HỘI THẢO KHOA HỌC GIẢI PHẪU BỆNH – TẾ BÀO BỆNH HỌC VIỆT NAM LẦN THỨ 10
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM VI THỂ UNG THƯ BIỂU MÔ BUỒNG TRỨNG
THEO PHÂN LOẠI CỦA TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI NĂM 2020
Nguyễn Sào Trung1, Phan Ngọc Trà My2, Nguyễn Thị Sen2,
Phạm Huy Hòa2, Nguyễn Hồng Thạnh2, Hứa Thị Ngọc Hà1
TÓM TẮT
14
Đặt vấn đề: Ung thư biểu mơ (UTBM)
buồng trứng là một nhóm gồm nhiều loại tổn
thương các đặc điểm tương đối khác nhau về
nguồn gốc, diễn tiến, biểu hiện mô bệnh học,
phân tử, tổn thương tiền ung, đáp ứng với hóa trị,
và tiên lượng. Ở Việt Nam, khơng có nhiều báo
cáo về các đặc điểm giải phẫu bệnh của nhóm
bệnh này, nhất là hầu như chưa có báo cáo nào
dựa trên bảng phân loại u mới nhất vào năm 2020
của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (ấn bản lần thứ 5).
Mục tiêu: xác định tỉ lệ và đặc điểm vi thể
ung thư biểu mô buồng trứng theo phân loại khối
u của Tổ Chức Y Tế Thế Giới năm 2020.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu
mô tả cắt ngang các trường ung thư biểu mô
buồng trứng tại Bệnh viện Từ Dũ từ 1/4 đến
8/10/2020.
Kết quả: UTBM dịch trong độ cao thường
có cấu trúc đặc, mức độ đa dạng nhân nhiều, mức
độ phân bào cao và độ mô học cao; UTBM dịch
trong độ thấp thường có cấu trúc nhú, mức độ đa
dạng nhân ít, mức độ phân bào thấp và độ mô
học phân bố đều ở mức thấp và trung gian;
Bộ môn Mô Phôi - Giải Phẫu Bệnh – ĐH Y
Dược TP. Hồ Chí Minh
2
Khoa Giải Phẫu Bệnh – Bệnh viện Từ Dũ Tp Hồ
Chí Minh
Chịu trách nhiệm chính: Phan Ngọc Trà My
Email:
Ngày nhận bài: 01.10.2022
Ngày phản biện khoa học: 07.10.2022
Ngày duyệt bài 24.10.2022
1
100
UTBM dạng nội mạc tử cung thường có cấu trúc
tuyến, hơn ½ trường hợp tế bào đa dạng mức độ
trung bình, mức độ phân bào cao. UTBM tế bào
sáng thường có cấu trúc đặc, nhân đa dạng nhiều,
hoạt động phân bào mức thấp. UTBM dịch nhầy
thường có cấu trúc nhú, thường xâm nhập dạng
sang bên, nhân đa dạng mức độ trung bình đến
nhiều, phân bào cao.
Kết luận: Ba loại ung thư biểu mô buồng
trứng thường gặp nhất là UTBM tế bào sáng,
UTBM dạng nội mạc tử cung và UTBM dịch
trong độ cao. Các đặc điểm vi thể chính như cấu
trúc mơ bệnh học, đặc điểm nhân tế bào u, mức
độ phân bào phân bố khác nhau giữa các phân
nhóm UTBM, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Từ khóa: Phân loại theo tổ chức y tế thế giới
năm 2020, ấn bản thứ 5, vi thể, ung thư biểu mô
buồng trứng
SUMMARY
HISTOPATHOLOGIC FEATURES OF
OVARIAN EPITHELIAL CARCINOMA
SUBTYPE ACCORDING TO THE
CLASSIFICATION OF WHO 2020
Background: Ovarian carcinoma is a group
epithelial cancer with differences in origin,
behavior, histopathological features, molecular
characteristics, precancerous lesions, response to
chemotherapy, and prognosis. In Vietnam, there
are not many reports on the pathological features
of this carcinoma, especially the report based on
the latest tumor classification (in 2020, 5th
edition) of the World Health Organization.
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 521 - THÁNG 12 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2022
Objectives: To confirm the histopathologic
features in ovarian epithelial carcinoma subtype
Materials and Methods: Cross - sectional
descriptive study of ovarian carcinoma cases in
Tu Du hospital from 1/4 to 8/10/2020.
