Tải bản đầy đủ (.docx) (113 trang)

“Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương đt12 tại thừa thiên huế”

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.03 MB, 113 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NƠNG LÂM HUẾ

KHOA NƠNG HỌC

KHỐ LUẬN

TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:

“Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát
triển và năng suất của giống đậu tương ĐT12 tại Thừa Thiên Huế”

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thái Minh
Lớp: Khoa học cây trồng 51
Giáo viên hướng dẫn: TS. Trịnh Thị Sen
Bộ môn: Khoa học cây trồng

HUẾ, NĂM 2021


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NƠNG LÂM HUẾ

KHOA NƠNG HỌC

KHỐ LUẬN

TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:

“Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát
triển và năng suất của giống đậu tương ĐT12 tại Thừa Thiên Huế”



Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thái Minh
Lớp: Khoa học cây trồng 51
Thời gian thực hiện: Từ tháng 01/2021 - tháng 05/2021
Địa điểm thực tập: Khoa Nông học - Trường Đại Học Nông Lâm, Đại Học Huế
Giáo viên hướng dẫn: TS. Trịnh Thị Sen
Bộ môn: Khoa học cây trồng

HUẾ, NĂM 2021


LỜI CẢM ƠN
Là sinh viên chúng ta đều nhận thức được tầm quan trọng của việc thực
tế và thực tập. Theo phương châm đào tạo: “học đi đôi với hành, lý luận gắn
liền với thực tiễn”, mới đem lại hiệu quả cao. Chính vì vậy, thực tập tốt
nghiệp là một khâu hết sức quan trọng nhằm đưa những kiến thức đã học trên
giảng đường từ đó áp dụng một cách đúng đắn và sáng tạo vào thực tiễn sản
xuất. Kết hợp lý thuyết với thực hành giúp sinh viên rút ra được những bài
học kinh nghiệm nhằm nâng cao những kiến thức cơ bản để có thể góp phần
nhỏ bé của mình vào phục vụ cho nền nơng nghiệp nước nhà.
Là sinh viên năm cuối của khoa Nông học Trường Đại học Nơng Lâm
Huế, được sự nhất trí của Nhà trường và BCN khoa nông học tôi đã tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng
phát triển và năng suất của giống đậu tương ĐT12 tại Thừa Thiên Huế”.
Trong thời gian thực tập, tơi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của gia
đình, nhà trường và bạn bè. Tơi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến cô giáo
hướng dẫn TS. Trịnh Thị Sen đã giành nhiều thời gian quý báu, tận tình giúp
đỡ, hướng dẫn tơi thực hiện và hồn thành đề tài. Tơi xin chân thành cảm ơn
Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa, cùng toàn thể các thầy cô
giáo trong Khoa nông học Trường Đại học Nông Lâm Huế đã tạo điều kiện

giúp đỡ tôi trong q trình học tập, rèn luyện và hồn thành đề tài thực tập.
Đây là cơng trình nghiên cứu đánh dấu bước trưởng thành của tôi sau 4
năm học tập và rèn luyện tại trường. Mặc dù đã cố gắng hết sức mình song
chắc chắn khơng tránh khỏi những thiếu sót. Tơi kính mong được sự thơng
cảm, đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn bè, để tôi có thể rút ra những
kinh nghiệm quý báu, tạo điều kiện cho tơi hồn thiện bản thân và có những
bước đi vững chắc trong q trình cơng tác sau này.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày 02 tháng 6 năm 2021
Sinh viên
Nguyễn Thái Minh


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU


DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BNNPTNT : Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn
QCVN

: Quy chuẩn Việt Nam

FAO

: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc

ĐC


: Đối chứng

TGST

: Thời gian sinh trưởng

NSLT

: Năng suất lý thuyết

NSTT

: Năng suất thực thu

VCR

: Tỉ suất lợi nhuận


MỤC LỤC


Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây đậu tương (Glycine Max) thuộc cây họ đậu, là cây công nghiệp
ngắn ngày có giá trị kinh tế cao và có nhiều tác dụng. Sản phẩm từ đậu
tương được làm thực phẩm cho người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho
cơng nghiệp, làm hàng hóa xuất khẩu và là một trong những loại cây trồng

