1
LỜI NÓI ĐẦU
Đạo Phật đã ra đời trong một thực tại đa diện, phồn tạp của nền văn minh Ấn
Độ, xuất hiện để dung hòa các trào lưu tư tưởng đối nghịch, để san bằng những ngăn
cách xã hội giữa các đẳng cấp. Rồi từ những căn bản đó, Phật giáo đã duỗi dài
nguyên lý vào cuộc sống con người khắp mọi nơi.
Trong cội rễ sâu xa, ngay từ khởi thủy tư tưởng giáo dục của triết lý Phật giáo
đã mang trong mình những giá trị nhân văn chung tồn nhân loại. Một trong những
giá trị nhân văn được thể hiện sâu sắc nhất trong xã hội hiện nay đấy chính là giá trị
nhân văn về Thuyết Nhân Quả của Đạo Phật. Do đó, tiểu luận này xin được phép
trình bày rõ hơn về “Thuyết Nhân Quả và giá trị nhân văn của nó đối với con
người Việt Nam”.
Do thời gian ngắn và khả năng nhận thức có hạn, bài viết khơng thể tránh khỏi
sai sót, kính mong thầy giáo nhận xét và giúp em hoàn thiện thêm. Em xin chân thành
cảm ơn.
2
I. KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO
1. Lịch sử hình thành
Đạo Phật hình thành ở Ấn Độ vào khoảng thế kỉ VI trước Công Nguyên.
Người sáng lập là thái tử Sidharta (Tất-đạt-đa), họ là Gotama(Cồ-đàm). Ông sinh
năm 624 trCN, vào lúc ở Ấn Độ đạo Bàlamôn (Brahmanism) đang thống trị với sự
phân chia đẳng cấp sâu sắc trong xã hội . Nỗi bất bình của thái tử về sự phân chia
đẳng cấp, kì thị màu da và đồng cảm với nỗi khổ của muôn dân là những nguyên
nhân dẫn đến sự hình thành một tơn giáo mới.
Sidharta rời nhà năm 29 tuổi, được gọi là Sakia Muni (Thích ca Mầu Ni - hiền
nhân dịng dọ Thích Ca). Sakia Muni tìm gặp những người tu hành lâu năm để học
hỏi, nhưng những điều thu được khơng làm ơng thỏa mãn . Ơng rủ 5 người bạn đến
vùng Uruvela (gần thị trấn Gaya – sau này các sách thường ghi là ông đến núi Tuyết
Sơn), tu khổ hạnh suốt 6 năm ròng mà chẳng ích lợi gì . Thấy mình đã tu sai đường,
ngài liền ăn uống cho lại sức rồi tìm đến một gốc cây pipal lớn, lấy cỏ làm nệm ngồi
tập trung suy nghĩ.
Sau một thời gian (tương truyền là 49 ngày đêm), tư tưởng ngài liền trở nên
sáng rõ, ngài đã hiểu ra quy luật của cuộc đời, nỗi khổ của chúng sinh, thấy được
điều mà bấy lâu nay tìm kiếm . Ngài liền đi tìm 5 người bạn đã từng tu khổ hạnh
trước đây để giác ngộ cho họ, rồi cùng với họ tron suốt 40 năm còn lại của cuộc đời
đi khắp vùng lưu vực sông Hằng để truyền bá những tư tưởng của mình . Từ đó,
người đời gọi Ngài là Buddha (Bậc Giác Ngộ, phiên âm tiếng Việt là Bụt, Phật). Cây
pipal, nơi Ngài đã ngồi tu luyện, được gọi là cây bodhi (bồ đề) và trở thành biểu
tượng cho sự giác ngộ . Đức Phật qua đời năm 544 trước Công Nguyên, thọ 80 tuổi .