Results: High grade serous carcinoma
usually has solid pattern, marked nuclear
pleomorphism, high mitotic rate; low grade
serous carcinoma usually has papillary pattern,
slight nuclear pleomorphism, high mitotic rate.
Endometrial carcinoma usually has glandular
pattern, high mitotic rate, haft of cases has
moderate nuclear pleomorphism. Clear cell
carcinoma usually has solid pattern, marked
nuclear pleomorphism, low mitotic rate,
mucinous carcinoma usually has papillary pattern
and expansile invasive pattern, moderate nuclear
pleomorphism, high mitotic rate.
Conclusion: Three commonest subtypes of
ovarian carcinoma are clear cell carcinoma,
endometrial carcinoma and high grade serous
carcinoma. The main histological features as
predominant architectural pattern, cytological
atypia, mitosis have statistically significant
difference between subtypes of ovarian
carcinoma.
Keywords: WHO classification 2020, 5th
edition, histopathologic features, ovarian
carcinoma.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cấu trúc mô học của buồng trứng rất
phức tạp, gồm nhiều thành phần, do đó, các
bệnh lý ở buồng trứng cũng rất đa dạng về
bản chất và nguồn gốc. Phân loại các khối u
buồng trứng của Tổ chức Y tế Thế giới dựa
trên cơ sở mô và phơi học của các tân sinh
chia ra 4 nhóm lớn thường gặp nhất: u biểu
mô, u tế bào mầm và u dây giới – mô đệm và
u trung mô không đặc hiệu khác[5]. Trong
đó, ung thư biểu mơ buồng trứng thường gặp
và có tỷ lệ tử vong cao nhất [1,5]. Về mặt
lâm sàng, ung thư biểu mô buồng trứng
thường được xem là một loại bệnh nhưng
trên phương diện bệnh học, đây là một nhóm
gồm nhiều loại tổn thương ác tính của biểu
mô với nguồn gốc, diễn tiến, biểu hiện mô
bệnh học, phân tử, tổn thương tiền ung, đáp
ứng với hóa trị, và tiên lượng riêng biệt.
Theo phân loại các loại u buồng trứng của Tổ
Chức Y Tế Thế Giới năm 2020, Ung thư
biểu mơ (UTBM) buồng trứng có 5 phân
nhóm thường gặp nhất là: UTBM dịch trong
độ cao, UTBM dịch trong độ thấp, UTBM
dạng nội mạc tử cung, UTBM tế bào sáng và
UTBM dịch nhầy. Phân loại này được dựa
trên các tiêu chí mơ bệnh học và bổ sung
thêm các đặc điểm hóa mơ miễn dịch nhưng
khơng bắt buộc [5]. Ở Việt Nam, khơng có
nhiều báo cáo về các đặc điểm giải phẫu
bệnh của ung thư biểu mô buồng trứng và
nhất là báo cáo dựa trên phân loại khối u mới
nhất của Tổ Chức Y Tế Thế Giới ở ấn bản
thứ 5 năm 2020. Trên cơ sở đó, chúng tơi
thực hiện nghiên cứu này nhằm mục tiêu:
“Khảo sát tỉ lệ và đặc điểm vi thể ung thư
biểu mô buồng trứng theo phân loại khối u
của Tổ Chức Y Tế Thế Giới năm 2020”.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Tiêu chí chọn mẫu
- Tất cả các trường hợp có đặc điểm mơ
bệnh học trên tiêu bản thường quy phù hợp
với ung thư biểu mô buồng trứng trong thời
gian nghiên cứu
- Đã có kết quả nhuộm hóa mơ miễn dịch
xác định ung thư biểu mơ buồng trứng và
loại ung thư biểu mơ buồng trứng.
2.1.2. Tiêu chí loại trừ
• Thiếu thơng tin lâm sàng (tuổi, giai
đoạn bệnh).
101
HỘI THẢO KHOA HỌC GIẢI PHẪU BỆNH – TẾ BÀO BỆNH HỌC VIỆT NAM LẦN THỨ 10
• Kèm theo một loại ung thư khác ngoài
buồng trứng hoặc nghi ngờ u thứ phát đến
BT.
2.2. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang hàng loạt
trường hợp.
2.3. Cỡ mẫu
Có 66 mẫu bệnh phẩm UTBM buồng
trứng được nhập viện và điều trị tại Bệnh
viện Từ Dũ từ 1/4 đến 8/10/2020. Dựa vào
tiêu chuẩn loại trừ, có 9 trường hợp kèm theo
một loại ung thư khác ngoài buồng trứng
hoặc nghi ngờ ung thư di căn đến buồng
trứng được loại khỏi nghiên cứu. 57 trường
hợp ung thư biểu mô buồng trứng được chọn
vào nghiên cứu.
