TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
Luận chứng giá trị nhân văn trong quan điểm
quản lý xã hội của Nho gia
Học viên
: Vũ Ngọc Hương
Lớp
: EMBA 11C
Hà Nội, 11/2012
LỜI MỞ ĐẦU
Nho giáo là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội, trong đó
Khổng Tử và các học trị nhấn mạnh để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan
trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - quân tử. Thuyết
về quản lý thế giới và làm lợi cho dân của Nho gia là một phần của văn hóa
Trung Hoa truyền thống vốn rất sâu sắc. Nó đã tự thiết lập cho mình những lý
tưởng về đạo đức và hệ thống tiêu chuẩn giá trị, giúp gìn giữ các tiêu chuẩn
đạo đức của xã hội ở một mức khá cao. Hiện nay một số nội dung của Nho
gia đã khơng cịn phù hợp và bộc lộ một số mặt hạn chế, tuy nhiên không thể
phủ nhận những giá trị nhân văn mà nó chứa đựng. Vì vậy, em xin chọn đề tài
tiểu luận là: “Luận chứng giá trị nhân văn trong quan điểm quản lý xã hội của
Nho gia”
1
I. Một số điểm về Nho giáo
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Nho giáo
Nho giáo còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết
lý và tôn giáo do Đức Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị.
Nho giáo rất phát triển ở các nước Đông Á. Cơ sở của Nho giáo được hình
thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Cơng Đán, cịn gọi
là Chu Cơng. Đến thời Xn Thu, xã hội loạn lạc, Đức Khổng Tử (sinh năm
551 trước công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và
tích cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì thế mà người đời sau coi ngài là
người sáng lập ra Nho giáo (theo wikipedia.org)
Thời Xuân Thu, Đức Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích
bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân
Thu và Kinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh
thường được gọi là Ngũ kinh. Sau khi Đức Khổng Tử mất, học trò của ngài
tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò xuất sắc nhất của
Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách
Đại học. Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết
ra cuốn Trung Dung. Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà
sau này học trị của ơng chép thành sách Mạnh Tử. Từ Khổng Tử đến Mạnh
Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước
đời Tần), Khổng giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh". Từ đây mới hình thành
hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia. Nho gia mang tính học thuật, nội dung
của nó cịn được gọi là Nho học. (theo wikipedia.org)
2. Nội dung cơ bản của Nho học
Nho học là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để tổ chức xã
hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị
kiểu mẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử. (quân là kẻ làm vua, quân tử là
chỉ tầng lớp trên trong xã hội, phân biệt với "tiểu nhân", những người thấp
2
kém về điạ vị xã hội; sau Khổng Tử dùng từ "quân tử" để chỉ phẩm chất đạo
đức: "Quân tử sở tính nhân nghĩa lễ trí" phân biệt với "tiểu nhân" là những
người thiếu đạo đức). Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải
"tự đào tạo", phải "tu thân". Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn
phận phải "hành đạo" (Đạo khơng đơn giản chỉ là đạo lí. Đạo ở đây là con
đường để hồn thiện chính mình, hồ hợp đất trời trở về bản ngã “bổn thiện”).
Trong cuốn Đại học (Một trong những cuốn sách chính của Nho giáo) có ghi
chép , “Khi bản thân tu luyện, gia tộc hài hòa. Khi gia tộc hài hòa, đất nước
mới được thịnh trị. Khi đất nước được thịnh trị, khắp nơi sẽ thái bình. Từ bậc
quân vương cho đến kẻ dân thường trăm họ, tất cả phải coi tu luyện bản thân
là điều quan trọng nhất” (theo wikipedia.org)
II. Luận chứng giá trị nhân văn trong quan điểm quản lý xã hội của Nho
gia
1. Tư tưởng “Đức trị” của Khổng Tử
1.1. Quan niệm về "Đức" và đường lối Đức trị:
Quan niệm về Đức là cơ sở quan trọng tạo nên tư tưởng đức trị của
Khổng Tử. Quan niệm về "đức" của Khổng Tử trong "Luận ngữ" rất sâu sắc
và phong phú. Khổng Tử coi đức là gốc của con người, coi hiếu, lễ là gốc của
đức: "Làm người có nết hiếu đễ thì ít ai dám xúc phạm bề trên. Khơng thích
xúc phạm bề trên mà thích làm loạn thì chưa từng có. Người qn tử chăm
chú vào việc gốc, gốc mà vững thì đạo đức sinh ra. Hiếu, đễ là cái gốc của
đức nhân..."( Trích Luận Ngữ – NXB Văn Học). Đức không chỉ là thiện đức
mà chủ yếu là hành động, là lời nói đi đơi với việc làm: "Người xưa thận
trọng lời nói, sợ sẽ xấu hổ nếu nói mà khơng làm được"( Trích Luận Ngữ –
NXB Văn Học). Khổng Tử quan niệm đức với tài phải đi đôi với nhau, nhưng
đức phải là gốc.