Đạo Phật chính là giáo lý mà Đức Phật đã thuyết giảng. Sau khi ra đời ở Ấn
Độ vào thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, đạo Phật được lưu hành
3
rộng rãi ở các quốc gia trong khu vực á – Phi, gần đây được truyền tới các nước Âu –
Mỹ. Trong quá trình truyền bá của minh, đạo Phật đã kết hợp với tín ngưỡng, tập tục,
dân gian, văn hố bản địa để hình thành rất nhiều tơng phái và học phái, có tác động
vơ cùng quan trọng với đời sống xã hội và văn hoá của rất nhiều quốc gia.
2. Giáo lý cơ bản
Cơ sở tư tưởng của Phật pháp là Tứ diệu đế, là cốt lõi giáo pháp của đạo Phật,
và cũng là điều mà Phật đã chứng ngộ lúc đạt đạo. Bốn chân lý này chính là câu trả
lời cho câu hỏi của thời đại đó, là: Tại sao con người cứ bị trói buộc trong ln hồi và
liệu con người có cơ hội thốt khỏi nó hay khơng.
Tứ diệu đế là:
- Khổ đế : chân lý về sự Khổ: Chân lí thứ nhất cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang
tính chất khổ não, khơng trọn vẹn. Sinh, lão bệnh, tử, xa lìa điều mình ưa thích,
khơng đạt sở nguyện, đều là khổ. Sâu xa hơn, bản chất của năm nhóm thân tâm,
Ngũ uẩn, là các điều kiện tạo nên cái ta, đều là khổ.
- Tập đế : chân lí về sự phát sinh của khổ: Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn,
Ái , tìm sự thoả mãn dục vọng, thoả mãn được trở thành, thoả mãn được hoại diệt.
Các loại ham muốn này là gốc của Luân hồi.
- Diệt đế : chân lí về diệt khổ: Một khi gốc của mọi tham ái được tận diệt thì sự
khổ cũng được tận diệt.
- Đạo đế : chân lí về con đường dẫn đến diệt khổ: Phương pháp để đạt sự diệt khổ là
con đường diệt khổ tám nhánh, Bát chính đạo. Khơng thấu hiểu Tứ diệu đế được
gọi là Vô minh.
4
Phật xác nhận ba đặc tướng của cuộc đời là vơ thường, vơ ngã và vì vậy mà
con người phải chịu khổ. Nhận thức ba dấu ấn đặc trưng này của sự vật đồng nghĩa
bước đầu đi vào đạo Phật.
Khổ được giải thích là xuất phát từ ái và vơ minh, và một khi dứt được những
ngun nhân đó thì ta có thể thốt khỏi vịng sinh tử (hữu ln). Cơ chế làm cho
chúng sinh còn vướng mãi trong vòng sinh tử được đạo Phật giải thích bằng thuyết
Duyên khởi. Chấm dứt luân hồi, vòng sinh tử đồng nghĩa với việc chứng ngộ Niếtbàn. Theo Tứ diệu đế, con đường dẫn đến Niết-bàn là Bát chính đạo.
Giáo pháp đạo Phật được tập hợp trong Tam tạng, bao gồm:
- Kinh tạng : bao gồm các bài giảng của chính đức Phật hoặc các đại đệ tử. Kinh
tạng tiêu biểu văn hệ Pali được chia làm năm bộ: 1. Trường bộ kinh, 2. Trung bộ
kinh, 3. Tương ưng bộ kinh, 4. Tăng chi bộ kinh và 5. Tiểu bộ kinh .
- Luật tạng : chứa đựng lịch sử phát triển của Tăng-già cũng như các giới luật của
người xuất gia, được xem là tạng sách cổ nhất, ra đời chỉ vài mươi năm sau khi
Phật nhập Niết-bàn.
- Luận tạng : cũng được gọi là A-tì-đạt-ma—chứa đựng các quan niệm đạo Phật về
triết học và tâm lí học. Luận tạng được hình thành tương đối trễ, có lẽ là sau khi
các trường phái đạo Phật tách nhau mà vì vậy, nó khơng cịn giữ tính chất thống
nhất.
