Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

Khai thác giá trị nghệ thuật tuồng xứ quảng trong phát triển du lịch thành phố đà nẵng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (6.14 MB, 112 trang )

1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
---------------------------------

ĐINH LÊ NGỌC OANH

KHAI THÁC GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TUỒNG XỨ QUẢNG
TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số: 8310630

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. TS. Trần Thị Mai An

Đà Nẵng - Năm 2022


2

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành Luận văn, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ từ các
cá nhân và tổ chức.
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS. Trần Thị
Mai An đã định hướng nghiên cứu và hỗ trợ tận tình trong suốt q trình nghiên cứu của
tơi, hỗ trợ phương pháp nghiên cứu và phương pháp làm việc hiệu quả để vừa hồn


thành cơng việc tại đơn vị, vừa hồn thành nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn.
Tơi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến Lãnh đạo Trường Đại học Sư phạm, tập thể
thầy cô khoa Lịch sử và đơn vị tôi công tác đã tạo mọi điều kiện để tơi có cơ hội học hỏi
nâng cao nhận thức chuyên môn. Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn Sở Du lịch thành phố
Đà Nẵng, Nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh và các Phòng, Ban chức năng đã hỗ trợ,
cung cấp tài liệu, thơng tin để tơi có cơ sở nghiên cứu hồn thành Luận văn.
Tơi đã ln nỗ lực nghiên cứu để thực hiện Luận văn tốt nhất, tuy nhiên cũng
khơng tránh khỏi thiếu sót trong q trình và kết quả thực hiện, rất mong nhận được sự
thơng cảm và góp ý của q thầy cơ và bạn đọc để tơi từng bước hồn thiện hơn các
cơng trình của mình.
Trân trọng./.
Tác giả
Đinh Lê Ngọc Oanh


3

LỜI CAM ĐOAN
Tơi cam đoan đây là trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu
trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai cơng bố trong bất cứ cơng trình
nào khác.
Tác giả

Đinh Lê Ngọc Oanh


4

KHAI THÁC GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TUỒNG XỨ QUẢNG
TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG


Ngành: Việt Nam học (chuyên ngành Văn hóa du lịch)
Họ tên học viên: Đinh Lê Ngọc Oanh
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Mai An
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
Tóm tắt:
Nghệ thuật dân gian là một phần rất quan trọng trong nền văn hóa của cả một dân
tộc, mang trong mình những giá trị truyền thống, những sắc thái độc đáo tạo nên nét
riêng có và hấp dẫn của mỗi quốc gia. Trải dài trên 1.700 km từ Bắc vào Nam, mỗi vùng
miền, mỗi tộc người trên đất nước Việt Nam đều có những loại hình nghệ thuật dân gian
riêng biệt và ấn tượng, tạo nên bức tranh tổng hòa về nghệ thuật dân gian Việt Nam đa
dạng và quý giá, trong đó, nghệ thuật Tuồng ở khu vực Trung Bộ là một minh họa rõ
nét.
Tuồng là loại hình nghệ thuật thường kể lại những tích truyện lịch sử, về các danh
tướng, các biến cố của các triều đại. Nghệ nhân Tuồng được trang điểm rất nổi bật, “cá
tính hóa” với các màu sắc để phân biệt vai diễn: màu đỏ là trung thần, xám là nịnh thần,
xanh lục là hồn ma và đen là người thật thà. Cách nhá chữ, ngắt chữ, lên, xuống giọng
cho phù hợp với tính cách nhân vật đã tạo nên nhiều lối nói khác nhau như bóp, ai, đạp,
xuân nữ... hòa chung với điệu nhạc của từng vở Tuồng. Trong xu thế hội nhập toàn cầu,
giao lưu và phát triển du lịch như hiện nay, việc khai thác các loại hình nghệ thuật dân
gian nói chung để trở thành các sản phẩm du lịch đáp ứng thị hiếu du khách là xu hướng
phổ biến hiện nay.
Đà Nẵng là một trong những thành phố du lịch năng động, có lợi thế về hệ thống
cơ sở hạ tầng khang trang, đồng bộ, hiện đại; với cảng biển, sân bay quốc tế; là cửa ngõ
thứ 3 của cả nước đồng thời là điểm cuối ra biển Đông của tuyến hành lang kinh tế Đơng
- Tây. Cạnh đó, Đà Nẵng cịn là trung điểm của các di sản thế giới như Cố đô Huế, phố
cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, nên thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch
nhân văn. Vì vậy, trong những năm qua, thành phố này có xu hướng lồng ghép nghệ
thuật truyền thống vào các chương trình du lịch để khai thác như một sản phẩm du lịch,
tạo nét độc đáo riêng thu hút du khách. Thực tế, việc gắn kết giữa du lịch và các loại