2.4. Các bước tiến hành nghiên cứu
- Các thông tin bao gồm năm sinh, chẩn
đoán lâm sàng, chất bệnh phẩm được ghi
nhận từ phiếu gửi bệnh phẩm.
- Các đặc điểm vi thể được ghi nhận khi
quan sát các tiêu bản nhuộm H&E bằng kính
hiển vi quang học (Olympus CX21 – quang
trường thị kính FN = 18). Các đặc điểm vi
thể chính gồm:
● Cấu trúc mơ bệnh học chính là kiểu
hình thái cấu trúc mô bệnh học phổ biến nhất
trong khối u
o Cấu trúc tuyến: kích thước đa dạng,
đơn tầng hoặc đa tầng, lịng tuyến có thể
chứa chất ái toan vơ định hình, bọt bào, hồng
cầu, có thể có vi nhú nhơ vào lịng tuyến, có
thể có hình trịn, hình bầu dục hoặc gập góc,
có thể hịa nhập, thơng nối nhau, lưng đối
lưng tạo thành cấu trúc tuyến phức tạp, dạng
mê đạo, dạng sàng.
o Cấu trúc nhú: tăng sinh tế bào u cùng
với lõi sợi mạch máu, có thể khơng có lõi sợi
mạch tạo hình ảnh vi nhú, có thể đơn giản
hoặc phân nhánh phức tạp với độ dài, ngắn
khác nhau
102
o Cấu trúc đặc: các đám, mảng tế bào
hoặc nhiều ổ tế bào
● Mức độ đa dạng nhân: Được phân loại
dựa trên sự đa dạng về kích thước và hình
dạng, phân bố chất nhiễm sắc, hạt nhân khi
quan sát vùng u có mức độ khơng điển hình
tế bào nặng nhất chiếm trên ½ quang trường
nhỏ (4x)
o Ít: tế bào u có nhân bọng, kích thước
biến thiên ít, <2:1, tỉ số nhân:bào tương thấp,
nhân khơng vón cục, hạt nhân khơng rõ
o Trung bình: kích thước nhân đa dạng
hơn, thay đổi từ 2:1 đến <4:1, hình dạng
nhân biến đổi trung bình, hạt nhân nhỏ, một
vài nhân có chất nhiễm sắc co cụm, khơng có
tế bào qi dị
o Nhiều: kích thước nhân có độ biến
thiên lớn >4:1, hình dạng nhân cũng đa dạng
nhiều, tỉ số nhân:bào tương cao, hạt nhân to,
rõ, ái toan, chất nhiễm sắc vón cục, màng
nhân dày, nhân quái dị thường gặp
● Mức độ phân bào: Được phân loại dựa
trên số lượng phân bào trên 10 quang trường
lớn (QTL) (đường kính thị kính 18)
o Thấp: 0-4 phân bào/10QTL
o Vừa: 5-11 phân bào/10QTL
o Cao: ≥12 phân bào/10QTL
● Độ mô học: Được phân loại theo hệ
thống phân độ mô học của Shimizu –
Silverberg[8] (Bảng 1). Riêng UTBM dịch
nhầy được phân độ theo dạng xâm nhập
(Bảng 2). Có 2 dạng xâm nhập: (1) Xâm
nhập sang bên (expansile invasion): gồm cấu
trúc tuyến có lưng đối lưng, chen chúc nhau
và hầu như khơng có mơ đệm, tạo ra một cấu
trúc mê cung hoặc dạng sàng lớn; (2) Xâm
nhập thấm nhập (infiltrative invasion) gồm
cấu trúc tuyến không đều, các cụm tế bào
hoặc các tế bào rời xâm nhập > 5 mm trong
mô đệm kèm phản ứng mô đệm[4].
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 521 - THÁNG 12 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2022
Bảng 1: Hệ thống phân độ mô học Shimizu-Silverberg cho ung thư biểu mô buồng
trứng. “Nguồn: Silverberg SG, 2000” [8]
Điểm
Kiểu cấu trúc ưu thế
Độ đa dạng nhân
Số phân bào/10QTL
1
Tuyến
Ít
Thấp
2
Nhú
Trung bình
Vừa
3
Đặc
Nhiều
Cao
Tổng điểm: 9 điểm
o Độ 1: 3-5 điểm.
o Độ 2: 6-7 điểm.
o Độ 3: 8-9 điểm.