có tính năng cải tạo đất rất tốt. Vì thế, cây đậu tương được gọi là “Ơng
hồng trong các loại cây họ đậu”.
Sở dĩ cây đậu tương được đánh giá cao như vậy là do hạt đậu tương
chứa nhiều chất đạm, protein, lipit, hydratcacbon và nhiều khống chất thiết
yếu. Trong các thành phần đó protein và lipit là hai thành phần quan trọng
nhất. Protein chiếm 40-50%, lipit chiếm 18-20% tùy theo giống, điều kiện
thổ nhưỡng và khí hậu. Hạt đậu tương có chứa hàm lượng dầu cao hơn các
loại đậu đỗ khác nên được coi là cây cung cấp dầu thực vật quan trọng bậc
nhất. Lipit của đậu tương chứa một tỉ lệ cao các axít béo chưa no (khoảng
60-70%) có hệ số đồng hóa cao, mùi vị thơm như axit linoleic chiếm 5265%, oleic từ 25-36%, linolenolic khoảng 2-3% (Ngô Thê Dân và cs, 1999)
[6]. Sử dụng dầu đậu tương thay mỡ động vật có thể tránh được bệnh xơ vữa
động mạch.
Đậu tương là cây thực phẩm có hiệu quả kinh tế cao, dễ trồng, sản
phầm được sử dụng rất đa dạng. Đậu tương được chế biến thành 600 loại
thực phẩm khác nhau. Các thức ăn cổ truyền như đậu phụ, tương, chao, sữa
đậu nành…. Các loại thực phẩm, chế phẩm hiện đại như kẹo, bánh đậu
tương, hotdogs đậu tương, đậu hũ cheese, các loại thịt nhân tạo…tất cả các
loại thực phẩm đều thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao. Hàm lượng
isoflavone trong hạt đậu tương có tác dụng làm giảm đáng kể lượng
cholesterol trong máu khi sử dụng sản phẩm làm từ đậu tương (Bùi Tường
Hạnh, 1999). Trong công nghiệp, dầu đậu tương được sử dụng làm sơn, mực
8


in, xà phòng, chất dẻo, cao su nhân tạo. Hiện nay, diện tích trồng đậu tương
của Việt Nam được xếp vào hàng thứ 16 trên thế giới và đứng thứ 5 ở Châu
Á, sau Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia và Triều Tiên. Năng suất đậu tương
của Việt Nam đạt thấp (1,52 tấn/ha/năm) bằng 60,6 % so với năng suất đậu
tương của thế giới (FAOSTAT, 2021) [28]. Hàng năm, Việt Nam phải nhập
khẩu 1,2 triệu tấn đậu tương để phục vụ cho nhu cầu sử dụng của con người

và ngành chăn ni. Mặc dù, nhà nước đã có rất nhiều dự án khuyến nơng và
ban hành nhiều chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển diện tích trồng đậu
tương, tuy nhiên diện tích trồng đậu tương đang có xu hướng giảm dần qua
các năm, vào năm 2018 diện tích giảm cịn 53,3 ngàn ha và tổng sản lượng
đậu tương đạt 76 ngàn tấn, khoảng 10% so với nhu cầu tiêu dùng trong
nước. Như vậy, nhu cầu tiêu thụ đậu tương là rất lớn, thực tế sản xuất đậu
tương trong nước cung chưa đủ cầu, hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu đậu
tương biến đổi gen từ Trung Quốc. Trong khi, xu hướng của người tiêu dùng
là sử dụng các sản phẩm nơng nghiệp sạch và an tồn.
Thừa Thiên Huế là tỉnh có trên 80% người dân sinh sống theo đạo
Phật. Nhiều sản phẩm chế biến từ đậu tương đã trở thành những món ăn
truyền thống và đi vào đời sống ẩm thực của người dân Cố đô, đặc biệt trong
những dịp lễ Phật Đảng và ngày giữa và cuối tháng âm lịch. Mặc dù, tỉnh
Thừa Thiên Huế đã có quy hoạch vùng trồng đậu ở các Huyện, trong đó có
đậu tương. Tuy nhiên, thực tế sản xuất cho thấy, người dân trồng đậu tương
theo kinh nghiệm, ít bón phân hữu cơ, chủ yếu sử dụng phân hóa học và
thuốc bảo vệ thực vật nên sản phẩm đậu tương chưa thật sự tạo niềm tin cho
người tiêu dùng. Vì vậy, việc nghiên các biện pháp kỹ thuật canh tác theo
hướng cơ là thật sự cần thiết trong xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ
tồn cầu như hiện nay. Trong đó, liều lượng bón phân hữu cơ là một trong
những biện pháp kỹ thuật quan trọng cần được nghiên cứu để góp phần xây
dựng quy trình canh tác đậu tương theo hướng hữu cơ tại Thừa Thiên Huế.
Xuất phát từ cơ sở khoa học và yêu cầu thực tiễn nêu trên chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh
9


trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương ĐT12 tại Thừa Thiên
Huế”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu chung: Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ
đến sinh trưởng phát triển và năng suất của đậu tương, làm cơ sở để xây
dựng quy trình sản xuất đậu tương theo hướng hữu cơ tại Thừa Thiên Huế.
Mục tiêu cụ thể: Xác định được liều lượng hữu cơ thích hợp cho cây
đậu tương sinh trưởng phát triển tốt, đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao
nhất.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh
hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển, năng suất của
cây đậu tương. Từ đó, bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu về đậu
tương.
* Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp xác định được liều lượng phân hữu cơ
thích hợp cho sự sinh trưởng phát triển của cây đậu tương, đảm bảo được
năng suất và tăng hiệu quả phân bón. Từ đó làm cơ sở xây dựng quy trình kỹ
thuật trồng đậu tương hiệu quả cao.
Cung cấp tài liệu cho hệ thống khuyến nông cũng như người nông dân
trong công tác sản xuất đậu tương, tạo cơ sở để mở rộng sản xuất đậu tương
theo hướng hữu cơ tại Thừa Thiên Huế.

10


Phần 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1. Nguồn gốc và sự phân bố của cây đậu tương
2.1.1.1. Nguồn gốc
Cây đậu tương (đậu nành) là một trong những cây trồng lâu đời của

nhân loại. Các nghiên cứu trên thế giới đều thống nhất cây đậu tương có
nguồn gốc từ Mãn Châu – Trung Quốc (vùng Đơng Bắc Trung Quốc). Dựa
vào các di tích cũ thì cây đậu tương được biết đến vào 5.000 năm và được
trồng trọt từ thế kỷ XI trước Công Nguyên. Từ Trung quốc cây đậu tương
được lan truyền khắp thế gới. Theo các nhà nghiên cứu Nhật Bản vào 200
năm trước Công Nguyên cây đậu tương được đưa vào Triều Tiên và sau đó
lan truyền qua Nhật Bản. Đến giữa thế kỷ XVII cây đậu tương mới được nhà
thực vật học người Đức Engelbert Caempfer đưa về Châu Âu và đến năm
1954 cây đậu tương mới được đưa tới trồng ở Hoa Kỳ.
Ở Việt Nam nhiều nghiên cứu xác định rằng cây đậu tương đã được trồng từ
thời các Vua Hùng. Người dân nước ta đã biết trồng và sử dụng nhiều loại
đậu trong đó có đậu tương (Ngơ Thế Dân và cs, 1999) [6].
Do có giá trị cao về nhiều mặt nên cho đến nay diện tích đậu tương ngày
càng được mở rộng. Nhiều nghiên về sinh thái cây đậu tương đã chứng
minh: Trên thế giới đới khí hậu từ 00-200 vĩ Bắc có tiềm năng cho năng suất
đậu tương cao nhất. Việt Nam nằm trong đới khí hậu trên nên có nhiều tiềm
năng để đẩy mạnh sản xuất đậu tương.
2.1.1.2. Phân loại
Cây đậu tương thuộc bộ đậu Fabales, họ Fabaceae (hay Leguminosae)
thuộc chi họ phụ cánh bướm Papilionoideae, chi Glycine L. trong chi
Glycine L. có 2 phụ chi Glycine Willd, Bracteata Verde và Soja. Trong đó là
Soja là phụ chi quan trọng nhất và được nhiều nhà khoa học quan tâm

11


nghiên cứu. Phụ chi Soja có 2 lồi Glycine Soja Sieb bà Zuce (là loài đậu
tương hoang dại) và Glycine max (L). Merril (đậu tương gieo trồng).
* Theo Fukada Y.1993 con đường tiến hoá của đậu tương hoang dại
thành đậu tương gieo trồng ngày nay theo trình tự sau:

G.Soja Sieb & Zuce => G.gracilis => G.max
* Theo Hymovitz (1970) cho rằng đậu tương trồng được hình thành
trực tiếp từ đậu tương hoang dại con, dạng trung gian G.gracilis là kết quả
lai giữa 2 giống trên.
Theo Carasawa K. (1936) với quan điểm q trình tiến hố từ đậu tương
hoang dại thành đậu tương trồng diễn ra nhờ sợ tích luỹ các đột biến gen với
sự bảo toàn cấu trúc nhiễm sắc thể.
Do xuất phát từ những yêu cầu, căn cứ và tiêu chí phân loại khác nhau
nên cũng có nhiều cách phân loại khác nhau. Nhưng đến nay, hệ thống phân
loại căn cứ vào đặc điểm về hình thái, phân bố địa lý và số lượng nhiễm sắc
thể được nhiều người sử dụng.
Hệ thống phân loại căn cứ vào đặc điểm về hình thái, sự phân bố địa lý và
số lượng nhiễm sắc thể do Hymowit và Newell (1984) xây dựng. Theo hệ
thống này ngồi chi Glycine cịn có thêm chi phụ Soja. Chi Glycine được
chia ra thành 7 loài hoang dại lâu năm, và chi phụ Soja được chia ra làm 2
loài: loài đậu tương trồng Glycine (L) Merr và loài hoang dại hàng năm G.
Soja Sieb và Zucc.
Ngoài những phân loại trên thì phân loại theo thời gian sinh trưởng có ý
nghĩa thiết thực nhất trong sản xuất. Tuy nhiên phân loại theo thời gian sinh
trưởng cũng có những khác nhau nhất định về khoảng thời gian. Việt Nam
đang chia nhóm đậu tương thành 3 nhóm:
- Nhóm chín rất sớm: Có thời gian sinh trưởng từ 60 đến 80 ngày như
các giống Cúc Lạn Ngạn, Nhật 17, Hồng Ngự, HL22, Xanh Lơ Bắc Giang.

12


- Nhóm chín sớm: Có thời gian sinh trưởng từ 80 đến 90 ngày như các
giống Cọc chùm, Nam Vang, AKO3, AKO2, M103, DT76, MTD 22, DH4,
MD 176, HL92, HL25, HL2, K1558.

- Nhóm Trung bình: Có thời gian sinh trưởng từ 90 ngày trở lên như
các giống MTD6, DT84, DT80, DT78, VX92, VX93, HL90, MTD455-3,
A5, Vàng Mường Khương [11].
2.1.1.3. Sự phân bố của cây đậu tương
Loài đậu tương hoang (Glycine ussuriensis/ Glycine soja) là tổ tiên
hoang dại của Glycine max và được tìm thấy ở Triều Tiên, Taiwan, Nhật
bản, thung lũng Yangtze của miền Trung Trung Quốc, các tỉnh miền Đông
Bắc Trung Quốc, và các khu vực giáp giới nước Nga. Chủng hoang dại này
tương tự nhưng không phải là đậu nành được trồng hiện nay và chúng có thể
lai tạo được với nhau vì đồng nhất về mặt di truyền và thường được sử dụng
trong chương trình lai tạo giống để kết nạp một số đặc tính quý đặc biệt
được mong đợi trong những giống đậu nành mới được tạo ra.
Lồi đậu tương (Glycine max) có nguồn gốc ở Trung Quốc, từ đó lan sang
nhiều nước khác ở Châu Á như: Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên, Đông Nam
Á, Ấn Độ...
Hiện nay cây đậu tương là cây trồng phổ biến trên thế giới, đặc biệt là
Châu Mỹ và Châu Á có các nước với diện tích trồng đậu tương lớn như: Mỹ,
Trung Quốc, Braxin, Ấn Độ, …
2.1.2. Vai trò và giá trị của cây đậu tương
2.1.2.1. Vai trò dinh dưỡng của cây đậu tương
Hàm lượng protein cao trong hạt đậu cũng như nhiều hợp chất có giá
trị làm cho đậu tương trở thành một trong những thực phẩm quan trọng trên
thế giới. Protein trong hạt đậu chứa 38% tùy loại, hiện nay nhiều giống đậu
tương có hàm lượng protein đặc biệt cao tới 40%-50%.
Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng prơtein
trung bình từ 35,5 - 40%. Trong khi đó hàm lượng prơtein trong gạo chỉ 6,2 13


12%; ngơ: 9,8 - 13,2% thịt bị: 21%; thịt gà: 20%; cá: 17 - 20% và trứng: 13
- 14,8%, lipit từ 15- 20%, hyđrát các bon từ 15-16% và nhiều loại sinh tố và

muối khoáng quan trọng cho sự sống (Nguyễn Thị Hiền và Vũ Thi Thư,
2004). Hạt đậu tương là loại thực phẩm duy nhất mà giá trị của nó được
đánh giá đồng thời cả prơtit và lipit.
Có những chế phẩm của đậu tương mang tới 90-95% protein, đây là nguồn
protein thực vật có giá trị cao cung cấp cho con người. Trong hạt đậu còn
chứa sắt, canxi phốt pho và thành phần chất sơ tốt cho tiêu hóa. Vitamin
trong đậu tương có nhiều nhóm B đáng kể là vitamin B 1, B2, B6, ngồi ra cịn
có vitamin E, acid pholic
Bảng 2.1. Thành phần dinh dưỡng của một số chất (% trọng lượng chất
khơ)
Thành phần