hình nghệ thuật dân gian là mối quan hệ tương hỗ: du lịch nhờ loại hình nghệ thuật để


5

có thể thu hút thêm du khách, và các loại hình nghệ thuật cũng nhờ du lịch mà được
nhiều người biết đến, có thêm nguồn kinh phí để tiếp tục bảo tồn, phát huy và cải thiện
đời sống nghệ sĩ. Với bức tranh nghệ thuật Tuồng ở Đà Nẵng, việc khai thác giá trị loại
hình nghệ thuật này để phục vụ các hoạt động du lịch thành phố chưa tương xứng với
tiềm năng đang có: cơng tác quảng bá và tổ chức biểu diễn còn nhiều bất cập; cơ sở vật
chất chưa được đầu tư đúng mức...
Khai thác hiệu quả các giá trị nghệ thuật Tuồng xứ Quảng trong phát triển du lịch
sẽ giúp Thành phố đa dạng hóa các sản phẩm du lịch. Thông qua Tuồng giới thiệu đến
bạn bè quốc tế các giá trị đặc sắc về lịch sửa, văn hóa và con người của Đà Nẵng.
Từ khóa: Nghệ thuật truyền thống, Tuồng, Hát Bội, Hát Bộ, du lịch văn hóa


6

ENHANCING THE VALUE OF TUONG IN DA NANG CITY’S TOURISM
DEVELOPMENT

Major: Vietnamese studies (Specialization in Culture and Tourism)
Full name of Master’s student: Dinh Le Ngoc Oanh
Supervisor: Dr. Tran Thi Mai An
Training institution: The Univesity of Da Nang - University of Science and
Education
Abstract
Folk art is a very important part of the culture of an entire nation, imbued with
traditional values and unique nuances, creating unique and attractive characteristics of

each country. Stretching over 1,700 km from the North to the South, each region or each
ethnic group in Vietnam has its own distinctive and impressive folk art forms, creating
a comprehensive picture of Vietnam’s precious and diverse folk art, of which the art of
Tuong in the Central region is a clear illustration.
Tuong is an art form often recounting historical stories, stories about the famous
generals, events of the dynasties. A Tuồng artist is very prominent, "personalized" with
the colors to distinguish his role: red is for the loyal courtier, gray is for the sycophant
courtier, green is for the ghost and black is for the honest person. The ways of saying
words and tones suitable for characters' personalities have created many different ways
of speaking and are in harmony with the music of each play. In the current trend of
global integration, exchange and tourism development, enhancing folk art forms to make
them become tourism products to meet the tastes of tourists is a popular trend.
Da Nang is one of the dynamic tourist cities and has the advantages such as
possessing a spacious, synchronous and modern infrastructure system with international
seaports and airports, being the third gateway of the country and the end point to the
East Sea of the East-West Economic Corridor. Besides, Da Nang is also the center of
world heritages such as Hue Ancient Capital, Hoi An Ancient Town, My Son Sanctuary,
so it is favorable for the development of humanistic tourism. Therefore, over the past
years, this city has tended to integrate traditional art into tourism programs as a tourism
product, creating a unique feature to attract visitors. In fact, the connection between
tourism and folk art forms is a reciprocal relationship: tourism with the art forms can
attract more tourists, and through tourism, the art forms can be known and funded for
the preservation, promotion of the art and improvement of the artist's life. For the picture
of Tuong in Da Nang, the enhancement of the value of this art form to serve the city’s
tourism activities is not commensurate with the existing potential: the promotion and