3. Nội dung của thuyết Nhân – Quả
a. Khái niệm Nhân Quả
Nhân là nguyên nhân, là cái hạt (hạt nhân), là năng lực phát động để một sắc,
một pháp được hình thành.
5
Quả là kết quả, là cái mầm, là sự hiện hữu của một sắc, một pháp của năng lực
phát động ấy.
Tất cả các pháp hiện hữu trong hiện tượng giới đều có mối tương quan mật
thiết. Chúng vừa làm nhân vừa làm quả, xoắn lấy nhau, tiếp nối nhau, nương vào
nhau mà có. Nói cách khác, mối tương quan nhân quả chính là tương quan Dun
Sinh. Trong đó, một pháp hiện hữu làm nhân chính (nhân trực tiếp). Nhân chính này
muốn phát động cần phải có những nhân phụ (nguyên nhân xa) hổ trợ, giúp cho nhân
chính phát triển. Trong nhà Phật gọi những nhân phụ này là duyên. Để một pháp
được hình thành thì Duyên là một yếu tố khơng thể thiếu. Do đó, nhân quả là cách
nói lược của Nhân - Duyên - Quả.
b. Các đặc tính của Nhân – Quả
* Một nhân không sinh ra quả: Như trên đã trình bày, sự hình thành từ nhân
đến quả cịn có nhiều yếu tố dun xen vào. Tuy nói duyên là nguyên nhân phụ,
nguyên nhân xa, nhưng nó có thể chi phối , hoán đổi cái quả theo một chiều hướng
khác.
* Nhân thế nào thì quả thế ấy: Một người nơng phu muốn có lúa ăn thì phải
gieo hạt lúa, không thể nào trồng cây cam mà được hạt lúa. Một người học trị muốn
thi đậu thì phải chăm chỉ học bài, thuộc bài, không thể chơi bời, leo lỏng suốt ngày
mà trở thành học trò giỏi được. Nhân và quả bao giờ cũng đồng loại với nhau, hễ
nhân đổi thì quả cũng đổi.
* Trong nhân có quả, trong quả có nhân: Nói đến nhân tức là nói đến một sự
vật ở nguyên thể của nó, chưa nhận sự tác động của duyên để biến chuyển thành một
cái quả mà ta quan niệm. Nói đến quả là nói đến một sự vật đã chịu sự tác động của
các duyên, biến chuyển và hình thành một trạng thái mà ta mong đợi. Mỗi sự vật đều
vừa là nhân cho một sự vật ở tương lai, vừa là quả cho cái nhân quá khứ. Ví như hạt
6
đậu là cái nhân cho cây đậu trong tương lai, nếu hạt đậu đó được gieo trồng. Hạt đậu
ấy cũng chính là kết quả của những cây đậu trong quá khứ. Nhân và quả tiếp nối
nhau, đắp đổi nhau như những vịng khoen sanh diệt khơng cùng.
* Sự phát triển mau và chậm từ nhân đến quả:
Sự biến chuyển từ nhân đến quả khơng có một chu kỳ về thời gian nhất định
cho bất cứ một sắc, một pháp nào. Đứng về phương diện thời gian mà phân định thì
có hai loại: nhân quả đồng thời và nhân quả khác thời.
Nhân quả đồng thời: Là loại nhân mà thời gian từ nhân đến quả rất nhanh. Như
tay vừa đánh vào mặt trống thì tiếng trống phát ra; đưa mồi lửa vào đống rơm thì rơm
liền bốc cháy.
Nhân quả khác thời: Khác thời là cách một khoảng thời gian từ khi gieo nhân
cho đến lúc nhận kết quả. Nhân quả khác thời được chia làm ba loại:
- Hiện báo: Nghĩa là nghiệp nhân gây ra trong đời hiện tại và thọ lãnh kết quả
ngay trong đời này
- Sanh báo: Tức là tạo nhân thiện, bất thiện trong đời này nhưng đến đời sau mới
thọ quả báo.