Bảng 2: Hệ thống phân độ mô học dành cho UTBM dịch nhầy dựa trên dạng xâm
nhập[4]
Độ mô học
Độ 1
Độ 2
Xâm nhập sang bên hoặc xâm nhập dạng
Mô tả
Xâm nhập dạng thấm nhập >10%
thấm nhập ≤10%
Chẩn đốn mơ bệnh học theo phân loại khối u của Tổ Chức Y Tế Thế Giới năm 2020 dựa
trên tiêu bản Hematoxyline Eosine (H&E) và kết quả hóa mơ miễn dịch [2]; xếp loại giai
đoạn theo FIGO 2014 (Bảng 3).
Bảng 3: Tiêu chuẩn chẩn đoán theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới năm 2020
Loại mơ
Tiêu chuẩn thêm vào
Tiêu chuẩn chính
bệnh học
(trong một số trường hợp)
U dịch trong có cấu trúc đặc, nhú, tuyến hoặc Biểu hiện hóa mơ miễn dịch
UTBM dịch
dạng sàng; nhân lớn, đa dạng (nhân biến đổi
WT1, biểu hiện đột biến
trong độ cao
gấp > 3 lần); hoạt động phân bào cao
p53
U dịch trong xâm nhập với các ổ nhỏ, tuyến,
UTBM dịch
nhú hoặc vi nhú, nhú ngược; tế bào học
trong độ thấp không điển hình mức độ thấp (nhân biến đổi
< 3 lần); hoạt động phân bào thấp
U dịch nhầy với tế bào học khơng điển hình
UTBM dịch
và xâm nhập dạng sang bên (expansile)
nhầy
và/hoặc dạng thấm nhập, đường kính lớn
nhất tối thiểu 5mm*.
Cấu trúc kết hợp (dạng ống-tuyến, nhú và
Liên quan đến u sợi tuyến tế
UTBM tế
đặc) với tế bào dẹt hoặc hình lập phương bào bào sáng; biểu hiện HNF1β
bào sáng
tương sáng, ái toan, đầu đinh; nhân thường
và Napsin A; WT1 và PR
đồng dạng, phân bào thấp
âm tính
Biệt hóa gai, liên quan lạc
UTBM dạng
Cấu trúc xâm lấn dạng hòa nhập hoặc phá
nội mạc tử cung hoặc thành
nội mạc tử
hủy, tuyến dạng nội mạc tử cung vài nơi có
phần u tuyến nội mạc tử
cung
cấu trúc đặc
cung
103
HỘI THẢO KHOA HỌC GIẢI PHẪU BỆNH – TẾ BÀO BỆNH HỌC VIỆT NAM LẦN THỨ 10
- Số liệu nghiên cứu trong phiếu thu thập III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
số liệu được nhập vào bảng tính để quản lý
3.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu
dữ liệu thô bằng EpiData 3.1. Sau đó dữ liệu
Nghiên cứu trên 57 trường hợp ung thư
thơ được mã hóa thành các biến số để quản biểu mô buồng trứng, phân bố tỉ lệ của chẩn
lý và phân tích bằng phần mềm thống kê đốn mơ bệnh học dựa trên đánh giá tiêu bản
Stata 13.0 và Excel cho Microsoft 365.
H&E kết hợp với kết quả HMMD được ghi
2.5. Đạo đức trong nghiên cứu
nhận ở Bảng 4. UTBM tế bào sáng thường
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng gặp nhất, sau đó đến UTBM dạng nội mạc tử
Y Đức của Đại Học Y Dược TP. HCM, cung và UTBM dịch trong độ cao.
quyết định số 703/HĐĐĐ-ĐHYD ký ngày
12/10/2020.
Bảng 4: Đặc điểm mẫu nghiên cứu theo phân nhóm ung thư biểu mô buồng trứng [9]
Loại mô bệnh
Tuổi
FIGO
Lan các cơ quan
Lan các cơ quan
N (%)
học
trung bình I/II n (%) trong chậu n (%) ngoài chậu n (%)
UTBM dịch
13
52
10 (76,9)
5 (38,5)
3 (23,1)
trong độ cao (22,8%)
UTBM dịch
4 (7)
37
4 (100)
0
0
trong độ thấp
UTBM dịch
8 (14)
35
8 (100)
0
0
nhầy
UTBM tế bào
17
51
15 (88,2)
1 (5,9)
2 (11,8)
sáng
(29,8)
UTBM dạng nội 15
50
15 (100)
3 (20)
0
mạc tử cung
(26,3)
Tổng cộng
57
47,73
52 (91,2)
9 (15,8)
5 (8,8)
P = 0,03*
0,260**
0,100**
0,260**
* kiểm định Kruskal-Wallis ** Fisher's exact
Tuổi nhỏ nhất của mẫu nghiên cứu là 18 lạc nội mạc tử cung, hầu hết các trường hợp
tuổi và lớn nhất là 69 tuổi. Độ tuổi trung bình này đều được sinh thiết tức thì.
là 47,73 ± 24,24 tuổi, tuổi trung vị là 50 tuổi.