7

organization of performances face inadequacies; facilities have not been properly

invested ...
Effectively enhancing the artistic values of Tuong in tourism development will
help the city diversify tourism products. Through Tuong, the unique values of Da Nang's
history, culture and people are introduced to international friends.
Keywords: Traditional art, Tuồng, Hát Bội, Hát Bộ, cultural tourism


8

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ..........................................................................................................1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................11
DANH MỤC BẢNG BIỂU .........................................................................................12
A. MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................................1
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ...............................................................................2
2.1. Mục đích ................................................................................................................2
2.2. Nhiệm vụ................................................................................................................2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ................................................................................3
3.1. Đối tượng ..............................................................................................................3
3.2. Phạm vi nghiên cứu ...............................................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu ..........................................................................................3
4.1. Phương pháp sưu tầm các nguồn tư liệu ..............................................................3
4.2. Phương pháp thống kê ..........................................................................................3
4.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu ...........................................................................3
4.4. Phương pháp khảo sát bằng các bảng hỏi ............................................................4
4.5. Phương pháp phỏng vấn sâu.................................................................................4
5. Lịch sử nghiên cứu .....................................................................................................4
6. Đóng góp của luận văn ..............................................................................................4
7. Bố cục luận văn ..........................................................................................................4

B. NỘI DUNG ................................................................................................................5
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ XỨ QUẢNG VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ...........5
1.1. Tổng quan về Tuồng xứ Quảng .............................................................................5
1.1.1. Khái niệm Tuồng...............................................................................................5
1.1.2. Nguồn gốc hình thành và lịch sử phát triển của Tuồng xứ Quảng ...............5
1.1.3. Những yếu tố cấu thành của nghệ thuật Tuồng .............................................8
1.1.3.1. Đề tài phản ánh ...........................................................................................8
1.1.3.2. Kịch bản Tuồng..........................................................................................10
1.1.3.3. Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật ................................................11
1.1.3.4. Hóa trang ...................................................................................................12
1.1.3.5. Đạo cụ, phục trang ....................................................................................14
1.1.3.6. Nhạc Tuồng ................................................................................................14


9

1.1.3.7. Cách hát, múa, diễn ...................................................................................17
1.1.3.8. Không gian diễn xướng..............................................................................20
1.1.4. Các đặc trưng của nghệ thuật Tuồng ...........................................................20
1.1.4.1. Tuồng thuộc loại kịch hát tự sự -bi hùng-bạo liệt .....................................20
1.1.4.2. Tuồng thuộc loại sân khẩu mô tả - ước lệ - tượng trưng...........................23
1.1.4.3. Tuồng thuộc loại sân khẩu cường điệu - đặc tả ấn tượng .........................25
1.2. Khái quát thành phố Đà Nẵng ............................................................................26
1.2.1. Đặc điểm địa lý, tự nhiên ...............................................................................26
1.2.1.1. Vị trí địa lý .................................................................................................26
1.2.1.2. Địa hình .....................................................................................................26
1.2.1.3. Khí hậu .......................................................................................................27
1.2.1.4. Thủy văn .....................................................................................................27
1.2.2. Điều kiện lịch sử, dân cư................................................................................28
1.2.2.1. Lịch sử........................................................................................................28

1.2.2.2. Dân cư........................................................................................................29
1.2.3. Điều kiện kinh tế, xã hội ................................................................................30
1.2.3.1. Kinh tế ........................................................................................................30
1.2.3.2. Thương mại ................................................................................................31
1.2.3.3. Tài chính .....................................................................................................31
1.2.3.4. Hạ tầng giao thông ....................................................................................31
1.2.4. Vài nét về hoạt động du lịch ..........................................................................32
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ..............................................................................................34
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG KHAI THÁC NGHỆ THUẬT TUỒNG XỨ
QUẢNG TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH ĐÀ NẴNG .........................................35
2.1 Các giá trị nghệ thuật Tuồng xứ Quảng ..............................................................35
2.1.1. Giá trị giải trí ..................................................................................................35
2.1.2. Giá trị nghệ thuật thẩm mỹ ...........................................................................35
2.1.3. Giá trị lịch sử ..................................................................................................37
2.1.4. Giá trị hiện thực ............................................................................................38
2.1.5. Giá trị nhân văn .............................................................................................39
2.2. Thực trạng khai thác nghệ thuật Tuồng trong hoạt động du lịch Đà Nẵng 40
2.2.1. Cơng tác tổ chức quản lí ................................................................................40
2.2.2. Cơ sở vật chất phục vụ du lịch nghệ thuật Tuồng ......................................43
2.2.2.1. Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh ............................................................43
2.2.2.2. Các điểm biểu diễn khác ............................................................................45


