TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
-----------***------------
VÕ THỊ KIỀU DIỄM
MSSV: 1853801015029
NGUYÊN TẮC STARE DECISIS TRONG HỆ THỐNG
COMMON LAW VÀ GỢI MỞ CHO VIỆT NAM
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
Niên khóa: 2018 - 2022
Người hướng dẫn:
TS. Phan Hồi Nam
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2022
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
-----------***------------
VÕ THỊ KIỀU DIỄM
MSSV: 1853801015029
NGUYÊN TẮC STARE DECISIS TRONG HỆ THỐNG COMMON
LAW VÀ GỢI MỞ CHO VIỆT NAM
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
Niên khóa: 2018 - 2022
Người hướng dẫn:
TS. Phan Hồi Nam
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2022
LỜI CẢM ƠN
Được sự cho phép của Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, khoa Luật
quốc tế tác giả đã lựa chọn đề tài “Nguyên tắc Stare Decisis trong hệ thống
Common law và gợi mở cho Việt Nam” để hồn thành khóa luận tốt nghiệp.
Đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Phan Hoài Nam, đã
hướng dẫn, định hướng, đưa ra phương pháp, góp ý để tác giả có thể hồn thành
thuận lợi khóa luận này.
Xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô nhà trường đã giảng dạy cho tác giả trong
thời gian qua, giúp tác giả hoàn thiện kiến thức cũng như những kỹ năng của
mình.
Cuối cùng, tác giả gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè những người đã luôn
quan tâm, đưa ra lời động viên và là chỗ dựa tinh thần để tác giả có thể hồn
thành khóa luận tốt nghiệp một cách tốt nhất.
Tuy đã cố gắng hết mình, nhưng kiến thức của tác giả cũng cịn có điểm hạn
chế, khó tránh những sai sót nhất định. Mong sẽ nhận được sự góp ý đến từ
thầy cơ, cũng như quý bạn đọc để tác giả có thể hoàn thiện hơn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của
riêng em, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phan Hồi
Nam. Khóa luận đảm bảo tính trung thực và tn thủcác quy định về trích
dẫn, chú thích tài liệu tham khảo. Em xin chịuhoàn toàn trách nhiệm vềlời
cam đoan này./.
Tác giả
Võ Thị Kiều Diễm
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ luật dân sự 2015
BLDS 2015
Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP
Nghị quyết số 04
Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP
Nghị quyết số 03
Tòa án nhân dân tối cao
TANDTC
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC STARE DECISIS 9
1.1. Khái quát về hệ thống pháp luật Common Law ....................................... 9
1.1.1. Định nghĩa thuật ngữ “Common Law”................................................. 9
1.1.2. Đặc điểm hệ thống pháp luật Common law ........................................ 10
1.2. Nguyên tắc tiền lệ phải được tuân thủ trong hệ thống pháp luật Common
Law .............................................................................................................. 12
1.2.1. Định nghĩa.......................................................................................... 12
1.2.2. Quá trình phát triển ............................................................................ 14
1.3. Vai trò nguyên tắc “Stare Decisis” ........................................................ 22
Kết luận Chương 1 ....................................................................................... 26
CHƯƠNG 2: SỰ VẬN HÀNH CỦA NGUYÊN TẮC STARE DECISIS
TRONG HỆ THỐNG COMMON LAW VÀ MỘT SỐ GỢI MỞ CHO VIỆT
NAM ............................................................................................................ 28
2.1. Cơ chế vận hành của nguyên tắc Stare decisis ....................................... 28
2.1.1. Ở Anh ................................................................................................. 28
2.1.2. Ở Mỹ .................................................................................................. 35
2.2. Nguyên tắc áp dụng án lệ trong pháp luật Việt Nam .............................. 40
2.3. Thực tiễn việc áp dụng án lệ ở Việt Nam qua các bản án ....................... 46
2.3.1. Bản án 24/2019/HNGĐ-PT ................................................................ 47
2.3.2. Bản án số 62/2022/HS-ST................................................................... 51
2.3.3. Bản án số 26/2019/DS-PT .................................................................. 54
2.4. Những bất cập trong việc áp dụng án lệ và gợi mở cho Việt Nam ......... 59
2.4.1. Những vấn đề bất cập ......................................................................... 59
2.4.2. Những gợi mở cho Việt Nam............................................................... 63
Kết luận Chương 2 ....................................................................................... 68
KẾT LUẬN.................................................................................................. 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 72
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, nền kinh tế ngày càng hội nhập và phát triển, sự giao lưu giữa các
nước trên thế giới không chỉ dừng lại ở kinh tế mà cịn văn hóa, giáo dục cũng như là
pháp luật. Ngày nay, các nước đang có xu hướng xích lại gần với nhau hơn, học hỏi
nhau kinh nghiệm, đầu tư phát triển kinh tế. Trong quá trình trao đổi ấy thì pháp luật
mỗi quốc gia chính là rào cản ngăn cản quá trình hội nhập, nên để thúc đẩy quá trình
hội nhập diễn ra cũng như đồng thời bảo vệ chủ quyền, nền kinh tế trong nước thì
hiện nay các nước trên thế giới đang có xu hướng “nhất thể hóa” hay “hài hịa hóa”
pháp luật.