Protein

Chất béo

Hydratcacbon

Sữa mẹ

8

27

64

Sữa bị tươi

28


28

39

Bột đậu nành

44

22

32

(Nguồn: Nguyễn Minh Hiếu, Giáo trình cây cơng nghiệp, 2003)
[8]
Qua bảng 1.1, có thể thấy hàm lượng protein có trong hạt đậu tương rất cao,
cao hơn rất nhiều lần so với protein có trong các thực phẩm được cho là rất
tốt như sữa mẹ và sữa bò tươi, cụ thể là: Trong bột đậu tương có chứa 44%
protein, cao gấp 5.5 lần sữa mẹ (8%) và cao gấp 1.6 lần sữa bò (28%). Các
thành phần khác trong hạt đậu tương cũng khá cao như: Chất béo 22% và
hydratcacbon 32%. Thành phần có trong đậu tương được nhắc tới nhiều và
giúp ích cho sức khỏe con người gồm Phytosterols, Lecithin, Isoflavons,
Phytoestogen và những sản phẩm ức chế phân hủy protein.
Trong đậu tương có hàm lượng Protein khác với thịt động vật như
trứng, thịt, cá, sữa là protein của đậu tương có chứa hai acid amin là
Methionin và Triptophan ở lượng thấp (thông thường các loại protein được
14


hình thành do hơn 20 acid amin tạo nên). Cũng có thể sự thiếu hụt này ở hạt
đậu tương khi dùng làm thức ăn có thể được bổ sung bằng Cystein – một

loại acid amin có chứa gốc sulfure giống methionin mà cơ thể có thể tổng
hợp được, hoặc bổ sung thêm bắp có chứa acid amin khơng thay thế như
Triptophan.
Trong đậu tương có hợp chất tương tự như kích thích tố nữ Estrogen
mà nhiều nghiên cứu khoa học cho biết là có hiệu quả trong việc phịng ngừa
và trị một số bệnh, đó là hợp chất Isoflavoaes. Nhiều nghiên cứu cho thấy
Isoflavoaes giúp làm giảm nguy cơ ung thư ngực, ung thư ruột, các nghiên
cứu trên động vật đã chứng minh sử dụng sản phẩm đậu tương đã ức chế ít
nhất 5% khả năng ung thư.
2.1.2.2. Giá trị kinh tế của cây đậu tương
Đậu tương là nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp khác nhau như: chế
biến cao su nhân tạo, sơn, mực in, xà phòng, chất dẻo, tơ nhân tạo, chất đốt
lỏng, dầu bôi trơn trong ngành hàng không, nhưng chủ yếu đậu tương được
dùng để ép dầu. Hiện nay trên thế giới đậu tương là cây đứng đầu về cung
cấp nguyên liệu cho ép dầu, dầu đậu tương chiếm 50% tổng lượng dầu thực
vật. Đặc điểm của dầu đậu tương: khô chậm, chỉ số iốt cao : 120- 127,
ngưng tụ ở nhiệt độ : - 15 đến - 18°C. Từ dầu của đậu tương người ta chế ra
hàng trăm sản phẩm công nghiệp khác như: làm nến, xà phịng, ni lơng v.v...
Đậu tương cịn là nguồn thức ăn tốt cho gia súc,1 kg hạt đậu tương đương
với 1,38 đơn vị thức ăn chăn ni. Tồn cây đậu tương (thân, lá, quả, hạt) có
hàm lượng đạm khá cao cho nên các sản phẩm phụ như thân lá tươi có thể
làm thức ăn cho gia súc rất tốt, hoặc nghiền khô làm thức ăn tổng hợp của
gia súc. Sản phẩm phụ cơng nghiệp như khơ dầu có thành phần dinh dưỡng
khá cao: N: 6,2%, P2O5: 0,7%, K2O: 2,4%, vì thế làm thức ăn cho gia súc
rất tốt (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [6].
Đậu tương là cây luân canh cải tạo đất tốt. 1 ha trồng đậu tương nếu
sinh trưởng phát triển tốt để lại trong đất từ 30-60 kg N (Phạm Gia Thiều,
2000). Trong hệ thống luân canh, nếu bố trí cây đậu tương vào cơ cấu cây
trồng hợp lý sẽ có tác dụng tốt đối với cây trồng sau, góp phần tăng năng
15