10

2.2.3. Thị hiếu của du khách ...................................................................................46
2.2.4. Kết quả khai thác nghệ thuật Tuồng trong hoạt động du lịch...................47
2.2.5. Hoạt động quảng bá nghệ thuật Tuồng .......................................................47
2.2.6. Nhân lực phục vụ du lịch ...............................................................................49
2.3. Nhận xét về thực trạng khai thác nghệ thuật Tuồng trong hoạt động du lịch

thành phố Đà Nẵng ......................................................................................................54
2.3.1. Những mặt tích cực ........................................................................................54
2.3.2. Những mặt hạn chế ........................................................................................56
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ..............................................................................................58
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC
NGHỆ THUẬT TUỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH ĐÀ NẴNG .............59
3.1. Định hướng, quy hoạch phát triển du lịch Đà Nẵng và công tác khai thác các
loại hình nghệ thuật phục vụ du lịch .........................................................................59
3.2. Một số giải pháp khai thác nghệ thuật Tuồng xứ Quảng trong hoạt động du
lịch Đà Nẵng .................................................................................................................63
3.2.1. Chính sách quan tâm, đãi ngộ đối với nghệ nhân ............................................63
3.2.2. Chú trọng việc truyền dạy nghệ thuật Tuồng...................................................66
3.2.3. Nâng cao chất lượng vở diễn và chất lượng phục vụ .......................................67
3.2.4. Công tác xúc tiến quảng bá về Tuồng ..............................................................68
3.2.5. Lồng ghép các buổi biểu diễn Tuồng trong các chương trình du lịch .............69
3.2.5. Xây dựng mới và nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ biểu diễn Tuồng 71
C. KẾT LUẬN..............................................................................................................72
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................74
PHỤ LỤC .....................................................................................................................79


11

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

UBND

Ủy ban nhân dân

NQ


Nghị quyết

KL

Kết luận

NSND

Nghệ sĩ nhân dân

NSƯT

Nghệ sĩ ưu tú

HCV

Huy chương vàng

GRDP

Gross Regional Domestic Product (Tổng sản phẩm nội địa theo
giá hiện hành)


12

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu bảng


Tên bảng

Trang

Bảng 2.1

Cán bộ viên chức - người lao động của Nhà hát Tuồng
Nguyễn Hiển Dĩnh giai đoạn 2017-2019