Mà để có thể đạt được sự “nhất thể hóa” hay “hài hịa hóa” pháp luật chúng ta
phải biết được nguồn gốc, truyền thống pháp luật của các quốc gia khác, những đặc
điểm pháp lý đặc trưng, riêng biệt mà chỉ các quốc gia thuộc truyền thống đó mới có.
Có những đặc trưng mang tính bản chất khơng thể thay đổi được, từ đó ta tìm cách
dung hịa sự khác biệt đó với nhau để cùng đạt đến mục tiêu chung cùng nhau phát
triển. Trên thế giới chiếm đa số hiện nay có hai hệ thống pháp luật lớn là hệ thống
pháp luật Châu Âu lục địa và hệ thống pháp luật Thông luật. Sự khác nhau cơ bản
của hai hệ thống này chính là trong khi hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa coi trọng
luật thành văn, Thẩm phán khơng có thẩm quyền ban hành pháp luật, thì ở truyền
thống pháp luật Thông luật lại coi trọng luật không thành văn, đồng thời ở đây vai trò
ban hành pháp luật của Thẩm phán là rất lớn.
Khi đặt trong mối quan hệ so sánh giữa Việt Nam với hai truyền thống pháp luật
nêu trên, thì Việt Nam coi trọng luật thành văn, các quan hệ trong xã hội đa số đều
được điều chỉnh trong luật, đồng thời vai trò làm luật của Thẩm phán rất ít. Cho nên
sẽ có phần giống với truyền thống Châu Âu lục địa. Nhưng phải thừa nhận rằng, mỗi
hệ thống pháp luật đều có những ưu và nhược điểm riêng nên nó ngày càng tiếp thu
lẫn nhau để cùng hoàn thiện. Trong bối cảnh hiện nay, xuất phát từ nhu cầu nội tại và
ảnh hưởng văn hố pháp lý của các quốc gia thơng luật, Việt Nam cũng như một số
2
quốc gia khác theo truyền thống dân luật đã đề cao hơn vai trò của án lệ như một
nguồn luật.1 Để hiểu sâu hơn việc tại sao án lệ lại được áp dụng một cách rộng rãi
như vậy, và nguyên tắc được xem là “xương sống” cho việc tồn tại của án lệ đó là
“Stare decisis” (nói nơm na theo tiếng Việt là tiền lệ phải được tuân thủ 2) được áp
dụng như thế nào, đồng thời ở Việt Nam ngun tắc này có tồn tại hay khơng, nếu có
thì tồn tại như thế nào.
Mặc dù trong thời gian vừa qua ở Việt Nam cũng đã có nhiều án lệ đã được công
bố, nhưng việc nhận thức về án lệ, cũng như áp dụng nó trên thực tế vẫn có nhiều bất
cập3 như ở Việt Nam việc tuân theo án lệ vẫn còn lỏng lẻo, chưa phải là nghĩa vụ bắt
buộc của thẩm phán, nhiều bản án áp dụng các “tình huống pháp lý” thay vì các ‘vấn
đề pháp lý”, trình độ của đội ngũ thẩm phán, luật sư vẫn cịn hạn chế so với các quốc
gia thơng luật. Bởi những bất cập đó mà chúng ta phải tìm cách khắc phục. Đó là lý
do để tác giả chọn đề tài “Nguyên tắc Stare decisis trong hệ thống Common Law và
gợi mở cho Việt Nam”.
2. Mục đích đề tài
Nghiên cứu đề tài “Nguyên tắc Stare decisis trong hệ thống Common Law và
gợi mở Việt Nam” với mục đích chung là làm sáng tỏ ngun tắc “Stare decisis”, vai
trị của nó trong việc giúp án lệ tồn tại đến ngày nay. Đồng thời, cũng xác định đặc
điểm của nguyên tắc này, mơ tả phương thức áp dụng của nó trong pháp luật của Anh,
Mỹ và Việt Nam. Đánh giá tầm quan trọng, vị trí của nguyên tắc “Stare decisis” trong
hệ thống thơng luật nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng. Bên cạnh đó, cũng
nêu lên sự khác nhau trong cách áp dụng giữa các quốc gia và rút ra kinh nghiệm,
học hỏi từ việc áp dụng án lệ của các quốc gia khác.
Nguyễn Thị Anh Thơ, “Một số vấn đề cơ bản về bình luận án lệ”, Tạp chí Nghề luật, 2020, Số 1, tr. 62.
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Tài liệu hướng dẫn học tập Luật so sánh, Nxb. Lao động,
TP.HCM, 2017, tr. 127.
3 Nguyễn Minh Tuấn, “Bàn về án lệ và việc áp dụng án lệ ở Việt Nam”, Nghiên cứu lập pháp, số 01/2022, tr.
4.
1
2
3
3. Tình hình nghiên cứu
Về nguyên tắc Stare decisis trong hệ thống Common law và một số gợi mở cho
Việt Nam thì đã có một số sách, giáo trình, bài viết, cơng trình nghiên cứu, luận văn
thạc sĩ có nội dung liên quan đến đề tài này. Trong số đó có thể kể đến như:
- Sách, giáo trình: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật so sánh, Nxb.