Khơng ghi nhận trường hợp di căn xa nào
Nhóm tuổi thường gặp nhất là từ 50-59 tuổi, tại thời điểm chẩn đoán, hầu hết đều ở giai
chiếm 33,33% (19/57). Phân bố tuổi theo đoạn sớm (FIGO I/II), có 9 trường hợp lan
phân nhóm ung thư biểu mơ buồng trứng đến các cơ quan trong chậu và 5 trường hợp
được ghi nhận ở Bảng 4. Tuổi trung bình và lan đến các cơ quan ngồi chậu. Chi tiết về
phân nhóm mô bệnh học ung thư biểu mô phân bố tỉ lệ giai đoạn FIGO 2014 và mức độ
buồng trứng khác biệt có ý nghĩa thống kê lan tràn u theo phân nhóm mơ bệnh học được
với p < 0,05 theo kiểm định Kruskal-Wallis.
ghi nhận ở Bảng 1. Phân nhóm UTBM
Gần 70% các trường hợp có chẩn đốn buồng trứng và giai đoạn theo FIGO 2014
trước mổ là ung thư buồng trứng, các trường khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê
hợp còn lại u nang buồng trứng hoặc nang (p>0,05) theo kiểm định Fisher’s exact.
104
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 521 - THÁNG 12 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2022
3.2. Đặc điểm vi thể
3.2.1. Cấu trúc mơ bệnh học chính
Cấu trúc mơ bệnh học chính là cấu trúc
mơ bệnh học được ghi nhận phổ biến nhất
trong toàn bộ tiêu bản của khối u. Có 3 loại
cấu trúc mơ bệnh học chính gồm: cấu trúc
tuyến, cấu trúc nhú và cấu trúc đặc (Hình 3).
Cấu trúc tuyến thường gặp nhất trong UTBM
dạng nội mạc tử cung. Cấu trúc nhú thường
gặp nhất trong UTBM dịch trong độ thấp.
Cấu trúc đặc thường gặp trong UTBM dịch
trong độ cao (Bảng 5). Kiểm định Fisher’s
exact với giá trị <0,001 cho thấy cấu trúc mơ
bệnh học chính và phân nhóm mơ bệnh học
khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Hình 3: Các dạng cấu trúc mô bệnh học của ung thư biểu mô buồng trứng
(A) cấu trúc tuyến (H&E, 10x, 20.18046 – Nguyễn Thị H.). (B) cấu trúc nhú (H&E, 10x,
20.16592 Đỗ Thị Cẩm V.). (C) Cấu trúc đặc: tế bào u sắp xếp thành dạng mảng, thấm nhập
nhiều tế bào viêm và các “lỗ” nhỏ do thối hóa tế bào (H&E, 10x, 20.15195 Hồ Thị N.).
Bảng 5: Phân bố tỉ lệ các loại cấu trúc mơ bệnh học chính
Loại UTBM
Dịch trong Dịch trong Dịch
Tế bào Dạng nội mạc
Cấu trúc
Tổng
độ cao
độ thấp
nhầy
sáng
tử cung
mô bệnh học
N
13
4
8
17
15
57
Tuyến
0
0
2 (25) 6 (35,3)
9 (60)
17 (29,8)
Nhú
2 (15,4)
4 (100)
6 (75) 3 (17,7)
4 (26,7)
19 (33,4)
Đặc
11 (84,6)
0
0
8 (47,1)
2 (13,3)
21 (36,8)
Giá trị Fisher’s exact: 0,000
3.2.2. Mức độ đa dạng nhân
Mức độ đa dạng nhân được phân theo 3 mức độ: ít, trung bình, nhiều (Hình 4). Đa dạng
nhân mức độ nhiều thường gặp ở loại ung thư biểu mô độ cao và ung thư biểu mô tế bào sáng
(Bảng 6). Kiểm định Fisher’s exact với giá trị < 0,01 cho thấy mức độ đa dạng nhân và phân
nhóm mơ bệnh học khác biệt có ý nghĩa thống kê.