50

Bảng 2.2

Các vở và trích đoạn mới từ năm 2017-2019

51

Bảng 2.3

Số buổi biểu diễn Nghệ thuật Tuồng giai đoạn 20172019

52

Bảng 2.4

Số lượt người xem giai đoạn 2017-2019

53

Bảng 2.5


Thống kê doanh thu nhà hát

53


1

A. MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Nghệ thuật dân gian là một phần rất quan trọng trong nền văn hóa của cả một
dân tộc, mang trong mình những giá trị truyền thống, những sắc thái độc đáo tạo nên
nét riêng có và hấp dẫn của mỗi quốc gia. Trải dài trên 1.700 km từ Bắc vào Nam, mỗi
vùng miền, mỗi tộc người trên đất nước Việt Nam đều có những loại hình nghệ thuật
dân gian riêng biệt và ấn tượng, tạo nên bức tranh tổng hòa về nghệ thuật dân gian Việt
Nam đa dạng và quý giá, trong đó, nghệ thuật Tuồng ở khu vực Trung Bộ là một minh
họa rõ nét.
Tuồng là loại hình nghệ thuật thường kể lại những tích truyện lịch sử, về các danh
tướng, các biến cố của các triều đại. Nghệ nhân Tuồng được trang điểm rất nổi bật, “cá
tính hóa” với các màu sắc để phân biệt vai diễn: màu đỏ là trung thần, xám là nịnh thần,
xanh lục là hồn ma và đen là người thật thà. Cách nhá chữ, ngắt chữ, lên, xuống giọng
cho phù hợp với tính cách nhân vật đã tạo nên nhiều lối nói khác nhau như bóp, ai, đạp,
xuân nữ... hòa chung với điệu nhạc của từng vở Tuồng. Trong xu thế hội nhập toàn cầu,
giao lưu và phát triển du lịch như hiện nay, việc khai thác các loại hình nghệ thuật dân
gian nói chung để trở thành các sản phẩm du lịch đáp ứng thị hiếu du khách là xu hướng
phổ biến hiện nay.
Đà Nẵng là một trong những thành phố du lịch năng động, có lợi thế về hệ thống
cơ sở hạ tầng khang trang, đồng bộ, hiện đại; với cảng biển, sân bay quốc tế; là cửa ngõ
thứ 3 của cả nước đồng thời là điểm cuối ra biển Đông của tuyến hành lang kinh tế Đơng

- Tây. Cạnh đó, Đà Nẵng cịn là trung điểm của các di sản thế giới như Cố đô Huế, phố
cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, nên thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch
nhân văn. Vì vậy, trong những năm qua, thành phố này có xu hướng lồng ghép nghệ
thuật truyền thống vào các chương trình du lịch để khai thác như một sản phẩm du lịch,
tạo nét độc đáo riêng thu hút du khách. Thực tế, việc gắn kết giữa du lịch và các loại
hình nghệ thuật dân gian là mối quan hệ tương hỗ: du lịch nhờ loại hình nghệ thuật để
có thể thu hút thêm du khách, và các loại hình nghệ thuật cũng nhờ du lịch mà được
nhiều người biết đến, có thêm nguồn kinh phí để tiếp tục bảo tồn, phát huy và cải thiện
đời sống nghệ sĩ. Với bức tranh nghệ thuật Tuồng ở Đà Nẵng, việc khai thác giá trị loại
hình nghệ thuật này để phục vụ các hoạt động du lịch thành phố chưa tương xứng với
tiềm năng đang có: cơng tác quảng bá và tổ chức biểu diễn còn nhiều bất cập; cơ sở vật
chất chưa được đầu tư đúng mức...


2

Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn đề tài: Khai thác giá trị nghệ thuật Tuồng
xứ Quảng trong phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng làm luận văn tốt nghiệp thạc
sĩ với hy vọng sẽ đóng góp cơng sức và thêm một số ý tưởng cho việc nâng cao sức hấp
dẫn cho việc khai thác các giá trị của nghệ thuật Tuồng đối với hoạt động du lịch của
Đà Nẵng.
2. Lịch sử nghiên cứu
Nghệ thuật truyền thống luôn nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên
cứu. Tuy nhiên, đối với nghệ thuật Tuồng, đặc biệt là Tuồng ở Đà Nẵng thì chưa có
nhiều cơng trình nghiên cứu.
Về nghệ thuật Tuồng đã có tác giả Mịch Quang nghiên cứu từ khá sớm với cơng
trình “Đặc trưng nghệ thuật Tuồng” (1998) trình bày khái quát về các đặc trưng của bộ
môn nghệ thuật này từ các điệu, nghệ thuật trang điểm đến đặc điểm nhân vật….. Cơng
trình “Tổng quan về nguồn gốc hình thành nghệ thuật sân khấu Tuồng Việt Nam” của
Trần Thanh Trung năm 2011 đã đề cập về nguồn gốc, lịch sử của nghệ thuật Tuồng Việt