suất cả hệ thống cây trồng mà giảm chi phí cho việc bón N. Thân lá đậu
tương dùng bón ruộng thay phân hữu cơ rất tốt bởi hàm lượng N trong thân
chiếm 0,05%, trong lá: 0,19% (Nguyễn Danh Đông, 1983) [4].
2.1.3. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây đậu tương
Đậu tương được nhân giống bằng hạt nên việc bảo quản hạt giống rất
quan trọng, hạt giống được bảo quản tốt thì tỷ lệ nảy mầm cao hơn. Đậu
tương có hai giai đoạn sinh trưởng: Sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng
sinh thực. Giai đoạn thứ nhất là quá trình sinh trưởng của cơ quan dinh
dưỡng (rễ, thân, lá), giai đoạn thứ hai chuyển sang hình thành các cơ quan
sinh sản và dự trữ như hoa, quả, hạt …Sự sinh trưởng và phát triển của đậu
tương được phân chia thành 4 thời kỳ chính:
* Thời kỳ nảy mầm
Khi hạt đậu tương hút được một lượng nước 50% trọng lượng hạt thì
bắt đầu nảy mầm nhiệt độ thích hợp là 18-260C. Trên đồng ruộng đậu tương
trồng vụ Xuân ở các tỉnh phía Bắc thời gian mọc mầm 4-5 ngày, cịn ở miền
Trung thì rơi vào 5-8 ngày.
Khi rễ cọc dưới đất dài 2-3 cm thì đoạn thân dưới lá mầm đã dài ra,
vươn qua lớp đất phủ hạt đẩy hai lá mầm trồi lên khỏi mặt đất. Để hạt đậu
tương nảy mầm tốt thì độ ẩm đất lúc gieo thích hợp là 65-70%, đất có cấp
hạt nhỏ, tơi xốp. Độ sâu lấp hạt từ 3-5 cm. Chất lượng hạt giống tốt, đảm
bảo tỷ lệ nảy mầm >85%. Nếu đất khô quá thì có thể ngâm hạt trước khi
gieo để cung cấp đủ lượng nước cho hạt nảy mầm.
* Thời kỳ cây con
Thời kỳ này được tính từ khi hạt đã mọc tối đa đến khi cây nở hoa đầu
tiên.
Thời kỳ này còn được gọi là thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, cây tăng nhanh
số đốt, phát sinh cành và đốt cành nên số lá tăng nhanh. Ở cuối thời kỳ cây
non cũng là lúc cây phân hố mầm hoa nên có tầm quan trọng tạo tiền đề

cho sự ra hoa và tạo quả sau này.

16


Thời kỳ cây con cần được chăm sóc chu đáo kịp thời đảm bảo đủ số
cây/đơn vị diện tích, bón phân, xới xáo lần 1, lần 2 và vun gốc để cho đất tơi
xốp, rễ phát triển mạnh, vi khuẩn cố định đạm hoạt động tốt. Thời kỳ cây
con nhiệt độ thích hợp cho phát triển thân cành là 20-25 0C. Ẩm độ thích hợp
là 65-70% khi cây con mọc đến 2 lá kép, 70-75% từ 3 lá kép đến trước khi
nở hoa.
* Thời kỳ ra hoa
Đây là thời kỳ quan trọng vì ảnh hưởng đến năng suất. Thời gian ra
hoa có thể rất tập trung nhưng cũng có thể rải rác tuỳ thuộc theo giống và
thời vụ trồng. Tuỳ vào giống mà thời kỳ ra hoa kéo dài từ 7-15 ngày (giống
chín rất sớm), trong khi các giống chín muộn ra hoa kéo dài từ 45-50
ngày.Trên một chùm hoa, các hoa nở rải rác có thể tới 4-5 ngày, vì vậy trên
cây đậu tương độ chín của các quả cũng khác nhau.
Thời kỳ ra hoa là thời kỳ mẫn cảm với các yếu tố mơi trường. Nhiệt
độ thích hợp cho đậu tương ra hoa từ 22-28 0C. Thời kỳ này tưới nước tạo độ
ẩm khơng khí thích hợp cho ruộng đậu tương. Ẩm độ khơng khí thích hợp
75-80%, ẩm độ đất từ 70-75%.
* Thời kỳ hình thành quả và hạt
Sau khi hoa nở 5-7 ngày quả bắt đầu hình thành, phát triển rất chậm
và thường rất nhỏ. Từ 10 ngày tiếp theo hạt hình thành và lớn nhanh nên bề
giày quả tăng nhanh. Hạt càng lớn hàm lượng nước càng giảm, đồng thời sự
tích luỹ chất khơ tăng dần. Giai đoạn cuối sự tích luỹ chất khơ gần hồn
thành, hàm lượng nước giảm nhanh từ 30% đến 15-20% trong vài ngày. Lúc
này tán lá vàng nhanh và cũng là thời kỳ chín sinh lý của hạt, trong 7-10
ngày đãc có tời ½ số là trên cây rụng. Vỏ và lông quả đậu tương chuyển