- Hậu báo: Tức là tạo nhân đời này nhưng trải qua nhiều đời sau mới thọ quả
báo.
Ba chu kỳ thọ báo bất đồng trên tùy thuộc rất nhiều vào yếu tố duyên, dẫn đến
kết quả được gọi là định nghiệp hay bất định nghiệp. Duyên ở đây chỉ cho sự tác
động bởi yếu tố tâm lý nhiều hơn là vật lý. Nói cách khác, yếu tố tâm lý can thiệp vào
nghiệp nhân có sai khác nên dẫn đến nghiệp quả cũng sai khác. Dù quả báo đến
nhanh hay chậm, định nghiệp hay bất định nghiệp, thì nó cũng là định luật mà tất cả
chúng sanh khơng ai có thể thốt khỏi.
7
II. GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG THUYẾT NHÂN QUẢ
Về phương diện vật chất: Thân tứ đại là do hấp thụ khí huyết của cha mẹ, và
do hồn cảnh ni dưỡng. Vậy cha mẹ và hoàn cảnh là nhân, người con trưởng thành
là quả và cứ tiếp nối vậy mãi, nhân sanh quả, quả sanh nhân không bao giờ dứt.
Về phương diện tinh thần: Những tư tưởng và hành vi trong q khứ tạo cho
ta những tính tình tốt hay xấu, một nếp sống tinh thần trong hiện tại; tư tưởng và
hành động q khứ là nhân, tính tình, nếp sống tinh thần trong hiện tại là quả. Tính
tình và nếp sồng này làm nhân để tạo ra những tư tưởng và hành động trong tương lai
là quả. Phương diện tinh thần này, hay nói theo danh từ nhà Phật, phương diện nội
tâm, là phần quan trọng.
1. Thuyết nhân quả đề cao giá trị con người
Hơn bao giờ hết, tính triết lý nhân quả của Đạo Phật đã đặt trách nhiệm, vai trò
giá trị của mỗi cá nhân lên hàng đầu. Khơng một tơn giáo nào có được một tinh thần
cởi mở và phóng khống như Đạo Phật. Vì phần lớn các tơn giáo khác đều đặt nặng
tính thần quyền, ban phúc của một đấng giáo chủ tối cao của mình. Với Đạo Phật
ln tơn trọng tính chất quan trọng của tự thân. Đức phật luôn khẳng định quan điểm
“Ngài chỉ là người dẫn đường” chứ không hề tham dự chức năng quyết định. Con
người là trung tâm điều hành chi phối mọi hành động và mọi hành động của con
người đều đựoc hình thành trên nền tảng tâm thức. Tính nhân qủa trong Phật Giáo đặt
ra vấn đề trách nhiệm của cá nhân , bởi con người vừa là chủ nhân của nghiệp và
cũng vừa là kẻ thừa tự của nghiệp.
Trong xã hội cũng vậy, khơng có trách nhiệm cá nhân thì khơng có sự hình
thành của luật pháp. Do vậy, con người phải có trách nhiệm đối với những hành động
mà mình đã làm cho tự thân, cho gia đình và xã hội. Nói theo ngơn ngữ thế gian thì
8
mình làm mình chịu chứ khơng thể lơi kéo một cá nhân nào khác đứng lên gánh chịu
trách nhiệm cho mình, và cũng khơng thể có cái gọi là “Đời cha ăn mặn, đời con khát
nước” trong triết lý nhân quả của Đạo phật.
Theo Phật Giáo, hạnh phúc hay khổ đau không phải là chuyện ngẫu nhiên từ
trên trời rơi xuống hay từ lịng đất vọt lên, lại càng khơng phải do sự thưởng phạt,
ban ân của thượng đế hay một năng lực siêu hình nào khác. Hạnh phúc hay khổ đau
đều do nơi chính con người định đoạt, trong đó yếu tố nhân duyên cũng góp phần
quan trọng.