Nam. Ngồi ra, nghệ thuật Tuồng cịn được đề cập khái qt trong các khóa luận tốt
nghiệp như: “Tìm hiểu chính sách bảo tồn và phát huy nghệ thuật sân khấu Tuồng ở nhà
hát Tuồng Việt Nam” của sinh viên Trần Thị Huyền, Đại học KHXH & NV Hà Nội
(2010); “Đặc trưng nghệ thuật kịch bản Tuồng cung đình Huế” của Trường Trọng Bình
(2015); “Nghệ thuật Tuồng Đào Tấn trong hoạt động ngoại khóa cho sinh viên của
trường Đại học Quy Nhơn” của Hà Thị Thanh Xuân. Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu
này trình bày khái qt các khía cạnh khác nhau của nghệ thuật Tuồng, chưa đề cập đến
việc khai thác các giá trị này cho hoạt động du lịch tại địa phương. Chính vì vậy, trong
luận văn này, tác giả muốn nghiên cứu sâu các giá trị của nghệ thuật Tuồng và đề xuất
các giải pháp phát triển nghệ thuật Tuồng cũng như nâng cao hiệu quả khai thác nghệ
thuật Tuồng phục vụ phát triển du lịch của Thành phố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Đề tài Khai thác giá trị nghệ thuật Tuồng xứ Quảng trong phát triển du lịch thành
phố Đà Nẵng nhằm mục đích tìm hiểu giá trị nghệ thuật Tuồng xứ Quảng ở Đà Nẵng,
hiện trạng khai thác các giá trị ấy trong phát triển du lịch Thành phố và đề xuất các giải
pháp khai thác hiệu quả, phù hợp.
3.2. Nhiệm vụ
- Tìm hiểu nghệ thuật Tuồng xứ Quảng.


3

- Tìm hiểu các giá trị của nghệ thuật Tuồng có thể phục vụ cho hoạt động du lịch
của thành phố Đà Nẵng.
- Tìm hiểu thực trạng khai thác các giá trị nghệ thuật tuồng xứ Quảng phục vụ du
lịch tại thành phố Đà Nẵng.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sức hấp dẫn trong hoạt động du lịch thành
phố Đà Nẵng dựa trên việc khai thác giá trị của nghệ thuật Tuồng xứ Quảng.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng
Luận văn nghiên cứu loại hình nghệ thuật Tuồng xứ Quảng, các giá trị của nghệ
thuật Tuồng có thể phục vụ hoạt động du lịch của thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Nghệ thuật Tuồng xứ Quảng ở Đà Nẵng và các hoạt động khai thác
nghệ thuật này trong du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
- Thời gian: từ năm 2017 – 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp sưu tầm các nguồn tư liệu
Phương pháp này sử dụng để sưu tầm các tư liệu thành văn (từ sách, báo, tạp chí,
các trang thơng tin điện tử trong và ngồi nước), tư liệu hình ảnh... có liên quan đến
nghệ thuật Tuồng xứ Quảng và các mơ hình hình, giải pháp khai thác hiệu quả nghệ
thuật biểu diễn truyền thống phục vụ cho phát triển du lịch địa phương. Từ đó thực hiện
các kỹ năng: hệ thống hóa, phân tích, xử lý, đánh giá so sánh và tổng hợp tư liệu để phục
vụ mục đích nghiên cứu của luận văn.
5.2. Phương pháp thống kê
Phương pháp này sử dụng để xử lý có hệ thống các số liệu lượng khách, lượt
khách, doanh thu từ hoạt động nghệ thuật Tuồng, phiếu khảo sát đánh giá từ du khách...
5.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp này dùng để so sánh, đối chiếu giá trị nghệ thuật tuồng xứ Quảng
so với nghệ thuật tuồng Bắc, tuồng Nam hay các loại hình nghệ thuật truyền thống khác,
đồng thời so sánh với cách thức khai thác các giá trị nghệ thuật truyền thống ở các địa
phương, quốc gia khác, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển phù hợp.


4

5.4. Phương pháp phỏng vấn sâu
Đưa ra những câu hỏi cho cán bộ quản lý, nhà điều hành du lịch, khách du lịch
liên quan đến hoạt động khai thác các giá trị nghệ thuật Tuồng phục vụ du lịch.

6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là tài liệu tham khảo về nghệ thuật Tuồng xứ Quảng, các giá trị đặc
sắc của nghệ thuật Tuồng.
- Đánh giá thực trạng khai thác các giá trị của nghệ thuật Tuồng trong hoạt động
du lịch Đà Nẵng.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác giá trị nghệ thuật Tuồng trong
phát triển du lịch Đà Nẵng.
7. Bố cục luận văn
Gồm có 3 chương chính:
Chương 1. Tổng quan về Tuồng xứ Quảng và địa bàn nghiên cứu.
Chương 2. Thực trạng khai thác nghệ thuật tuồng xứ Quảng trong hoạt động du
lịch Đà Nẵng.
Chương 3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác giá trị nghệ thuật Tuồng
trong hoạt động du lịch.