Cơng an nhân dân, Hà Nội, 2017. Nội dung giáo trình cho biết sự ra đời của thông
luật cũng như đặc điểm việc tuân theo án lệ ở Anh quốc. Trường Đại học Luật Tp.
Hồ Chí Minh, Tài liệu hướng dẫn học tập Luật so sánh, Nxb. Lao động, TP.HCM,
2017. Tác giả tham khảo về lịch sử hình thành nên pháp luật ở Anh, Mỹ cũng như
khái niệm về nguyên tắc Stare decisis. Michael Bodan (1994), Comparative Law,
Nxb. Kluwer Norstedts Juridik Tano. Tác giả tham khảo khía cạnh về sự ra đời của
common và mốc thời gian mà nguyên tắc stare decisis chính thức bắt buộc áp dụng ở
Anh. Phan Nhật Thanh (chủ biên), Sách chuyên khảo Tập quán pháp, tiền lệ pháp và
việc đa dạng hóa hình thức pháp luật ở Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia TP. Hồ Chí
Minh, TP.HCM, 2017. Tác giả tham khảo về việc tự “cởi trói” của Viện nguyên lão.
Những cuốn sách này đã trình bày tổng quan về khái niệm, vai trị cũng như quá trình
phát triển của án lệ nhưng chỉ mới dừng lại ở lý thuyết vẫn chưa giải thích nguyên
nhân vì sao lại diễn ra như vậy.
- Luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp: Đỗ Thanh Trung, “Chức năng tạo lập
và áp dụng án lệ của Tòa án”, Luận án tiến sĩ luật học, Đại học Luật Thành phố Hồ
Chí Minh, 2018. Tác giả tham khảo về tình hình áp dụng nguyên tắc Stare decisis
hiện nay ở các nước thơng luật. Châu Hồng Thân, “Án lệ và việc áp dụng án lệ tại
Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2016.
Nội dung bài viết đã nêu lên vị trí, vai trị của stare decisis trong thông luật. Võ Thị
Thu Hằng, “Lịch sử phát triển án lệ ở Việt Nam”, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh, 2014. Tác giả tham khảo khóa luận về sự nguyên do mà ở
thời kỳ đầu nguyên tắc stare decisis chưa được áp dụng. Nguyễn Ngân Hà, “Tiếp
nhận án lệ trong hệ thống pháp luật thành văn kinh nghiệm từ Nhật Bản”, Khóa luận
cử nhân luật, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2013. Nêu lên vai trị của ngun
4
tắc stare decisis đối với thẩm phán trong việc đưa ra án lệ. Lê Trọng Đại, “Nâng cao
hiệu quả sử dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay”, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh, 2012. Tác giả sử dụng bài viết để nói lên ý thức của thẩm
phán trong việc đưa ra án lệ.
- Bài viết Tạp chí, tọa đàm: Nguyễn Minh Tuấn, “Bàn về án lệ và việc áp dụng
án lệ ở Việt Nam”, Nghiên cứu lập pháp, số 01(449), nội dung bài viết là khái niệm
về án lệ cũng như cách nhìn của tác giả về những điểm tốt cũng như những bất cập
trong việc áp dụng án lệ ở Việt Nam. Đỗ Thành Trung, “Một số vấn đề lý luận về án
lệ trong hệ thống Thơng luật”, Tạp chí khoa học pháp lý Việt Nam, 2016, số 02(96)
nội dung của bài viết nêu lên học thuyết “stare decisis”, nguyên tắc áp dụng án lệ
trong hệ thống Common law. Nguyễn Minh Tuấn và Lê Minh Thúy, “Án lệ, áp dụng
án lệ trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 2021, số
03+04. Bài viết nêu lên việc áp dụng án lệ ở một số quốc gia như Mỹ, Anh, Pháp,
Đức từ đó nêu ra gợi mở việc áp dụng án lệ cho Việt Nam. Những bài viết trên đã
làm rõ được tình hình của việc áp dụng án lệ nhưng phạm vi nghiên cứu vẫn còn hẹp.
Lê Đức Tiết, “Án lệ với nguyên tắc công lý không thể bị chối từ, trì hỗn”, Tạp
chí Luật sư Việt Nam, 2015, Số 12, 2015. Bài viết nói về việc áp dụng án lệ như là
một hệ quả tất yếu, tác giả tham khảo bài viết về thời điểm trước khi có luật thành
văn thì nguồn luật điều chỉnh như thế nào. Lê Thị Nga, “Án lệ trong hệ thống nguồn
luật của pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Pháp luật và thực tiễn, 2017, Số 4. Bài viết
trình bày vị trí của án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tác giả tham khảo về sự
xuất hiện của nguyên tắc “Stare decisis” có ở Việt Nam hay khơng. Nguyễn Công
Phú, “Ý nghĩa và thực tiễn áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử của Tòa án Việt
Nam”, Kỷ yếu tọa đàm Án lệ tại Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn Trường
đại học Kinh tế - Luật, 2021. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, “Bàn về vai trò của án lệ trong
hệ thống pháp luật Pháp”, Kỷ yếu tọa đàm Án lệ tại Việt Nam những vấn đề lý luận
và thực tiễn, Trường đại học Kinh tế - Luật, 2021. Hai bài viết trên đều đề cập đến
vai trò của việc áp dụng án lệ, mội bài viết tác giả tham khảo về vai trò của án lệ ở
5
các quốc gia khác nhau. Nhìn chung các bài viết này đều nói lên tầm quan trọng của
việc áp dụng án lệ trong thực tiễn ngành tư pháp.