105
HỘI THẢO KHOA HỌC GIẢI PHẪU BỆNH – TẾ BÀO BỆNH HỌC VIỆT NAM LẦN THỨ 10
Hình 4: Các mức độ đa dạng nhân của ung thư biểu mô buồng trứng
(A) đa dạng nhân mức độ ít (H&E, 40x, 20.10469 Võ Thị N.). (B) đa dạng nhân mức độ
trung bình (H&E, 40x, 20.4104 Nguyễn Thị Cẩm V.). (C) đa dạng nhân mức độ nhiều (H&E,
40x, 20.33938 Nguyễn Thị Thu H.).
Bảng 6: Phân bố tỉ lệ mức độ đa dạng nhân theo phân nhóm ung thư biểu mơ buồng
trứng
Loại UTBM
Dịch trong Dịch trong
Dịch
Tế bào
Dạng nội
Tổng
Mức độ
độ cao
độ thấp
nhầy
sáng
mạc tử cung
đa dạng nhân
N
13
4
8
17
15
57
Ít
1 (7,7%)
2 (50%)
0
2 (11,8%)
5 (33,3%) 10 (17,5%)
Trung bình
1 (7,7%)
1 (25%)
4 (50%) 3 (17,7%)
7 (46,7%) 16 (28,1%)
Nhiều
11 (84,6%) 1 (25%)
4 (50%) 12 (70,6%)
3 (20%)
31 (54,4%)
Giá trị Fisher’s exact: 0,006
3.2.3. Mức độ phân bào
(Bảng 7). Mức độ phân bào trong UTBM
Mức độ phân bào cao phổ biến nhất, dịch trong độ thấp và UTBM tế bào sáng
chiếm 45,6% và gặp ở phân nhóm UTBM phân bổ đều ở mức thấp và trung bình. Kiểm
dịch trong độ cao, UTBM dịch nhầy, UTBM định Fisher’s exact với giá trị <0,001 cho
dạng NTMTC. Toàn bộ UTBM dịch trong độ thấy mức độ phân bào và phân nhóm mơ
cao đều ghi nhận có mức độ phân bào cao bệnh học khác biệt có ý nghĩa thống kê.
106
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 521 - THÁNG 12 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2022
Bảng 7: Phân bố tỉ lệ mức độ phân bào theo phân nhóm ung thư biểu mô buồng trứng
Loại UTBM
Dịch trong Dịch trong
Tế bào
Dạng nội
Mức độ
Dịch nhầy
Tổng
độ cao
độ thấp
sáng mạc tử cung
phân bào
N
13
4
8
17
15
57
Thấp
0
2 (50%) 1 (12,5%) 9 (52,9%) 4 (26,7%) 16 (28,1%)
Trung bình
0
2 (50%)
2 (25%) 8 (47,1%) 3 (20%) 15 (26,3%)
Cao
13 (100%)
0
5 (62,5%)
0
8 (53,3%) 26 (45,6%)
Giá trị Fisher’s exact: 0,000
3.2.4. Dạng xâm nhập của ung thư biểu
3.2.5. Các đặc điểm vi thể khác
mô dịch nhầy
Nhìn chung các đặc điểm vi thể khác
Trong 8 trường hợp UTBM dịch nhầy, đa khơng có đặc điểm nào đặc trưng cho một
số đều xâm nhập sang bên nhưng có 3 trường phân nhóm của ung thư biểu mơ buồng trứng
hợp cho thấy có xâm nhập dạng thấm nhập. cụ thể nào. Lạc nội mạc tử cung, lắng đọng
Các trường hợp xâm nhập dạng thấm nhập calci đều hiện diện trong tất cả các phân
đều khơng có tiền căn hay đồng mắc u ở vị nhóm UTBM. Chuyển sản và ung thư biểu
trí khác. Đồng thời, các trường hợp này đều mô tại chỗ của ống dẫn trứng (STIC) không
được nhuộm HMMD với CK7, CK20 và cho ghi nhận ở các phân nhóm UTBM dịch trong
kết quả phù hợp với u nguyên phát tại buồng độ thấp và UTBM dịch nhầy (Bảng 8).
trứng.