Lòng tin mãnh liệt vào thiện đức của con người chính là cơ sở của đường
lối đức trị Khổng Tử. Khổng Tử quan niệm: "Làm chính trị (trị dân) mà dùng
3
đức (để cảm hố dân) thì như sao Bắc Đẩu ở một nơi mà các ngôi sao khác
hướng về cả (tức thiên hạ về theo)" ( Trích Luận Ngữ – NXB Văn Học).
Trước sau Khổng Tử vẫn tin rằng: "dùng chính lệnh để dẫn dắt dân, dùng
hình phạt để bắt dân vào khuôn phép, dân tránh khỏi tội nhưng không biết hổ
thẹn. Dùng đạo đức để dắt dẫn dân, dùng lễ giáo để đặt dân vào khuôn phép,
dân biết hổ thẹn mà lại theo đường chính" ( Trích Luận Ngữ – NXB Văn
Học).
Đức Khổng Tử nêu lên Ngũ thường (gồm có nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) với
thuyết chính danh và chữ “Nhân” để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính
trị và an sinh xã hội. Trong đời mình, dù là luận thuyết việc trị nước cứu đời
hay dạy học, đào tạo nhiều lớp môn sinh tài đức, thì trước sau Khổng Tử đều
nói nhiều đến đức nhân. Khổng Tử coi "nhân" là đức căn bản nhất của con
người cả về xử thế lẫn tu thân, và bao gồm gần đủ các đức khác.
"Nhân" vừa là tu thân, vừa là ái nhân, lại vừa là xử kỷ vừa là tiếp vật, là
trung (yêu người, hết lòng với người) và thứ (làm cho người những cái mình
muốn và đừng làm cho người những cái mình khơng muốn). Điều quan trọng
nhất trong tư tưởng về "nhân" là biểu hiện về mặt chính trị của nó. Có lẽ với
Khổng Tử thái độ đối với dân là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá đức
nhân của người cầm quyền: "Sai khiến dân thì phải thận trọng như trong một
cuộc tế lớn, cái gì mình khơng muốn thì đừng làm cho người". Trong nước
khơng ai ốn mình, trong "nhà" một đại phu khơng ai ốn mình" ( Trích Luận
Ngữ – NXB Văn Học). Ơng từng nói "Tài trí đủ để trị dân (có người hiểu là
đủ để biết mọi lẽ) mà khơng biết dùng đức nhân để giữ dân, thì sẽ mất dân..."
(Trích Luận Ngữ – NXB Văn Học).
“Nghĩa” là tồn ngã hợp thành, chữ toàn là trọn, chữ ngã là ta, hợp lại
thành chữ nghĩa, làm người giữ trọn cùng ta thì nên nghĩa, cịn chẳng trọn
cùng ta là thất nghĩa. Muốn thật hành chữ nghĩa, thì phải noi theo câu: “Kỷ sở
bất dục vật thi ư nhơn”. Những việc gì ta chẳng muốn ai làm cho ta chịu đau
4
khổ thảm sầu thì ta khơng nên đem các điều ấy mà làm cho người khác, mới
là trọn nghĩa. Trong cách xử thế, cái Nghĩa là quan trọng nhất, nó dẫn dắt con
người đến đạo đức. Nghĩa phải đi liền với Nhân, có Nhân mà khơng có Nghĩa
thì đạo đức thiếu hình thức, cịn có Nghĩa mà thiếu Nhân thì đạo đức thiếu
tinh thần. Mọi sự đều phải có nghĩa, thì mới đủ tư-cách làm người cao trọng.
Sau Nhân, Khổng tử quan tâm nhiều đến "Lễ", bởi “Lễ” cần thiết để duy
trì trật tự xã hội, và có trật tự xã hội thì vua mới được tơn, nước mới được trị.