Ngồi ra khóa luận còn sử dụng các nguồn thứ yếu khác như:
- Trang tin điện tử về án lệ và Trang công bố bản án của TANDTC: Tác giả sử
dụng để khai thác một số bản án và án lệ để sử dụng trong đề tài như Bản án số
62/2022/HS-ST sử dụng Án lệ số 01/2016/AL để giải quyết... Cùng với đó là sử dụng
để thống kê về tình hình các bản án lệ ở Việt Nam hiện nay.
- Một số bài viết trên Internet như: Ngô Văn Nhạc, “Án lệ tại Việt Nam và định
hướng phát triển”. Bài viết trình bày lịch sử hình thành phát triển của án lệ ở Việt
Nam cũng như đưa ra phương hướng phát triển cho án lệ ở Việt Nam. Phan Nhật
Thanh, “Khái niệm và những nguyên tắc của Tiền lệ pháp - Hình thức pháp luật đặc
thù trong hệ thống pháp luật Anh - Mỹ”, ở bài viết này tác giả trích dẫn ví dụ về vụ
việc tranh chấp ở Anh để có thể hình dung về ngun tắc stare decisis ở thơng luật.
Thanh Hà (người dịch), “Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã lật ngược tiền lệ trong vụ án quyền
tài sản - Dấu hiệu của những điều sắp xảy ra”, ví dụ về ngoại lệ trong việc áp dụng
án lệ ở Hoa Kỳ.
Nhìn chung, các bài viết trên đã lột tả được sự hình thành, quá trình phát triển,
sự vận hành của nguyên tắc Stare decisis trong hệ thống thông luật. Cũng như là tình
hình áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay, đồng thời cũng có những giải pháp trong
việc khắc phục một số vấn đề bất cập trong việc áp dụng án lệ ở Việt Nam. Nhưng
chưa đi sâu vào phân tích các vấn đề thực tiễn của việc áp dụng án lệ mà đa số chỉ
dừng ở việc nghiên cứu về mặt lý luận. Nên tác giả vận dụng những lý luận đó kết
hợp với việc phân tích thực tiễn, đưa ra kinh nghiệm chúng ta có thể học hỏi từ thông
luật cũng như từ các quốc gia dân luật khác.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận bao gồm những nội dung sau đây:
6
Những vấn đề xoay quanh nguyên tắc Stare decisis như: về khái niệm, cơ sở
hình thành, quá trình phát triển cũng như vai trị của nó trong hệ thống Thơng luật.
Thực tiễn việc áp dụng án lệ ở Việt Nam qua một số bản án như: Bản án
24/2019/HNGĐ-PT, Bản án 26/2019/DS-PT, Bản án 08/2018/KDTM-ST.
Một số bất cập và gợi mở cho việc áp dụng án lệ ở Việt Nam theo quan điểm
của một số tác giả.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Trong khuôn khổ đề tài của khóa luận, tác giả khơng đi
sâu vào tìm hiểu về những đặc điểm của hệ thống pháp luật Việt Nam, những quy
định chi tiết trong các lĩnh vực chuyên ngành. Mà tác giả tập trung vào những quy
định liên quan đến việc áp dụng án lệ ở Việt Nam. Cũng như tác giả sẽ đi sâu nghiên
cứu về nguyên tắc “stare decisis” trong việc vận hành án lệ ở Anh, Mỹ mà khơng
nghiên cứu quy trình cơng bố, tuyển tập, lựa chọn án lệ ở các quốc gia này.
Phạm vi về khơng gian: Về phía hệ thống pháp luật Common law, thì hiện nay
có nhiều quốc gia thuộc hệ thống pháp luật này như Hoa Kỳ, Anh, Úc, New Zealand,
Canada, Ấn Độ… Nhưng ở trong phạm vi của khóa luận này tác giả chỉ nghiên cứu
tập trung việc vận hành nguyên tắc stare decisis trong hai đại diện lớn cho hệ thống
Common law đó là Anh và Hoa Kỳ, để thấy rằng tuy cùng một hệ thống pháp luật
nhưng ở các quốc gia khác nhau thì cũng có những điểm khác nhau tùy vào tình hình
phát triển của mỗi nước. Và tác giả lấy ví dụ một số quốc gia có truyền thống dân
luật khá tương đồng với Việt Nam như Pháp, Đức để học hỏi về kinh nghiệm áp dụng
án lệ ở các quốc gia này.
Phạm vi về thời gian: Đối với nguyên tắc “stare decisis” nghiên cứu từ khi nó
ra đời từ thế kỷ XIII ở Anh cho đến ngày nay. Còn án lệ Việt Nam được hợp thức từ
năm 2015 qua Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP, nên tác giả nghiên cứu quá trình
phát triển của án lệ Việt Nam từ năm 2015 cho đến nay.
