chúng đã được tách ra khỏi “tầm ngắm” của cuộc chiến. Hành động này là nỗ
lực chứng tỏ với cộng đồng Hồi giáo rằng phía Mỹ-Anh chí đánh qn khủng
bố, chứ khơng định đụng đến Hồi giáo. Ngược lại, BinLaden cũng thừa tinh
khôn để nhận ra điều này. Ông tá cố gắng thuyết phục cộng đồng Hồi giáo
rằng: hành động của phía Anh-Mỹ là sự thách thức lớn đối với cộng đồng Hồi
giáo và kêu gọi một cuộc Thánh chiến.
Lao vào cuộc chiến Afghanistan, chính quyền Mỹ bị lâm vào thế
lưỡng nan: một bên là cuộc chiến quân sự ở Afghanistan, một bên là cuộc
chiến kinh tế ngay tại chính quốc với cơn suy thối đang đe dọa nước Mỹ. Để
có thể thốt ra khỏi hai cuộc chiến này, ơng Bush đã và đang điều chỉnh
chính sách của mình khá nhiều đặc biệt là chính sách đối ngoại. Và đó cũng
chính là lý do dẫn đến sự ra đời của “Học thuyết Bush”. Học thuyết Bush
khẳng định muốn “lơi kéo và hình thành liên minh quốc tế” chống khủng bố,
học thuyết này được các nhà phân tích chính trị sánh ngang với “học thuyết
Truman” sau chiến tranh thế giới thứ 2 nhằm tập hợp lực lượng về phía Mỹ



trong cuộc chiến chống chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới. Một nội dung
quan trọng trong học thuyết này là thành lập một “liên minh toàn cầu” chống
chủ nghĩa khủng bố do Mỹ đứng đầu. Học thuyết ra đời đã nhận được sự ủng
hộ của nhiều nước, tùy mức độ khác nhau.
Tuy nạn khủng bố là một trong những khiến nhiều quốc gia phải quan
tâm đối phó, nhưng xét về tầm cỡ và mức độ thì nó chưa phải là nỗi lo lắng
lớn nhất của nhân loại. Có nhiều vấn đề khác còn quan trọng hơn như: xung
đột vũ trang và chiến tranh, môi trường trái đất bị hủy hoại, dịch bệnh thế kỷ,
thiên tai... “Học thuyết Bush” ra đời đã được người ta khéo léo dàn dựng tôn
cao và bơm nó lên thành chủ nghĩa chống khủng bố toàn cầu như: bệnh than,
những lệnh báo động đỏ về khủng bố có thể sẽ tái diễn, đề phịng khủng bố
hạt nhân, động viên quân dự bị... được chính quyền Mỹ phát đi như một
thông điệp nhằm cảnh tỉnh người dân. Nhưng thật ra, những thông điệp này
được phát đi nhằm vào động cơ chính trị phía sau nó. Kết quả là bước đầu đã
có lúc đã tạo được sự ủng hộ của 89% dân Mỹ, quốc hội Mỹ ủng hộ và lập
được một liên minh chống khủng bố ở ngoài nước Mỹ. Những mưu toan đã
được đền bù xứng đáng.
Tuy nhiên, cơ sở của sự ủng hộ chính trị như vậy là nhờ những gì được
dàn dựng bằng thủ pháp cường điệu hóa nguy cơ khủng bố tồn cầu. Tin rằng
những gì ngụy tạo chắc sẽ khơng đứng vững được lâu. Cùng với thời gian,
ngọn cờ chính trị đó sẽ bị “rớt giá”. Cuộc chiến ở Afghanistan nhanh chóng
kết thúc sau 2 tháng, nhưng người Mỹ vẫn chưa thừa nhận rằng nó đã chấm
hết. Họ cịn ồ ạt ném bom, bắn phá tứ tung, đổ thêm quân, xây dựng các căn
cứ quân sự ở Uzbekixtan, Pakistan, Afghanistan... Có một điều rất quan trọng
và rất khó nói trong cuộc chiến này là: nếu thừa nhận cuộc chiến đã kết thúc,
có nghĩa là thắng lợi! Vậy thì địn trả đủa khủng bố đã trả xong, quả bóng
chống chủ nghĩa khủng bố toàn cầu sẽ bị xẹp xuống, sự ủng hộ của các nước
sẽ nhỏ lại. Và theo đó cái liên minh chống khủng bố tồn cầu sẽ rã đám! Cịn