Mặt khác, lễ có nội dung luân lý của nó, trong mối quan hệ chặt chẽ không
tách rời với nhân. Khổng Tử xem điều lễ là hình thức của nhân, là chính đạo
mà mọi người nên thi hành, cịn nếu con người chạy theo dục vọng của mình
mà trái ngược với chính đạo tức là trái ngược với điều nhân. Vì vậy, người
cầm quyền phải giữ lễ: "Vua khiến bề tôi phải giữ lễ, bề tôi thờ vua phải trung
(hết lịng)" (Trích Luận Ngữ – NXB Văn Học). Đáng chú ý là, trong quan
niệm của Khổng Tử lễ chỉ quan trọng khi gắn bó với điều nhân, là biểu hiện
của nhân. Nếu tách rời nhân thì lễ chỉ là vơ nghĩa. "Người khơng có đức nhân
thì lễ mà làm gì?" (Trích Luận Ngữ – NXB Văn Học). Thật vậy khơng có
lịng nhân thì lễ mà làm gì? Nhà cầm quyền khơng có đức nhân thì lễ chỉ càng
làm thủ cựu, càng làm nghiệt ngã và tàn khốc.
Chữ Trí là gồm chữ tri trên, bạch dưới, chữ tri là biết, chữ bạch là trắng,
làm người phải biết giữ lòng thanh bạch, chẳng cho nhiễm vào một điểm nhơ
ố vạy tà, mới gọi là hạng người trí thức. Bậc trí thức tính lưu thông như nước,
mọi sự đều rõ biết, cư xử việc gì cũng được phân minh, chẳng khi nào phạm
vào luật pháp.
Chữ Tín là nhân bằng chữ ngơn, nhân là người ngơn là lời nói. Làm
người mọi điều thốt ra, phải giữ sự chơn thật thì mới đủ lịng tín nhiệm của
quần chúng, nếu việc khơng mà nói có, việc có lại nói khơng, thì chẳng cịn ai
tín dụng. Người ở đời mà thất tín thì chẳng làm gì nên danh phận. Nên có câu:
“Nhân vơ tín như xa vơ ln”. Người mà khơng thành tín thì cũng như chiếc
5
xe khơng có bánh, chẳng hề cử-động được nữa. Lại có câu: “Nhân vơ tín bất
lập”. Người khơng giữ trịn câu tín nghĩa thì chẳng lập nên danh thể trường
tồn, mà cũng khơng đứng vững trên mặt thế.
1.2. Chính sách trị dân
Tư tưởng “Đức trị” của Khổng tử còn thể hiện ở quan niệm coi nhẹ
chính hình và giảm bớt sưu thuế cho dân, đề cao vai trò của dân. Khổng Tử
quan niệm: "Khơng giáo hố dân để dân phạm tội rồi giết, như vậy là tàn
ngược" ( Trích Luận Ngữ – NXB Văn Học). Khổng Tử chủ trương giảm hình,
coi nhẹ hình cịn vì ơng thật sự khơng bao giờ tin vào bá đạo: "có thể (dùng
sức mạnh) bắt được một vị ngun sối, chứ chí hướng của một thường dân
thì khơng (dùng sức mạnh mà) đoạt nổi ( Trích Luận Ngữ – NXB Văn Học).
Khổng Tử cho việc thi ân rộng rãi cứu giúp dân chúng là sự nghiệp của thánh
vương mà Nghiêu, Thuấn chưa chắc đã làm được như vậy. Dưỡng dân, theo
Khổng Tử trước hết phải làm cho dân no đủ, giàu. Ông coi trọng việc dưỡng
dân hơn việc bảo vệ xã tắc và hơn cả việc giáo hoá dân nữa.
Để thực thi đường lối đức trị, đương nhiên cần phải có một mẫu người
cầm quyền thích hợp. Đó là mẫu người qn tử với những tiêu chuẩn về tài
đức nhất xứng đáng được nắm quyền trị dân. Đức của người quân tử là "lấy
nghĩa làm gốc, theo lễ mà làm, nói năng khiêm tốn, nhờ thành tín mà nên
việc" ( Trích Luận Ngữ – NXB Văn Học), "sửa mình để cho trăm họ n trị".