7
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, thì tác giả dựa trên nền tảng phương pháp
luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin. Để thực hiện khóa
luận thì tác giả đã sử dụng và kết hợp nhiều phương pháp sau đây:
Phương pháp phân tích: Là phương pháp dùng để phân chia cái chung, cái toàn
bộ thành các bộ phận nhỏ khác nhau nhằm nghiên cứu sâu về đối tượng cần nghiên
cúu. Tác giả dùng phương pháp này để nêu rõ cội nguồn, vai trị và q trình phát
triển của ngun tắc Stare decisis ở mục 1.2 và 1.3 của Chương 1. Cũng như phân
tích để làm rõ việc áp dụng án lệ qua một số bản án ở Việt Nam ở mục 2.2 Chương
2.
Phương pháp so sánh: Tác giả sử dụng phương pháp so sánh quy phạm để so
sánh các chế định pháp luật tương ứng giữa các hệ thống pháp luật khác nhau. Phương
pháp này để chỉ rõ sự giống và khác nhau của nguyên tắc stare decisis trong hai hệ
thống Anh và Mỹ ở mục 2.1 Chương 2. Hơn nữa, phương pháp này cũng được dùng
nói lên sự khác nhau về việc áp dụng án lệ giữa pháp luật Việt Nam so với thông luật,
và sự tương đồng với pháp luật của Đức, Nhật bản ở mục 2.2 Chương 2.
Phương pháp thống kê: Là phương pháp bằng cách thu thập số liệu để phản ánh
các hiện tượng mà mình cần nghiên cứu. Phương pháp này được tác giả sử dụng ở
mục 2.3 Chương 2 để nói lên tình hình của việc áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay.
Và mục 2.4 Chương 2 thu thập những quan điểm của một số tác giả về những bất câp
cũng như là hướng giải quyết về việc áp dụng án lệ ở Việt Nam.
Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp những vấn đề đã phân tích để nhấn mạnh một
lần nữa vấn đề cần chứng minh, làm rõ, đồng thời cho người đọc một cái nhìn tổng
quan về nội dung mà tác giả muốn truyền đạt.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Tác giả chọn đề tài “Nguyên tắc stare decisis trong hệ thống Common Law và
gợi mở cho Việt Nam” để nghiên cứu những vấn đề về vận hành của án lệ trong pháp
luật của một số quốc gia có luật khơng thành văn, cũng như là một vài vướng mắc,
8
bất cập của việc áp dụng án lệ trên thực tế ở Việt Nam. Dựa trên những nghiên cứu
về mặt lý thuyết và thực tiễn mà đề tài có những ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn
khác nhau nhưng đi cùng nhau và bổ trợ cho nhau.
Về mặt lý luận: đề tài dựa trên những quan điểm, học thuyết của các tác giả đi
trước để người đọc có cái nhìn tổng quan, đa chiều về việc áp dụng án lệ, có mặt tốt
và những mặt khơng tốt, và cách các quốc gia giải quyết những mặt không tốt đó như
thế nào.
Về mặt thực tiễn: qua việc nghiên cứu thực tế việc áp dụng án lệ ở Việt Nam để
đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện đối với việc áp dụng, ban hành cũng như thông
qua án lệ.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của khóa luận gồm có 2 chương:
Chương 1: Khái quát chung về nguyên tắc stare decisis
Chương 2: Sự vận hành của nguyên tắc stare decisis trong hệ thống Common
law và gợi mở cho Việt Nam
9
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC STARE DECISIS
-1.1. Khái quát về hệ thống pháp luật Common Law
1.1.1. Định nghĩa thuật ngữ “Common Law”
Hiện nay, có nhiều cách hiểu về thuật ngữ “Common Law” (tạm dịch trong tiếng
Việt nghĩa là Luật chung), các cách hiểu lại phân ra nhiều cấp độ cụ thể như sau 4:
Cách hiểu thứ nhất tương ứng với cấp độ một thì thuật ngữ “common law” (viết
thường) xuất hiện vào thế kỷ XIII ở Anh với mục đích là để phân biệt giữa luật và
tập quán của các địa phương (hay còn gọi là luật Anglo Saxon). Những luật và tập
quán này được áp dụng theo nguyên tắc của địa phương, chỉ có hiệu lực ở một đơn
vị lãnh thổ nhất định; với “common law – luật chung” thì đây là luật do Tịa án Hoàng
gia Anh ban hành được áp dụng chung thống nhất trên tồn lãnh thổ nước Anh. Bên
cạnh đó, ở cấp độ một thuật ngữ này cũng cịn có cách hiểu thứ hai đó là dùng để
phân biệt với “equity law – luật công bằng”, “common law” dùng để chỉ “luật” chứ
khơng phải là lẽ phải, lẽ cơng bằng. Vì lúc này trong giới thẩm phán, luật gia Anh
cho rằng chỉ Thơng luật mới là “luật” cịn lại thì khơng phải.