Trên cơ sở nhân quả, cũng như trên quan niệm luân lý đạo đức của Phật Giáo
thì thiện là những gì đem lại lợi ích cho mình và người trong hiện tại và tương lai
theo hướng ly tham, ly sân, ly si, không ghanh ghét, không đố kỵ, không gây tổn hại.
Trái lại với quan niệm trên được xem như là bất thiện. Ở góc độ nhìn nhận của xã
hội, ta có thể tạm hiểu những khái niệm như công bằng, nhân đạo, chí cơng, vơ tư,
cần, kiệm, liêm, chính, khơng tham nhũng, không hối lộ, không tham đắm vào các tệ
nạn xã hội . . . được xem là thiện. Hiểu được điều đó tự thân mỗi chúng ta cần nổ lực
phát tâm hành thiện theo phương châm “tránh các điều ác, làm các việc thiện”. Việc
làm cũng ấy đồng nghĩa với hành động tích cực tham gia các hoạt động xã hội với
ước vọng mang lại niềm vui, hạnh phúc cho tha nhân, cộng đồng xã hội.
Trong giáo lý nhân quả, giá trị con người không chỉ được đề cao ở vai trò và
trách nhiệm mà con người còn có khả năng làm thay đổi nghiệp cũ (chuyển nghiệp).
Đây là một đặc tính hết sức nhân bản trong giáo lý nhân quả của Đạo Phật. Nó cho
phép con người có được một khả năng hướng thượng. Con người biết khắc phục sửa
chữa cái xấu, cái ác trở thành cái hay cái đẹp. Đây là một đặc tính khác biệt giữa con
người với những lồi vật khác. Điều đó càng được khẳng định và làm cho sáng tỏ
hơn thông qua triết lý nhân quả của Phật giáo. Tính nhân văn trong triết lý nhân quả
không phải là nhằm lý giải cái nhân cái quả khiến cho con người trở nên lo sợ hay
9
trốn chạy, mà nó mang đến cho con người những cơ hội để tự mình khắc phục những
sai lầm trong q khứ và xây dựng cho chính mình một đời sống an vui và hạnh
phúc.
Luật nhân quả đem lại lòng tin tưởng vào chính con người: Khi đã biết cuộc
đời là do nghiệp nhân của chính mình tạo ra, mình là người thợ tự xây dựng đời
mình, mình là kẻ sáng tạo, mà khơng tin tưởng ở mình thì cịn tin tưởng ở ai nữa?
Lòng tự tin ấy là một sức mạnh vơ cùng q báu, làm cho con người dám hoạt động,
dám hy sinh, hăng hái làm điều tốt, vì những hành động tốt đẹp ấy, ho biết sẽ là
những cái nhân quí báu đem lại những kết quả đẹp đẽ.
Luật nhân quả làm cho chúng ta không chán nản, khơng trách móc: Người hay
chán nản, hay trách móc, là vì đã đặt sai lịng tin của mình, là vì đã có thói quen ỷ lại
ở kẻ khác, là vì đã hướng ngoại. Nhưng khi đã biết mình là động lực chính, là nguyên
nhân chính của mọi thất bại hay thành cơng, thì cịn chán nản trách móc ai nữa? Đã
biết mình là quan trọng như thế chỉ cịn lo tự sửa mình, lo thơi gieo nhân xấu để khỏi
phải gặt quả xấu, thôi tạo giống ác để khỏi mang quả ác.