Bảng 8: Các đặc điểm vi thể khác
Loại mô bệnh học
n Lạc NMTC Chuyển sản Lắng đọng Calci
STIC
UTBM dịch trong độ cao 13
2 (15,4)
1 (7,69)
1 (7,69)
7 (53,85)
UTBM dịch trong độ thấp 4
1 (25)
0
3 (75)
0
UTBM dịch nhầy
8
1 (12,5)
0
2 (25)
0
UTBM tế bào sáng
17
7 (41,2)
1 (5,88)
4 (23,53)
0
UTBM dạng NMTC
15
7 (46,7)
6 (40)
1 (6,67)
1 (6,67)
Tổng
57
18 (31,6)
8 (14,04)
11 (19,3)
8 (14,04)
Fisher’s exact
0,281
0,039
0,038
0,000
IV. BÀN LUẬN
4.1. Tỉ lệ phân bố các phân nhóm
UTBM buồng trứng
Tỉ lệ phân bố các phân nhóm UTBM BT
của nghiên cứu này tương đối khác biệt so
với các nghiên cứu trong và ngồi nước. Đa
số các nghiên cứu cho thấy phân nhóm
UTBM chiếm tỉ lệ cao nhất là UTBM dịch
trong độ cao, trong nghiên cứu này chúng tơi
ghi nhận được phân nhóm UTBM phổ biến
nhất có tỷ lệ cao nhất là UTBM tế bào sáng
(29,8%) và UTBM dạng NMTC (26,3%) tiếp
đến là UTBM dịch trong độ cao (22,8%). Sự
khác biệt này có thể lí giải do nghiên cứu của
chúng tơi được thực hiện với cỡ mẫu nhỏ, kết
quả này cũng được ghi nhận trong nghiên
cứu của Kobel M. [37]. Ngoài ra, nghiên cứu
này khác với các nghiên cứu khác ở điểm
nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện phụ
sản chứ không phải ở bệnh viện đa khoa và
107
HỘI THẢO KHOA HỌC GIẢI PHẪU BỆNH – TẾ BÀO BỆNH HỌC VIỆT NAM LẦN THỨ 10
thời gian lấy mẫu tương đối ngắn trong khi
đa số các nghiên cứu đều chọn mẫu trong
khoảng thời gian trên 1 năm. Trong nghiên
cứu này, 2 loại phân nhóm chiếm tỉ lệ thấp
nhất là UTBM dịch nhầy và UTBM dịch
trong độ thấp (lần lượt là 14% và 7%), tương
đồng với nhiều nghiên cứu khác [5],[6],[7].
4.2. Đặc điểm cấu trúc mô bệnh học
Đặc điểm cấu trúc mô bệnh học ghi nhận
được tương đối phù hợp với y văn.Theo
Silverberg SG và cs [8], việc nhận định cấu
trúc mô bệnh học hiện diện nhiều nhất trong
khối u tương đối dễ dàng và có độ lặp lại
cao; đặc điểm nhân có giá trị tiên lượng ở
giai đoạn sớm và cả giai đoạn muộn. Theo
Longrace AT và cs. [7], một trong các đặc
điểm để phân biệt UTBM dịch trong độ cao
và độ thấp là đặc điểm nhân. Nhân tế bào
UTBM dịch trong độ thấp tương đối đồng
dạng, hoặc có mức đa dạng nhân từ ít đến
trung bình (<3:1), trong khi UTBM dịch
trong độ cao có mức độ đa dạng nhân cao
hơn với tỉ số ≥3:1, chất nhiễm sắc không đều,
tương đương với mức độ đa dạng nhân từ
trung bình đến nhiều của hệ thống Shimizu –
Silverberg [8].
Nghiên cứu này ghi nhận 2 nhóm mức độ
phân bào: nhóm mức độ phân bào cao gồm
UTBM dịch trong độ cao, UTBM dịch nhầy
và UTBM dạng nội mạc tử cung; nhóm mức
độ phân bào thấp-trung bình gồm UTBM
dịch trong độ thấp và UTBM tế bào sáng.
Kết quả này khá phù hợp với ghi nhận của
nhiều y văn [6,7].
Mỗi phân nhóm UTBM buồng trứng có
thể sử dụng hệ thống phân độ khác nhau. Hệ
thống phân độ mô học của Shimizu –
Silverberg [8] thường được sử dụng trong
nhiều nghiên cứu cũng như cho thấy có
tương quan với tỉ lệ sống cịn 5 năm và tiên
đốn di căn hạch [7,8]. Hệ thống phân loại
108
này được phát triển dựa trên hệ thống phân
độ mô học Nottingham của UTBM tuyến vú
và sử dụng ba thông số: kiểu cấu trúc chính,
độ đa dạng nhân và mức độ phân bào, mỗi
tham số được đánh giá trên thang điểm 1-3.