Ở cấp độ thứ hai, tương ứng với cách hiểu thứ ba thì “common law” cịn được
hiểu là “án lệ”, lúc này án lệ bao gồm cả Tịa Cơng bằng và tịa Thơng luật, tức bao
gồm cả bộ phận “equity law”. Ở cấp độ thứ ba, tương ứng với cách hiểu thứ tư thì
“commom law” được coi là tồn bộ pháp luật Anh như luật công bằng, luật chung,
luật thành văn… Ở cấp độ thứ tư, cách hiểu cuối cùng thì “Common Law” (viết hoa)
dùng để chỉ nhóm hệ thống pháp luật của các quốc gia độc lập nh.au nhưng đều có
nguồn gốc từ luật Anh, thường dùng để chỉ dịng họ hay gia đình pháp luật.
Ta thấy, càng về sau thì cách hiểu của thuật ngữ “common law” càng được mở
rộng, từ khi mới được hình thành với vai trị chỉ là dùng để phân biệt luật địa phương
và luật nhà nước đến ngày nay nó được dùng để nói cho cả một hệ thống pháp luật.
Cho thấy được rằng thông luật đã cùng phát triển với nước Anh, trong q trình bành
4
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), tlđd, tr. 105-106.
10
trướng thuộc địa của mình, người Anh đã làm thơng luật lan rộng ra nhiều quốc gia
khác trên thế giới và đưa nó trở thành một hệ thống pháp luật lớn như hiện nay.
1.1.2. Đặc điểm hệ thống pháp luật Common Law
Common law được hình thành từ nước Anh, nên đồng thời nó cũng mang đặc
điểm gắn liền với lịch sử đất nước và dân tộc Anh với những đặc điểm nổi bật sau:
Đầu tiên, thơng luật được hình thành bằng con đường tư pháp chứ không phải
thông qua con đường lập pháp. Sở dĩ có điều này vì thơng luật ra đời và phát triển
thơng qua việc hình thành và củng cố quyền lực của hệ thống Tòa án Hoàng gia. Khác
với hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa những quy định của pháp luật được quy định
trong các bộ luật cụ thể của cơ quan lập pháp, cịn ở thơng luật các quy định pháp
luật lại được quy định trong các bản án của cơ quan tư pháp. Lúc này, ở Anh tình
trạng phân quyền cát cứ rất mạnh, luật địa phương có ảnh hưởng mạnh hơn luật nhà
vua ban hành, để hạn chế quyền lực lãnh chúa ở địa phương thì nhà vua mới cho các
thẩm phán Hoàng gia tới địa phương xét xử rồi khi các thẩm phán về lại thủ đô họ đã
trao đổi những kinh nghiệm với nhau. Người này học hỏi người kia, các Thẩm phán
đem bản án đã xét xử áp dụng các địa phương khác, dần dần hình thành chung với
nhau một cách xét xử đối với các vụ việc tương tự nhau. Thế là luật được hình thành
thơng qua việc xét xử mà không phải do bất kỳ cơ quan quyền lực nào ban hành.
Cũng khơng có bất kỳ một quy định nào bắt buộc áp dụng mà được áp dụng dựa vào
ý chí của các thẩm phán.
Kế đến, đặc điểm thứ hai là các luật gia Anh coi trọng thủ tục tố tụng hơn là luật
nội dung. Nguyên nhân của đặc điểm này đó là do sự tồn tại hệ thống trát (writ) tức
nếu khơng có trát thì sẽ khơng được xét xử. Trát chính là hệ thống các hình thức khởi
kiện mà người dân căn cứ vào đây để khởi kiện, mỗi loại vụ việc được liệt kê trong
trát sẽ có một thủ tục xét xử khác nhau. Nên việc đầu tiên khi người dân đi khởi kiện
là phải xác định vụ việc của mình có thuộc một trong các loại trát hay không. Nếu
không thuộc trát hoặc xác định sai loại thì cũng sẽ khơng được giải quyết. Nhưng xã
hội phát triển không ngừng, những danh mục trong trát không đủ để điều chỉnh các
11
quan hệ mới phát sinh. Mặc khác, việc ban hành trát mới là điều không dễ dàng bởi
sẽ gặp phải sự phản đối của lãnh chúa, khi mở rộng trát tức thẩm quyền Nhà vua cũng
sẽ được mở rộng và quyền lực của lãnh chúa sẽ bị ảnh hưởng. Do sự mâu thuẫn của
giai cấp cầm quyền mà làm cho Thơng luật bị hạn chế, người dân cũng khó tiếp cận
công lý.
Tiếp theo, thông luật Anh lại không phân chia thành luật công và luật tư như ở
Châu Âu lục địa. Có thể lý giải sự khơng phân chia này là do sự tồn tại của hệ thống
trát, trát được ban hành nhân danh Nhà vua, dẫn đến việc tranh chấp giữa các cá nhân
với nhau đã trở thành tranh chấp giữa Hoàng gia và bên vi phạm trong mối quan hệ
cá nhân đó. Do đó, pháp luật Anh hồn tồn mang tính chất cơng.