5

B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TUỒNG XỨ QUẢNG VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về Tuồng xứ Quảng
1.1.1. Khái niệm Tuồng
Tuồng hay hát bội, hát bộ là một loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống của
dân tộc ta mang đậm âm hưởng hùng tráng với những tấm gương tận trung báo quốc,
xả thân vì đại nghĩa, những bài học về đạo lý, khí tiết của người anh hùng trong các
hoàn cảnh đầy mâu thuẫn và xung đột. Tuồng mang tính cổ điển khi phần lớn các vở
diễn được xây dựng dựa theo những tích truyện lịch sử mang tính khn mẫu. Tuồng
là loại sân khấu mang tính tổng hợp: ở đây các yếu tố ca, vũ, nhạc được phát triển một
cách hài hoà với nghệ thuật diễn xuất của diễn viên. Sự kết hợp tổng thể các yếu tố

này mang lại cảm xúc thẩm mỹ đặc biệt cho khán giả, giúp họ cảm nhận được sự tinh
tế của nghệ thuật Tuồng.
Nguồn gốc sân khấu Tuồng được lưu truyền từ lâu, nay mỗi vùng miền lại gọi
khác nhau: Hát bội là danh xưng được nhân dân ta gọi từ xưa, lại có những nơi gọi là
hát bộ. Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu thì trong sách Vũ Trung tùy bút của cụ
Phạm Đình Hổ khi viết về âm nhạc đã gọi sân khấu truyền thống của ta là phường
Chèo bội; Trong sách “Sự tích và Nghệ thuật hát Bộ” của cụ Đoàn Nồng lại gọi là hát
bộ, theo cách hiểu lối hát có ra bộ, ca ra bộ. Sau này, các nhà nghiên cứu chuyên ngành
sân khấu đều cho rằng ý kiến của cụ Phạm Phú Tiết về chữ Bội của Phạm Đình Hổ là
chữ bội nhị, bội tam (tăng lên) là thuyết phục, bởi nghệ thuật sân khấu hát bội được
cách điệu, ước lệ nhiều so với cuộc sống thường ngày [20].
Năm 1958, Bộ Văn hóa có văn bản thống nhất tên gọi hát bội là Tuồng. Vì thế,
cùng một loại hình nghệ thuật sân khấu nhưng có tên gọi khác nhau như Nhà hát Tuồng
Trung ương, Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiền Dĩnh, Nhà hát Tuồng Đào Tấn, Nhà hát
Tuồng Khánh Hòa... nhưng ở thành phố Hồ Chí Minh vẫn gọi là Nhà hát nghệ thuật
Hát bội.
1.1.2. Nguồn gốc hình thành và lịch sử phát triển của Tuồng xứ Quảng
Nguồn gốc và lịch sử phát triển của nghệ thuật Tuồng cũng như của nghệ thuật
sân khấu cổ đại Việt Nam nói chung hiện nay vẫn còn là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
lâu dài. Vẫn còn rất nhiều ý kiến tranh luận khác nhau về thời điểm ra đời của loại hình
nghệ thuật sân khấu này.


6

Nhà nghiên cứu Hồ Lãng cho rằng Tuồng chỉ có thể có từ thế kỷ thứ XVIII (trong
bài “Để tìm hiểu về lịch sử Tuồng” đăng trong tạp chí Nghiên cứu văn học số 1 năm
1971). Nhà nghiên cứu Văn Tân thì lại định nghĩa chữ Tuồng trong Từ điển tiếng Việt
như sau: “Nghệ thuật sân khấu cổ của Trung Quốc, truyền vào Việt Nam” [56].
Giáo sư Phan Huy Lê có quan điểm: Về nghệ thuật sân khấu thì thế kỷ XV, Tuồng