Có thể khẳng định đường lối đức trị của Khổng Tử "lấy đạo nhân làm
gốc, lấy hiếu - đễ, lễ - nhạc làm cơ bản cho sự giáo hoá, lấy việc thực hiện
chính sách "thân dân" làm cơ sở; lấy tư cách phẩm chất mẫu mực của người
cầm quyền làm gương để thực hiện "Đức trị", "Lễ trị", "Nhân trị" nhằm tạo
lập một xã hội phong kiến theo điển chế có trật tự, tôn ti.
Quan niệm về đức trị của Khổng Tử có nhiều ý tưởng sâu sắc và phong
phú. Những quan niệm đó thể hiện lịng tin ở tính thiện của con người và chủ
trương bồi dưỡng, phát huy thiện đức của con người. Từ quan niệm về đức
6
Khổng Tử đi sâu bàn luận về nhân, lễ làm cơ sở cho đường lối đức trị của
mình. Các nhà tư tưởng Nho giáo về sau đều coi tư tưởng về đức của Khổng
Tử là nền tảng của đường lối đức trị. Quan niệm về đức của Khổng Tử không
chỉ có ý nghĩa đối với xã hội cổ đại đương thời mà cịn có ý nghĩa đối với xã
hội ta ngày nay. Trong bối cảnh xã hội đang chịu nhiều tác động tiêu cực từ
mặt trái của cơ chế thị trường hiện nay, rất cần trở lại với những giá trị đạo
đức truyền thống trong đó có tư tưởng đức trị Nho giáo. Quan niệm đức là
gốc của con người và thiện đức phải biểu hiện ở hành động của Khổng Tử
vẫn còn nguyên giá trị và rất cần được tuyên truyền giáo dục rộng rãi trong xã
hội ta ngày nay.
3. Quan điểm “Đức trị” của Mạnh Tử
Mạnh Tử, tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, sinh vào đời vua Liệt
Vương, nhà Chu, thời đại Chiến quốc. Mạnh Tử làm môn sinh của Tử Tư, tức
là Khổng Cấp, cháu nội của Khổng Tử. Vì vậy, ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ
các tư tưởng Khổng giáo. Mạnh Tử là đại biểu xuất sắc của Nho giáo thời
chiến quốc, thời kỳ nở rộ các nhà tư tưởng lớn với các trường phái như Pháp
gia, Du thuyết, Nho gia, Mặc gia...(thời kỳ bách gia tranh minh) và cũng là
thời kỳ mà các tập đoàn phong kiến tranh giành, xâu xé lẫn nhau gây ra các
cuộc chiến tranh liên miên, dân tình vơ cùng khổ sở . Tư tưởng của Mạnh Tử
phát triển thêm tư tưởng của Khổng Tử nhưng ơng khơng tuyệt đối hóa vai trị
của ơng vua như Khổng Tử, ông chủ trương dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân
vi khinh, ông cũng là người đưa ra thuyết tính thiện của con người rằng con
người sinh ra đã là thiện rồi nhân chi sơ bản tính thiện, tư tưởng này đối lập
với thuyết tính ác của Tuân Tử rằng nhân chi sơ bản tính ác. Ơng cho rằng "kẻ
lao tâm trị người cịn người lao lực thì bị người trị". Học thuyết của ơng gói
gọi trong các chữ "Nghĩa", "Trí", "Lễ", "Tín". Mạnh Tử đề xuất tư tưởng
người qn tử phải có "Hạo nhiên chính khí", cần "Lấy Đức thu phục người
khác", "Người nhân từ khắp thiên hạ khơng có kẻ thù nào".
7
2.1. Đề cao sức mạnh nhân nghĩa
Mạnh Tử cũng đã kế thừa và phát triển tư tưởng của Khổng Tử về "tính
tương cận, tập tương viễn" và đi đến luận điểm nổi tiếng: "Nhân tính chi thiện
giã" (cái bản tính của người ta vốn thiện). Mạnh Tử cho rằng bản tính của con
người lúc ban đầu là Thiện, Đức của một người là quà tặng của thiên thượng
(Trời), và được liên thơng với thiên thượng. Mọi người đều có bản chất tốt và
đạo đức, và nếu một người thủ đức và nỗ lực tu thân, anh ta có thể trở thành
người giống như các vị vua Nghiêu, vua Thuấn.