Luật nhân quả hướng con người vào con đường đạo đức : Mặc dù hoàn cảnh
hiện tại của chúng ta được quyết định bởi những hành vi trong quá khứ, nhưng chúng
ta vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hành động của chúng ta trong hiện tại. Chúng ta
có khả năng và trách nhiệm để chọn lựa phương cách nhằm hướng dẫn mọi việc làm
của chúng ta đi theo con đường đạo đức. Khi chúng ta cân nhắc một hành động nào
đó xem xét có hợp với đạo lý hay khơng, chúng ta nên tìm hiểu động cơ thúc đẩy của
hành vi ấy. Một người lấy quyết định khơng trộm cắp, nếu anh ta chỉ vì sợ bị bắt hay
trừng phạt bởi luật pháp, vậy thì hành động không trộm cắp của anh ta không phải là
một việc làm đạo đức bởi lẽ những ý tưởng đạo đức khơng tác động lên quyết định
của anh ta. Một ví dụ khác, một người khơng dám trộm cắp vì sợ dư luận: “Nếu
mình trộm cắp thì bạn bè hay hàng xóm sẽ nghĩ sao về mình? Chắc mọi người sẽ
10
khinh bỉ và mình sẽ bị xã hội ruồng bỏ”. Mặc dù đó được xem như một quyết định
tích cực nhưng nó vẫn khơng phải là một hành vi đạo đức. Bây giờ, một người cũng
có quyết định là sẽ khơng trộm cắp vì anh ta suy nghĩ rằng: “Nếu ta trộm cắp tức là ta
đã hành động chống lại luật của trời đất và trái với đạo làm người:”. Hoặc là: “Trộm
cắp là một việc làm ác, nó gây cho nhiều người khác bị tổn thất và đau khổ”. Với
những động cơ suy nghĩ như vậy, quyết định của anh ta được xem như một hành vi
đạo đức, hợp luân thường đạo lý. Theo giáo lý đức Phật, khi bạn suy nghĩ cân nhắc
tránh không làm các hành động ác thì bạn sẽ khắc phục được những phiền não khổ
đau. Sự kiềm chế đó của bạn được xem như một việc làm đạo đức.
2. Thuyết nhân quả loại bỏ các tiêu cực xã hội
Trong xã hội sự tồn tại giữa cái thiện và cái ác là một quy luật tất yếu. Đời
sống con người không phải chỉ thuần khổ, thuần lạc hay thuần phi khổ phi lạc mà là
một quá trình đan xen lẫn lộn. Trên cơ sở nhân quả nghĩa là trên căn bản thiện về
quan niệm luân lý đạo đức của Phật Giáo, người viết muốn đưa ra một số khuynh
hướng sai lầm, quan niệm tiêu cực đang tồn tại trong lịng xã hội. Ở đây, tính triết lý
nhân quả góp phần xóa bỏ những quan niệm tiêu cực ấy.
Qua những gì tìm hiểu trên, trước hết lý nhân quả không đồng quan điểm với
cái gọi là thiên mệnh hay định mệnh. Bởi những quan niệm sai lầm ấy đã khiến cho
bao con người trở nên thụ động. Họ cho rằng những gì mình có được ngày hôm nay
đều là do sự tác động chi phối của ơng trời. Dù mình có cố gắng đến đâu đi nữa thì
nghèo vẫn là nghèo, khổ vẫn là khổ, vì “số trời đã định”. Thế nhưng khi đựơc hỏi ông
trời là ai ? thì con người khơng sao lý giải được. Với nhận định sai lầm ấy, chúng ta
lại vô tình tiếp tay cho những hành động sai quấy. Ta khơng thể ngồi đó trơng chờ
một kết quả tốt lành đưa đến, lại càng không thể khoanh tay trước cái gọi là số phận
11
an bài. Hành động như vậy chẳng khác nào ta đang hạ thấp giá trị con người giữa một
thế giới bao la vũ trụ.
“Giáo lý nhân quả do đó, một mặt vừa chi rõ con đường sanh tử của con người
để tránh, vừa khích lệ con người hành thiện. Mặt khác, dạy con người ý thức trách
nhiệm, sống không ỷ lại, không chạy trốn, không đổ lỗi, không cầu xin. Đây là tinh
thần giáo dục rất lành mạnh và tích cực trong việc giáo dục một con người tốt ở cả
hai mặt cá nhân và xã hội”
3. Thuyết nhân quả xây dựng truyền thống đạo đức dân tộc
Đất nước Việt nam, một đất nước vốn mang truyền thống đạo đức dân tộc, một
truyền thống gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước. Trãi qua mấy nghìn năm
lịch sử, nền văn hóa của dân tộc Việt nam vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ suối nguồn
đạo lý Phật Giáo.