vàng rồi đạt tới màu sắc đặc trưng của giống (vàng đậm, nâu, xám hoặc đen)
và khô dần, lông quả cứng cáp. Tuỳ điều kiện thời tiết chín, lá đậu tương
thường rụng hết, quả chín khơ, ẩm độ trong hạt còn 14-15%. Nhiệt độ cần
cho sự hình thành quả và hạt là 21-28 0C, thích hợp nhất là 21-230C. Khi quả
chín cần nhiệt độ 17-250C, thích hợp nhất là 19-200C.
17


2.1.4. Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương
* Nhiệt độ
Đậu tương có nguồn gốc ơn đới. Tùy theo giống chín sớm hay muộn
mà có tổng tích ơn biến động từ 1.888- 2.700 o C. Từng giai đoạn sinh trưởng
phát triển của cây đậu tương có yêu cầu nhiệt độ khác nhau.
Cây sinh trưởng bình thường ở 10 - 37 oC, nhiệt độ thích hợp 18 - 25oC.
Lúc ra hoa, sợ rét và gió khơ nóng. Cây đậu tương cần độ ẩm cao trong suốt
thời kỳ sinh trưởng phát triển với độ ẩm trung bình: 70 - 75%, cần lượng
nước 400 - 500 mm. Thời kỳ sinh trưởng độ ẩm 60 - 65% ảnh hưởng xấu
đến sản lượng. Cây đậu tương có khả năng chịu hạn nhưng sợ ngập úng, lúc
ra hoa cần tránh hạn và úng, độ ẩm trong đất 70 - 75% là tốt nhất. Nhiệt độ
tốt nhất cho sự nảy mầm là khoảng 18oC - 26oC. Thời kì lá đơn có thể chịu
được nhiệt độ trên dưới 0oC, thời kì lá kép phát triển được ở nhiệt độ >12 oC.
Nhiệt độ tốt nhất cho đậu tương phát triển là 22 - 27 oC. Nhiệt độ thấp ảnh
hưởng xấu đến ra hoa kết quả, nhiệt độ khoảng 10oC ngăn cản sự phân hóa
mầm hoa, nhiệt độ dưới 18oC, tỷ lệ đậu quả thấp, nếu nhiệt độ cao hơn 39 oC
ảnh hưởng xấu đến sự hình thành đốt, phát triển lóng và phân hóa hoa. Nhiệt
độ thích hợp nhất cho sự quang hợp là 25 - 40 oC. Trong các thời kì phát triển
cuối cùng nếu nhiệt độ thấp, hạt khó chín, chín khơng đều, tỷ lệ nước cao,
chất lượng hạt kém.
Bảng 2.2. Yêu cầu nhiệt độ của đậu tương trong từng giai đoạn sinh trưởng
phát triển

Thời kỳ

Yêu cầu nhiệt độ thích
hợp (oC)

Tối thấp - tối
cao

Từ gieo đến mọc

18 – 22

10 - 40

Sinh trưởng cành

20 – 23

15 - 37

Thời kỳ ra hoa

22 – 25

15 - 35

Hình thành quả và hạt

21 – 23


15 - 35

Thời kỳ chín

19 – 20

25 - 37
18


* Ánh sáng
Ánh sáng là yếu tố ảnh hưởng khá sâu sắc tới hình thái cây đậu tương.
Các giống đậu tương trồng ở Việt Nam ưa ánh sáng ngày ngắn dưới 12 giờ, nếu
gặp ngày dài trên 12,5 giờ sẽ ra hoa chậm, kéo dài thời gian sinh trưởng, vụ
Đông có ngày ngắn dưới 11,5 giờ sẽ ra hoa sớm. Cây đậu tương ưa ánh sáng
tán xạ, với lượng mây khoảng 6 - 7 phần bầu trời là rất thích hợp cho cây đậu
tương phát triển. Ánh sáng quyết định sự quang hợp của lá, sự cố định nốt sần
của rễ từ đó ảnh hưởng đến thời gian nở hoa, thời gian quả chín, đến chiều cao
của cây, diện tích lá và nhiều đặc tính khác của cây bao gồm cả sản lượng chất
khô và năng suất hạt.
Đậu tương là cây ngắn ngày điển hình nên độ dài của thời gian chiếu
sáng chính là yếu tố quyết định sự ra hoa. Đậu tương rất mẫn cảm với độ dài
của ngày, tác động của ánh sáng ngày ngắn mạnh nhất vào thời kỳ cây mới
có hai lá kép, thời gian sinh trưởng đến trước khi ra hoa, ánh sáng ngày ngắn
vào thời kì này làm cho cây rút ngắn thời gian sinh trưởng, chiều cao cây
giảm, số đốt ít và độ dài đốt giảm. Độ dài của ngày cũng tác động tới tỷ lệ
đậu quả, tốc độ lớn của quả. Đậu tương cũng rất nhạy cảm với cường độ ánh
sáng.
Nếu cường độ ánh sáng giảm từ 50% trở lên so với bình thường thì cây
sẽ bị giảm số cành, số đốt, quả, năng suất hạt có thể giảm 60%, ở mức độ