Đối với phân nhóm UTBM dịch nhầy, chưa
có sự thống nhất sử dụng hệ thống phân loại
độ mô học nào, ngay cả TCYTTG [5] khơng
đề cập đến bất kì hệ thống phân độ mô học
nào đối với UTBM dịch nhầy. Tuy nhiên, hệ
thống phân loại theo dạng xâm nhập của
UTBM dịch nhầy có ý nghĩa về mặt tiên
lượng và điều trị ở giai đoạn sớm [3]. Cấu
trúc xâm nhập dạng thấm nhập cùng với cấu
trúc phát triển dạng nốt là những đặc điểm
nghi ngờ u thứ phát [7]. Các trường hợp xâm
nhập dạng thấm nhập trong nghiên cứu này
có nhiều đặc điểm phù hợp với u nguyên
phát tại buồng trứng bao gồm cả kết quả
HMMD với CK7, CK20. Tuy nhiên, do
nhiều nguyên nhân, phịng xét nghiệm của
chúng tơi khơng thể khảo sát biểu hiện của
các dấu ấn như β-catenin, CDX2, SATB2,
SMAD4 để có thêm bằng chứng mạnh hơn
ủng hộ cho u nguyên phát tại buồng trứng.
V. KẾT LUẬN
Nghiên cứu các đặc điểm vi thể trên 57
trường hợp ung thư biểu mô buồng trứng
được phân loại theo hệ thống khối u của Tổ
Chức Y Tế Thế Giới năm 2020, chúng tôi
nhận thấy ba loại thường gặp nhất là UTBM
tế bào sáng, UTBM dạng nội mạc tử cung và
UTBM dịch trong độ cao. Các đặc điểm vi
thể chính như cấu trúc mơ bệnh học (gồm
cấu trúc tuyến, cấu trúc nhú và cấu trúc đặc)
đặc điểm nhân tế bào u, mức độ phân bào
phân bố khác nhau giữa các phân nhóm
UTBM, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Đa
số các trường hợp UTBM dịch nhầy đều có
dạng xâm nhập sang bên.
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 521 - THÁNG 12 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2022
VI. LỜI CÁM ƠN
Nhóm nghiên cứu chân thành cảm ơn Đại
Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh đã tài
trợ kinh phí để thực hiện đề tài.
5.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Hoàng Anh Thư, Âu Nguyệt Diệu,
Hứa Thị Ngọc Hà, và cs (2016), “Biểu hiện
protein WILM'S tumor (WT-1) và thụ thể
estrogen (ER) trong carcinôm buồng trứng”,
Tạp chí Y Dược Học - Trường Đại học Y
Dược Huế, Số đặc biệt, tr. 56-62.
2. Trần Trung Toàn, Tạ Văn Tờ (2017), “Đặc
điểm giải phẫu bệnh của ung thư biểu mô
buồng trứng theo phân loại của tổ chức y tế
thế giới năm 2014”, Tạp chí Y Học TPHCM,
21(4), tr. 96-103.
3. Babaier A, Ghatage P (2020), “Mucinous
Cancer of the Ovary: Overview and Current
Status”, Diagnostics (Basel), 10(1), pp. 52.
4. Busca A, Nofech‐Mozes S, Olkhov‐Mitsel
E, et al (2019), “Histological grading of
ovarian
mucinous
carcinoma–an
outcome‐based analysis of traditional and
6.
7.
8.
9.
novel systems”, Histopathology, 77(1), pp.
26-34.
Cheung AN, Ellenson LH, Gilks CB, et al
(2020), “Tumours of the ovary”, Female
Genital Tumours, WHO Classification of
Tumours, 5th Edition, Volume 4, pp. 31-167.
Katzenberg J, Roma AA (2019), “Ovarian
Endometrioid and Clear-Cell tumors”,
Gynecologic and Obstetric Pathology,
Volume 2, Science Press & Springer Nature
Singapore, Singapore, pp. 173-202.
Longacre AT, Gilks BC (2021), “Epithelial
Neoplasms of the Ovary”, Gynecologic
pathology a volume in the series Foundations
in Diagnosis Pathology, 2e, Elsevier,
Philadelphia, pp. 577-642.
Silverberg SG (2000), “Histopathologic
grading of ovarian carcinoma: a review and
proposal”, Int J Gynecol Pathol, 19, pp. 7–
15.
WHO Classification of Tumours Editorial
Board (2020), Female Genital Tumours, 5th
Edition. Wordl Health Organization.
109