Q trình hình thành thơng luật Anh mang tính liên tục và có tính kế thừa là một
trong những đặc điểm giúp nó tồn tại đến ngày nay. Pháp luật Anh mang tính liên tục
vì nước Anh chưa trải qua một cuộc biến động nào làm thay đổi bản chất xã hội của
pháp luật. Tính kế thừa của pháp luật Anh có được do lịch sử phát triển của nước Anh
cho thấy hầu như khơng có sự thay đổi toàn diện về bản chất xã hội. Mà ngun nhân
chủ yếu đó là do tính cách cứng nhắc, bảo thủ của người Anh, các thẩm phán đã tự
nguyện tuân thủ các phán quyết của Thẩm phán đã có trước dù các phán quyết ấy đã
rất lâu đời. Khác với Anh, thơng luật Mỹ có tính kế thừa nhưng lại khơng mang tính
liên tục bởi lịch sử nước Mỹ trải qua cuộc chiến tranh thay đổi bản chất xã hội đó là
sự kiện 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ giành độc lập dân tộc, lúc này dân tộc Mỹ từ dân tộc
lệ thuộc, thuộc địa đã giành được tự do. Nên hiển nhiên sau khi giành độc lập, thốt
khỏi sự cai trị của người Anh thì người Mỹ không muốn tiếp tục áp dụng luật pháp
của người Anh nữa, do đó tất yếu q trình thơng luật phát triển bị gián đoạn. Cùng
với đó, trong thời kỳ đầu mới du nhập thì thơng luật là một hệ thống pháp luật phát
triển hơn nên khơng phù hợp với trình độ phát triển ở Mỹ, hơn nữa vì trong thơng
luật Anh có những quy định về tự do, dân chủ điều này khơng thích hợp để áp dụng
ở Mỹ - nước bị cai trị nhằm để củng cố quyền lực của Hồng gia Anh; cho nên thơng
luật chỉ áp dụng một cách chọn lọc trên đất nước Mỹ mà không mang tính liên tục
như ở Anh.
12
Một mặt khác, một đặc điểm khác ở thông luật chính là thơng luật Anh chủ yếu
sử dụng chế tài phạt tiền trong lĩnh vực dân sự. Điều này đã làm cho thông luật bị hạn
chế trong khi các quan hệ dân sự ngày càng phát triển, chế tài phạt tiền lại khơng đủ
tính răn đe để đáp ứng sự thay đổi mau chóng của xã hội. Cuối cùng, đặc điểm tạo
tiền đề cho sự tồn tại của thông luật Anh nói riêng hay hệ thống pháp luật thơng luật
nói chung đó là nguyên tắc “stare decisis” hay nói cách khác đó là nguyên tắc “tiền
lệ phải được tuân thủ”. Đóng vai trị là ngun tắc xương sống cho sự tồn tại và ổn
định của Thông luật Anh.
Như vậy, hệ thống pháp luật “Common Law” có những đặc điểm riêng được
hình thành từ đời sống chính trị, xã hội của người Anh. Bằng sự mở rộng thuộc địa
của mình, Hồng gia Anh đã áp dụng pháp luật của mình lên các nước thuộc địa đem
thông luật trở thành một trong truyền thống pháp luật lớn và phổ biến trên thế giới
hiện nay.
1.2. Nguyên tắc Stare decisis5 trong hệ thống pháp luật Common Law
1.2.1. Định nghĩa
Nguyên tắc Stare decisis trong Tiếng Anh còn được thể hiện bằng nhiều cụm từ
khác nhau như: “doctrine of precedent”, “doctrine of stare decisis”... Thuật ngữ “stare
decisis” có nguồn gốc từ tiếng Latin là: “stare decisis at non quiet movere”. Cụm từ
này dịch sang tiếng Anh là: “stand by the thing decided and do not disturb the clam”
có thể tạm dịch là “hãy giữ điều gì đã được quyết định và đừng thay đổi”.6 Như vậy,
ta có thể hiểu một cách ngắn gọn nội dung yêu cầu nguyên tắc án lệ là các Tòa án
phải tuân theo hay dựa vào các quyết định của Tòa án trước (án lệ) để xét xử. Vậy
vấn đề đặt ra là tiêu chuẩn hay điều kiện nào để Tòa án tuân theo, dựa vào các quyết
định của Tòa án trước đã xét xử? Nguyên tắc “stare decisis” được thực hiện dựa trên
nguyên tắc “like cases must be decided alike” (tạm dịch là “các vụ việc giống nhau
Nguyên tắc Stare decisis thường được gọi với tên Tiếng Việt là tiền lệ phải được tuân thủ (tên gọi theo Tài
liệu hướng dẫn học tập môn Luật so sánh, Trường Đại học Luật TP.HCM) hoặc nguyên tắc án lệ (theo tác giả
Đỗ Thanh Trung) tùy theo quan điểm của các học giả khác nhau.
6 Đỗ Thành Trung, “Một số vấn đề lý luận về án lệ trong hệ thống Thơng luật”, Tạp chí khoa học pháp lý Việt
Nam, số 02/2016, tr. 69.