5000lux thì quả rụng nhiều. Cây đậu tương cần nhiều ánh sáng để quang hợp
nhất là thời kỳ ra hoa và hình thành quả, đây là điều kiện để đạt năng suất
cao. Yêu cầu số giờ nắng trung bình cho các thời kỳ sinh trưởng của cây đậu
tương như sau:
Gieo hạt - mọc mầm: 5,0 - 5,5 giờ/ngày; mọc mầm - ra hoa 4,5 - 5,0
giờ/ngày; ra hoa - chín quả: 4,0 - 5,0 giờ/ngày. Số giờ nắng ít hơn những giá
trị này là bất lợi. Điều kiện này cho thấy ở các địa điểm vùng núi cao, nắng
sớm muộn, nắng chiều chóng tắt, cây đậu tương thường bị rút ngắn thời gian
sinh trưởng nên năng suất thấp, kinh nghiệm nên chọn giống có thời gian
sinh trưởng dài >90 ngày để đạt năng suất cao. Trong điều kiện độ dài ngày
thích hợp, đậu tương chỉ cần 30% cường độ bức xạ mặt trời vì vậy đậu
19


tương có thể trồng xen các cây trồng khác, đây là một yếu tố quan trọng để
tăng vụ, tăng thu nhập trên 1 đơn vị diện tích. Nhưng yêu cầu là đậu tương
cần chín trước khi cây trồng chính khép tán.
Đậu tương là cây ngắn ngày rất mẫn cảm với ánh sáng. Yếu tố tiên
quyết để đậu tương có năng suất cao là phải đạt hiệu quả quang hợp cao
nhất. Vì vậy phải chăm sóc tốt để đậu nhanh chóng phủ kín đất, cây tiếp thu
được tối đa ánh sáng. Đậu có phản ứng với độ dài ngày, các giống khác nhau
phản ứng với độ dài ngày khác nhau.
* Nước
Trong thời kỳ sinh trưởng của đậu tương cần có một lượng mưa từ
350-600mm. Hệ số phát tán nước là 600-1000g/1g chất khơ, vì vậy vùng
sinh thái nào thời vụ trồng có lượng mưa thấp sẽ là yếu tố hạn chế đến năng
suất của đậu tương. Khi nảy mầm đất thiếu độ ẩm cây mọc không đều, thời
kỳ cây con thiếu nước kết hợp với gió khơ, nhiệt độ cao làm cho sự tăng
trưởng thân cành chậm, số đốt thân, cành ít, cành phát sinh kém. Nếu lượng
mưa nhiều thân cành dễ vươn vống, phân hoá hoa kém. Đặc biệt là thời kỳ

hạt phát triển, thiếu nước năng suất giảm rõ rệt.
Ẩm độ đất thích hợp cho thời kỳ nảy mầm đến khi cây có 2 lá kép là
60-70%. Khi cây có 3 lá kép đến hình thành quả, hạt cần ẩm độ từ 70-75%.
Ẩm độ khơng khí khi cây ra hoa thích hợp 75-80%, khi hình thành quả, hạt
cần 80-85%. Thời kỳ hạt chín cần ẩm độ 70-75%, ẩm độ đất thấp 65%, vì
vậy việc bố trí thời vụ sao cho có mưa vừa ở thời kỳ làm quả là tốt.
* Điều kiện đất đai
Đất trồng đậu tương thích hợp nhất là đất thịt nhẹ, tươi xốp, sâu màu,
thoáng, thoát nước, pH từ 6,5- 7,2. Đậu tương không sống được trên đất quá
chua, hoặc quá kiềm. Đất ít màu, chua vẫn có thể trồng được, nhưng phải
thốt nước, bón nhiều lân và vôi [11].

20



×