truy tìm Bin Laden, nếu giết chết ơng ta cũng có nghĩa là chủ nghĩa khủng bố


tồn cầu sẽ bị chặt mất đầu, khơng cịn gì nguy hiểm nữa thì hù dọa được ai.
Vì vậy, nên cứ tiếp tục truy lùng trong sự tuyệt vô âm tín là thượng sách
nhất. Dù rằng trong dân Mỹ có thể có người khơng hiểu đã nghĩ rằng, đưa
sức mạnh của cả một cường quốc ra mà không diệt nổi một tên khủng bố.
Một mũi tên bắn trúng hai cái đích. Rút kinh nghiệm từ những cuộc chiến đã
qua (Vùng Vịnh lần 1, Nam Tư, Kosovo...) lần này người Mỹ đã sử dụng
thành thạo chiến thuật người Hồi giáo đánh người Hồi giáo, tức là dùng
người Afghanistan đánh người Afghanistan, người Mỹ gọi đây là chiến lược
“không thương vong”. Một kế sách vừa an toàn, vừa che mắt dư luận lại vừa
hiệu quả.
Từ cuộc chiến Afghanistan có thể thấy: cuộc chiến chống khủng bố là
một loại hình chiến tranh mới, có nhiều đặc tính phức tạp và nguy hiểm, vì ở
đó có sự lập lờ giữa đúng và sai, giữa thiện và ác. “Bị khủng bố thì phải
chống khủng bố” nhưng “khủng bố là tội ác thì chống khủng bố giết người
vô tội cũng là tội ác” phải không ông Bush? Vậy đâu là ranh giới giữa cái
xấu và cái tốt mà ơng vạch ra trong học thuyết của mình. Mọi người đều biết
tại sao ông lại không biết hả ông Bush? Dù gặp phản đối nhưng ông vẫn một
mực khăng khăng rằng “cuộc chiến tranh của chúng tôi là cuộc chiến tranh
chống tội ác”! Tuy nhiên, bản chất của vấn đề lại là ở chỗ khác: một cuộc
chiến “trả đủa” đầy tội ác như vậy mà vẫn được sự ủng hộ của đông đảo
người dân Mỹ-một dân tộc rất u chuộng hịa bình, cơng lý, có lương tâm
và biết tự trọng. Người Mỹ nghĩ gì về sự ủng hộ của mình?
5. Iraq bước đi thứ 2 của người Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố
Rút kinh nghiệm từ cuộc chiến ở Afghanistan, với mục tiêu chính là
tiêu diệt trùm khủng bố Bin Laden, cuộc trả thù diễn ra chớp nhống. Đến
cuộc chiến ở Iraq thì khác, người Mỹ đã vạch ra những mục tiêu rõ ràng và có
chủ đích đàng hồng đó là: chấm dứt chế độ S.Hussein; xác định, cơ lập và

tiến tới phá bỏ kho vũ khí hay các chương trình vũ khí huỷ diệt hàng loạt và
vũ khí sinh học của Iraq; truy bắt và tiêu diệt các phần tử khủng bố mà Iraq