5
13
phải được giải quyết như nhau”. 7 Và nội dung của ngun tắc này có thể hiểu theo
nghĩa chính xác hơn là “các vụ việc có các tình tiết có tính chất tương tự phải được
giải quyết dựa trên lý lẽ tương tự”. 8
Cũng có một số quan điểm khác hiểu thuật ngữ “stare decisis” là một cách thức
để áp dụng “precedent” (án lệ) và nó được giải nghĩa là “Học thuyết về án lệ là sự
cần thiết để tòa án áp dụng các quyết định tư pháp trước đó nếu như trong vụ kiện
tụng xuất hiện lại những tình tiết tương tự”. Ta cũng cần làm rõ về nguyên tắc áp
dụng pháp luật tương tự này, vì cách thức áp dụng án lệ với cách hiểu chung chung
rằng áp dụng quyết định của tòa án trước cho vụ việc sau, khi các vụ việc đó có các
tình tiết tương tự sẽ gây hiểu lầm rằng khó có hai hay nhiều việc giống nhau để áp
dụng và biết áp dụng giống nhau theo mức độ như thế nào đối với một bản án đã có
trước? Vì lẽ đó mà ngun tắc “stare decisis” ra đời để xử lý mối lo ngại trên. Chính
vì vậy, mà kỹ thuật tạo ra án lệ và với nguyên tắc áp dụng đó là dựa trên cách thức
suy luận tương tự. Khi tòa án giải quyết vụ việc đầu tiên chỉ tạo ra hình mẫu hay phác
thảo nên một quy tắc. Do đó, một quy tắc hay nguyên tắc án lệ được hình thành phải
trải qua hàng loạt các vụ việc tương tự về sau. Các thẩm phán sau này khi giải quyết
một vụ việc cần phải xác định và đánh giá ý nghĩa tương tự, nếu vụ việc này tương
tự thì sẽ áp dụng lý lẽ trong bản án trước để giải quyết vụ việc hiện tại, nếu khơng
tương tự thì khơng áp dụng9.
Để hiểu rõ hơn nguyên lý tiền lệ phải được tuân thủ là như thế nào thì ta có ví
dụ như sau:
Ví dụ trong vụ án Elizabeth Manley. Elizabeth Manley đã trình báo với cảnh sát
rằng có một người đàn ơng đã đánh cơ và lấy tồn bộ tiền bạc. Tuy nhiên khi cảnh
sát tiến hành điều tra đã phát hiện vụ việc trên là khơng có thật. Tịa án đã kết tội
Elizabeth Manley với tội danh “làm ảnh hưởng đến trật tự công cộng”. Tội danh này
Đỗ Thanh Trung (2016), tlđd, tr. 70.
Đỗ Thanh Trung (2016), tlđd, tr. 70.
9 Mai Thị Mai, “Lý luận về án lệ trong hệ thống pháp luật các nước common law, Civil law và những vấn đề
đặt ra cho Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5/2017, tr. 57.
7
8
14
khơng có quy định trong luật. Do đó, tịa đã đưa ra hai lý do và sau đó hình thành nên
tiền lệ. Thứ nhất, đặt người vô tội trước nguy cơ bị bắt giữ; thứ hai, là tốn thời gian
và cơng sức của cảnh sát cho q trình điều tra một vụ việc khơng có thật.
Vụ án Elizabeth Manley đã hình thành nên tiền lệ trong phán quyết của tịa án:
“Bất kỳ người nào đặt người vơ tội vào tình trạng bị truy tố và làm cảnh sát phải điều
tra một vụ án khơng có thật thì bị buộc vào tội danh gây rối, ảnh hưởng đến trật tự
công cộng”. Sau đó là vụ án của bà May Jones. Bà Jones đang đi mua sắm ở cửa hàng
thì phát hiện mình bị mất chiếc ví. Bà ta nhớ lại trước đây ít phút, có một người đàn
ơng đã đi lướt qua và chạm vào người bà. Bà ta lập tức báo cảnh sát và miêu tả nhân
dạng người đàn ông ấy. Ngày sau đó, cửa hàng gọi điện thoại đến và báo rằng bà
Jones đã để quên ví tiền tại cửa hàng. Trong vụ này, bà Jones cũng bị kết tội như cơ
Manley vì đã làm cảnh sát điều tra một vụ việc khơng có thật và đặt người vơ tội
trước rủi ro bị truy tố. 10
Tóm lại, hiện nay thuật ngữ tiếng Anh về nguyên tắc vận hành của án lệ thì thuật
ngữ “stare decisis” được sử dụng phổ biến nhất, khi dịch sang tiếng Việt thì lại có
nhiều cách gọi khác nhau như “tiền lệ phải được tuân thủ” hay “nguyên tắc án lệ”...
Tuy có sự giải nghĩa khác nhau về mặt thuật ngữ nhưng các cách giải nghĩa này lại
có chung nội hàm, và có thể hiểu nguyên tắc “stare decisis” một cách khái quát như
sau: “Theo nguyên tắc này, các thẩm phán khi xét xử phải căn cứ vào những bản án
đã có trước nếu có sự tương tự về mặt tình tiết” 11.
1.2.2. Quá trình phát triển
Ban đầu ngun tắc này khơng chính thức bắt buộc nhưng dần vào khoảng giữa
thế kỷ XVII và bắt đầu thế kỷ XIX nguyên tắc này chính thức bắt buộc áp dụng. 12
Phan Nhật Thanh, “Khái niệm và những nguyên tắc của Tiền lệ pháp - Hình thức pháp luật đặc thù trong
hệ thống pháp luật Anh - Mỹ”, ngày 17/02/2008, xem tại: (truy cập ngày 04/4/2022).
11 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), tlđd, tr 104.
12 Michael Bodan (1994), Comparative Law, Nxb. Kluwer Norstedts Juridik Tano.
10