Triết lý nhân quả góp phần xây dựng tinh thần đồn kết dân tộc, một trong
những sức mạnh đóng vai trị quyết định trong cơng cuộc giữ vững nền độc lập đất
nước. Ý thức được giá trị của tự thân, vai trò và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong
xã hội, dân tộc Việt nam đã liên kết cùng nhau xây dựng thành một khối đại đoàn kết
vững mạnh. Giáo lý nhân quả đã dạy cho con người Việt nam thấy rằng muốn giữ
vững nền hịa bình độc lập của đất nước thì tự thân mỗi cá nhân trong xã hội phải nổ
lực phấn đấu, khơng ngồi đó trơng chờ hạnh phúc. Một đất nước tuy nhỏ, một nền
kinh tế cịn nghèo và lạc hậu nhưng khơng vì thế mà dân tộc Việt nam cảm thấy tự ti
mặc cảm, hay chấp nhận một quá khứ đau thương như là định mệnh. Trong hoàn
cảnh ấy, mỗi con người Việt nam càng ý thức vai trò và trách nhiệm thiêng liêng
trọng đại của mình, để cùng nhau góp phần kiến tạo một đất nước giàu mạnh trong
tinh thần đoàn kết dưới sự soi sáng của triết lý nhân quả. Đoàn kết ở đây khơng có
12
nghĩa là kích động chiến tranh hận thù mà chính là kêu gọi hịa bình nhân ái. Giá trị
to lớn của giáo lý nhân quả là hướng dẫn con người sống sao cho tốt, hành động sao
cho thiết thực và có ý nghĩa đối với tự thân, với gia đình và xã hội. Theo tinh thần
của Đạo Phật, đoàn kết còn mang một ý nghĩa cao đẹp và rộng mở hơn đó là xa lìa lối
sống vị kỷ hẹp hịi.
III. KẾT LUẬN
Qua những điều trình bày trên, ta thấu hiểu giáo lý nhân quả một cách thật
sáng tỏ, nhất là đời sống của mỗi con người không phải là một định mệnh đã được an
bài như nhiều người lầm tưởng. Giáo lý nhân quả dạy cho ta bài học quý giá để tự
mỗi cá nhân xây dựng cho mình một đời sống an lành hạnh phúc dựa trên chất liệu tự
thân.
Một khi tin hiểu sâu sắc về luật nhân quả con người sẽ trở nên rộng lượng bao
dung, ơn hịa, dễ mến. Bấy giờ con người sẵn sàng động viên chia sẽ cho nhau trong
mọi hoàn cảnh sống. Họ hiểu rằng đem đến cho người những điều bất hạnh thì tự
thân sẽ đón nhận những nghiệp quả khổ đau. Bằng ngược lại, mang đến cho người
những điều an vui hạnh phúc thì tự thân sẽ được nhiều điều lợi lạc. Như trong Nho
gia có câu “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” cũng hàm chứa ý nghĩa trên. Cái điều mà
mình khơng muốn thì cũng đừng mang đến cho người khác.
Qua đó, ta cũng thấy được giá trị nhân văn sâu sắc của đạo lý Phật học nói
chung, và thuyết nhân quả nói riêng. Và mỗi chúng ta cần áp dụng nó vào đời sống
một cách thiết thực và có ý nghĩa nhất. Trong mọi cử chỉ nói năng hay hành động
điều phát xuất từ những suy nghĩ thiện. Điều đó cũng có nghĩa là trước khi làm một
việc gì chúng ta phải nghĩ đến hậu quả của nó sẽ mang lại cho người khác hạnh phúc
hay khổ đau. Nếu hạnh phúc ta nên phát huy, nếu khổ đau ta nên đoạn tận.