chứa chấp; thu thập thông tin để vạch ra mối liên hệ giữa Iraq và các mạng
lưới khủng bố; kết hợp với các thơng tin tình báo để tìm ra mối liên hệ của
mạng lưới khủng bố quốc tế trong việc thực hiện các hoạt động sản xuất, buôn
bán hoặc sử dụng vũ khí huỷ diệt hàng loạt; chấm dứt cấm vận và cứu trợ
nhân đạo ngay lập tức cho Iraq; bảo vệ nguồn dầu mỏ, tài nguyên và trả lại
quyền sở hữu cho người Iraq; giúp người dân Iraq tạo dựng chính quyền mới
sau khi chiến tranh kết thúc.
Từ những mục tiêu được Mỹ vạch ra chúng ta dễ dàng nhận thấy dù là
cuộc chiến nào đi nữa thì người Mỹ ln gắn nó với chống khủng bố. Người
Mỹ đã lợi dụng vấn đề này một cách hoàn hảo. Con cờ chống khủng bố luôn
được Mỹ đưa ra đúng lúc và đúng thời điểm. Sự thật về cuộc chiến này thì ai
cũng đã rõ: bằng mọi cách nhổ cho bằng được cái gai S.Hussein ra khỏi con
mắt của Mỹ, xác lập quyền thống trị của Mỹ tại khu vực này sau Afghanistan,
chiếm lấy các mỏ dầu tại Iraq. Khi Mỹ tuyên bố đã bắt được Hussein, mọi
người mới nhận ra rằng: thì ra để bắt một con người mà đã có biết bao con
người vơ tội khác phải nằm xuống. Phải lật đổ một chế độ thì phải sử dụng
biết bao vũ khí hiện đại. Phải tiến hành một cuộc chiến thì phải dùng biết bao
thủ đoạn. Và để lừa gạt mọi người thì đừng lấy tấm vải thưa mà che mắt họ.
Cái cớ chống khủng bố hay vũ khí hố, sinh học gì đó thật ra là gì? Đó chỉ là
những tin tình báo bịa đặt. Nhưng người Mỹ vấn thích thổi phịng nó lên để
tiến hành một cuộc chiến để đạt được mục đích của mình. Là một người anh
cả như người Mỹ thì cái cớ vẫn là cái cớ, muốn đánh thì đánh chả quan tâm
đến sự can ngăn của cha mẹ (Liên hiệp quốc) gì cả. Vậy câu hỏi đặt ra là vai
trò của Liên hiệp quốc ở đâu khi Mỹ và liên minh của mình tiến hành cuộc
chiến ở Iraq. Các thành viên của Hội đồng bảo an không đồng ý kế hoạch của
Mỹ và các liên minh tấn cơng Iraq, Mỹ bỏ ngồi tai. Cuộc chiến xảy ra và câu

hỏi lại đặt ra vậy Liên hiệp quốc lúc này đang ở đâu? Câu trả lời vẫn chưa có.
Khi cuộc chiến kết thúc thì lúc đó người ta mới thấy Liên hiệp quốc ra mặt
cho công cuộc tái thiết Iraq, nhưng các công ty Mỹ vẫn không màng đá động


gì đến vai trị của Liên hiệp quốc. Khi bị các quốc gia lên tiếng phản đối thì
Mỹ mới chìa tay ra cho Liên hiệp quốc một phần nho nhỏ.
Cuộc chiến Iraq nổ ra, đã gây ra một tiền lệ cực kỳ nguy hiểm đối với
quan hệ quốc tế có tác dụng rất đáng kể không chỉ đối với việc phân tích tác
động và hệ lụy của cuộc chiến tranh này, mà còn cả đối với việc dự báo về
những gì tới đây có thể xảy ra. Đối với quan hệ quốc tế, tiền lệ nguy hiểm mà
cuộc chiến này mang lại đó là một quốc gia hoặc một liên minh các quốc gia
tiến hành cuộc chiến chống lại quốc gia khác bất chấp những chuẩn mực và
nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Nền tảng pháp lý của các mối quan hệ quốc
tế cũng vì thế mà bị bào mịn và vơ hiệu hóa. Các cơ chế an ninh tập thể vì thế
mà cũng bị suy giảm đáng kể. Vai trò của Liên hiệp quốc bị ảnh hưởng nghiêm
trọng qua cuộc chiến này, mà chính Liên hiệp quốc cũng khơng phải dễ dàng
khắc phục được. Bên cạnh đó, thì cuộc chiến này cịn mang lại một tiền lệ đó là
“cá lớn” có quyền nuốt “cá bé”, vận dụng luật của kẻ mạnh trong quan hệ quốc
tế, tiền lệ này đã mở ra một thế giới khơng bình n trong tương lai.
Sau cuộc chiến này, chiều hướng “một siêu đa cường” bộc lộ rõ nét và
mạnh hẳn lên. Từ nay Mỹ chắc chắn sẽ không định nghĩa hay xác định nước
nào là đối thủ tiềm năng của Mỹ mà sẽ đưa ra những tiêu chí nhất định để xác
định đối thủ tiềm năng cho từng thời kỳ, nhất là khi bộ máy cầm quyền có nhu
cầu nội bộ. Các nước sẽ tiếp tục điều chỉnh chính sách. Mức độ khác nhau, thời
điểm khác nhau và lĩnh vực chính sách khác nhau, nhưng tính thực dụng sẽ chi
phối và xuyên suốt mọi điều chỉnh chính sách ấy. Các nước lớn sẽ tránh đối đầu
với nhau, nhất là với Mỹ, tăng cường tranh thủ và lợi dụng nhau để đạt đến
mục đích của mình. Từ sau cuộc chiến này các nhà phân tích chính trị đều đưa
ra một nhận định chung rằng cục diện chính trị quốc tế và quan hệ quốc tế trong