Từ đó ông khẳng định sức mạnh vô địch của nhân nghĩa: "Đối với người
nhân dẫu kẻ địch có đơng cũng chẳng làm gì được mình. Này, nếu một vị
quốc qn thích làm nhân chính, trong thiên hạ chẳng ai địch nổi" ( Trích Tứ
Thơ, Thượng Mạnh Tử - in tại nhà in riêng Trí Đức Tịng Thơ ). Khơng ai
địch nổi người nhân đức là ý niệm chính trị mà Mạnh Tử suốt đời tin tưởng
theo đuổi. Quả thật là Mạnh Tử rất nhất quán trong quan niệm lấy nhân đức
làm ngun tắc chỉ đạo chính trị của mình. Trước sau như một ơng ln ln
chỉ nói đến nhân nghĩa, chỉ đề cao nhân nghĩa. Quan điểm của ông thật rõ
ràng: "Người ưa điều thiện thì dư sức cai trị thiên hạ... nếu nhà cầm quyền ưa
điều thiện, ắt người trong bốn biển sẽ khinh thường đường xa muôn dặm mà
đến với mình, để mách bảo điều thiện với mình" (Trích Tứ Thơ, Thượng
Mạnh Tử - in tại nhà in riêng Trí Đức Tịng Thơ). Người nhân là người vơ
địch trong thiên hạ, bởi vì "điều nhân thắng điều bất nhân, cũng như nước
thắng lửa".
3.2. Coi trọng dân
Nếu Khổng Tử hết sức coi trọng "dân tín", coi đó là điều quan trọng nhất
khơng thể bỏ được trong phép trị nước, thì Mạnh Tử nhận thức một cách sâu
sắc rằng: "Kiệt và Trụ mất thiên hạ tức mất ngôi thiên tử ấy vì mất dân
chúng... hễ được dân chúng tự nhiên sẽ được thiên hạ... hễ được lòng dân tự
8
nhiên sẽ được dân chúng" (Trích Tứ Thơ, Thượng Mạnh Tử - in tại nhà in
riêng Trí Đức Tịng Thơ). Bởi dân vốn là gốc nước, có dân mới có nước, có
nước mới có vua, ý dân là ý trời. Từ đó Mạnh Tử chủ trương thi hành một chế
độ "báo dân" và khuyến cáo các bậc vua chúa: "Nếu người bực trên mà vui
với sự vui của dân thì dân cũng vui với sự vui của mình; nếu mình buồn với
sự buồn của dân, thì dân cũng buồn với sự buồn của mình. Bực quốc trưởng
mà chia vui với thiên hạ, chia buồn với thiên hạ thì thế nào nền cai trị của
mình cũng có bề hưng vượng đó" (Trích Tứ Thơ, Thượng Mạnh Tử - in tại
nhà in riêng Trí Đức Tịng Thơ). Với các nhà cầm quyền, theo Mạnh Tử chỉ
có một phương pháp nên theo: "Dân muốn việc chi, nhà cầm quyền nên cung
cấp cho họ. Dân ghét việc chi nhà cầm quyền đừng thi thố cho họ"(Trích Tứ
Thơ, Thượng Mạnh Tử - in tại nhà in riêng Trí Đức Tịng Thơ).
Nếu Khổng Tử coi trọng việc dưỡng dân hơn cả việc bảo vệ xã tắc,
nhưng mới dừng lại ở những ngun tắc có tính đường lối, thì Mạnh Tử quan
tâm nhiều hơn đến các biện pháp kinh tế cụ thể nhằm tạo ra cho dân số một
sản nghiệp no đủ. Mạnh Tử đòi hỏi bậc minh quân phải "chế định điền sản mà
chia cho dân cày cấy, cốt khiến cho họ trên đủ phụng dưỡng cha mẹ, dưới đủ
nuôi sống vợ con, nhằm năm trúng mùa thì mãi mãi no đủ, phải năm thắt ngặt
thì khỏi nạn chết đói" (Trích Tứ Thơ, Thượng Mạnh Tử - in tại nhà in riêng
Trí Đức Tịng Thơ), và "Thánh nhân cai trị thiên hạ, phải làm cho dân có đậu
thóc nhiều như nước lửa, khi đậu thóc nhiều như nước lửa thì dân chẳng cịn
ai bất nghĩa nữa" (Trích Đại Cương triết học Trung Quốc – NXB chính trị
quốc gia).