thởi gian tới tiếp tục xoay quanh chính sách của Mỹ và chính quyền Bush.
Với sự sụp đổ của chính quyền Saddam Hussein ở Iraq, đất nước này
bổng nhiên trở thành nhân tố quyền lực mới ở khu vực, trở thành con cờ sáng
giá trong ván bài mới mở ra ở đây sau cuộc chiến, hay nói cách khác, Mỹ đã


tạo dựng được sự hiện diện chiến lược ở khu vực này. Đối với Mỹ họ cần phải
giải quyết nhanh những vấn đề về an ninh, chính trị đối với nhà nước Iraq mới
do họ lập ra. Trung Đông thời hậu chiến sẽ được sắp xếp lại trật tự bằng giải
pháp của Mỹ. Để giải quyết những hình ảnh chẳng được hay ho gì của Mỹ
trong con mắt thế giới Ả Rập, Mỹ sẽ nhanh chóng tìm cách thiết lập một
chính phủ bù nhìn thân Mỹ ở Iraq, từ từ rút bớt quân đội ở khu vực này, lôi
kéo các nước trong và ngồi khu vực vào cơng cuộc cứu trợ nhân đạo và tái
thiết Iraq. Mỹ đang ra sức thực thi chính sách này nhằm ổn định tình hình.
Iraq, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ đã tạo cho Mỹ thế đứng chân vạc mới trong khu vực
Trung Đơng, để từ đó để Mỹ rãnh tay trong việc xử lý các quốc gia “đang có
vấn đề” với Mỹ như: Syria, Iran. Trung Đơng có n tiếng súng hay khơng đó
cịn phụ thuộc vào nhà cầm quyền Mỹ. Người ở Trung Đơng cịn chết hay
khơng vẫn cịn tùy thuộc vào chính sách của người Mỹ.
6. Tham vọng bá quyền của Mỹ ngày càng bộc lộ.
Sau sự kiện ngày 11-9, quan hệ chính trị quốc tế liên tiếp có những diễn
biến dồn dập. Cuộc chiến Afghanistan, cuộc chiến Iraq đã và đang đẩy thế
giới ngày càng đi sâu vào những tội ác. Hịa bình dường như là một ước muốn
xa vời. Cái mong ước mong manh mà đơn giản ấy lại khơng thể bình yên
trước những hành động thù hằn dai dẳng. Câu hỏi đặt ra là vì sao Mỹ lại tấn
cơng Afghanistan, Iraq mà khơng phải là nước khác? Thật ra thì chính Bin
Laden và Saddam Hussein là 2 cái gai trong con mắt của người Mỹ. Người
Mỹ từ lâu đã muốn nhổ 2 cái gai ấy đi. Cơ hội đến và họ đã thực hiện.
Dù đứng về phía “liên minh chống khủng bố” với Mỹ, nhưng nhiều
nước kể cả Liên hiệp quốc điều lên tiếng bài tỏ mối quan ngại sâu sắc trước

những hành động của Mỹ. Thậm chí có nhiều nước coi hành động chống
khủng bố của Mỹ cũng giống như “hành động khủng bố”. Làn sóng phản đối
chiến tranh lan rộng khắp nơi trên thế giới và ngay trong lòng nước Mỹ. Các
quốc gia trên thế giới đều khẳng định ủng hộ một quyết tâm toàn cầu chống
khủng bố, nhưng phải theo nghị quyết của Liên hiệp quốc, đồng thời không



×