Trên cơ sở tiếp thu tư tưởng "sử dân dĩ thời" của Khổng Tử, Mạnh Tử đã
đề xuất một đường hướng kinh tế khá hoàn chỉnh nhằm hướng đến cải thiện
đời sống của dân, "nếu bậc quốc trưởng làm cho việc ruộng nương được dễ
dàng (đừng bắt họ làm xâu lúc cày cấy gặt hái) và bớt thuế má cho dân, thì
9
dân trở nên phú túc... bực thánh nhân cai trị thiên hạ, khiến ai nấy đều có đủ
ruộng và lúa, cũng như họ có đủ nước và lửa vậy dân chúng có bề phú túc về
đậu và lúa cũng như họ có đủ về nước và lửa thì họ cịn ăn ở bất nhân làm
chi" (Trích Tứ Thơ, Thượng Mạnh Tử - in tại nhà in riêng Trí Đức Tịng
Thơ). Với Mạnh Tử giảm bớt tô thuế không chỉ là việc làm có ý nghĩa đối với
dân chúng mà cịn là một trong những tiêu chuẩn của người trị dân theo
đường lối nhân chính.
Trong đường lối nhân chính ngồi việc lấy nhân nghĩa làm gốc, coi "dân
là quý”, thi hành chế độ điền địa và thuế khố cơng bằng, Mạnh Tử cịn chủ
trương phải giảm nhẹ hình phạt và tăng cường giáo hoá dân. Cũng như Khổng
Tử, Mạnh Tử trước sau tôn sùng "Vương đạo" phản đối "Bá đạo". Mạnh Tử
coi việc giảm hình phạt phải là một chính sách của đức trị. Ơng nói: Vua cần
phải thi hành phép cai trị nhân - đức đối với dân: Giảm hình phạt, bớt thuế liễm, khiến dân siêng lo việc cày sâu cuốc bẫm, làm vườn làm tược". Theo
Mạnh Tử cần phải nhẹ hình phạt bởi nếu "dân khờ khạo mà phạm luật nước,
đó khơng phải là tội của họ, mà chính là tội của nhà cầm quyền chẳng biết giữ
gìn, giáo hố họ" (Trích Tứ Thơ, Thượng Mạnh Tử - in tại nhà in riêng Trí
Đức Tịng Thơ). Có một điều nhất quán giữa Khổng - Mạnh trong chủ trương
nhẹ hình là cả hai ơng đều xem chính hình và thưởng phạt khéo có thể giúp
cho sự giáo hố dân chúng. Mạnh Tử, cũng xem trọng giáo hoá như Khổng
Tử, nhưng cái mới ở ông là rất quan tâm đến việc quảng bá giáo dục, thông
qua việc xây dựng hệ thống trường học rộng khắp. Ơng chủ trương hình thành
một mạng lưới trường học đa dạng từ làng xã đến kinh đơ, từ trường hương
học đến trường quốc học; đó là những tường, tự, học, hiệu, để giáo hoá dân
chúng. Như vậy, so với Khổng Tử chủ trương giáo hoá của Mạnh Tử có tính
quảng bá và phổ cập hơn. Ngoài việc chú ý đề cao giáo dục đạo đức nhân
luân như Khổng Tử, Mạnh Tử còn thấy được trách nhiệm của người trị dân là
10
phải dạy dân cấy gặt, chăn nuôi, trồng dâu nuôi tằm, dệt vải nhằm tạo ra
nhiều của cải vật chất hơn. Ơng chỉ rõ: "Vua Thuấn đã cho ơng hậu tắc việc
dạy dân cấy gặt và gieo trồng năm giống lúa chín, nhân dân nhờ đó mà sống"
(Trích Tứ Thơ, Thượng Mạnh Tử - in tại nhà in riêng Trí Đức Tịng Thơ). Có
thể thấy rõ quan điểm giáo dục và giáo hóa dân của Mạnh Tử thể hiện một
bước tiến mới so với Khổng Tử trước đó và là một nội dung quan trọng hợp
thành đường lối chính trị nhân nghĩa mà Mạnh Tử đã suốt đời cổ vũ.
11
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Hiến Lê (chủ dịch và giới thiệu), Luận ngữ, NXB Văn học
1995.
2. Giáo trình Triết học
3. Wikipedia.org
4. Tạp chí khoa học và cơng nghệ, Đại học Đà Nẵng – Đường lối “Đức
trị” của Nho giáo - từ Khổng Tử đến Mạnh Tử.
12