và Chèo khá phát triển. Vấn đề nguồn gốc của Tuồng và Chèo lâu nay vẫn có nhiều kiến
giải khác nhau, nhưng theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật gần đây
thì Tuồng và Chèo là những nghệ thuật cổ truyền của dân tộc xuất hiện từ rất sớm. Tuồng
và Chèo là những nghệ thuật sân khấu kết hợp ca kịch với vũ đạo, mang nhiều bản sắc
dân tộc.
Trong buổi đầu thời Lê sơ, hát Tuồng vẫn được biểu diễn trong cung đình, khơng
những để mua vui cho vua quan trong những buổi yến tiệc hội hè, mà còn dùng cho
những buổi tế lễ, thiết triều nữa. Hoàng Châu Ký trong cuốn sách Sơ khảo lịch sử nghệ
thuật Tuồng đã bác bỏ ý kiến Tuồng xuất hiện vào thời Lê sơ do tác giả nhận thấy “Nếu
chỉ dựa vào những điểm như phong cách tự sự, loại sân khấu có hát và múa, thậm chí
dựa vào các chi tiết hơn một chút như hát có ngâm thơ, phú, hoặc hát có vãn via, múa
sử dụng cả tay, chân như Tuồng hiện nay mà nói là Tuồng thì chưa thực sự xác đáng,
vì những đặc điểm này khơng chỉ Tuồng mới có”. Và tác giả đã đã ngược dòng lịch sử
để thấy được nếu đỉnh cao của Tuồng là thời Nguyễn thì Tuồng chỉ có thể hình thành
trong thời Lê mạt [30].
Nói chung ý kiến của các nhà nghiên cứu còn chưa thống nhất, nhưng tất cả đều
chung quan điểm là Tuồng xuất hiện sớm trong lịch sử Việt Nam. Tuy rằng hát Tuồng
bị bài xích ra khỏi cung đình vào năm 1437, sau khi Lương Đăng đã chế định ra nhã
nhạc, khơng cịn được biểu diễn trong những nghi lễ của triều đình, nhưng Tuồng tất
nhiên vẫn còn được sử dụng như một trò chơi giải trí mua vui của tầng lớp quý tộc. Và
Tuồng vẫn được phát triển và phổ biến trong dân gian. Về sau, chúng ta thấy nghệ
thuật Tuồng phát triển ở Đàng Trong khá mạnh, từ thế kỷ XVIII. Vì vốn được nhân
dân yêu mến, phổ biến rộng rãi trong nhân dân, lại được chính quyền chúa Nguyễn
chủ trương phát triển để phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của họ nên nghệ thuật Tuồng
đã tiến lên một bước mới rực rỡ. Ở Đàng Ngồi thì nghệ thuật này vẫn được phát triển
trong dân gian.
Nghệ thuật Tuồng có những biến đổi rất quan trọng, nhất là nửa sau của thế kỷ
XIX. Ba dịng Tuồng (cung đình, sĩ phu u nước, dân gian) song song phát triển và tồn
tại là hiện tượng mới chưa từng có trong lịch sử. Tuồng là một trong những loại hình
nghệ thuật sân khấu tổng hợp, gồm có văn học, hội họa, âm nhạc, múa, trị diễn,...; là



7

một trong những loại hình âm nhạc dân gian chuyên nghiệp, cũng như Chèo, ca trù, cải
lương, hát văn, nhạc cung đình,...
Theo Hồng Châu Ký (1973), Sở VHTT tỉnh Quảng Nam (2001), Vũ Đức Sao
Biển (2010), Tuồng xứ Quảng với không gian tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng và Quảng
Ngãi, xuất hiện và phát triển từ đầu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII. Mở đầu là hoạt
động của hai gánh hát Đức Giáo (nay thuộc xã Quế Châu, huyện Quê Sơn) và gánh hát
Khánh Thọ (nay thuộc xã Tam Thái, huyện Phú Ninh) ra đời vào khoảng đầu thế kỷ
XIX và có nguồn gốc từ Tuồng cung đình Huế. Đến khoảng những năm 70 của thế kỷ
XIX, ở Quảng Nam và Đà Nẵng đã hình thành nên một số vùng Tuồng khá tiêu biểu
như Tiên Phước, Nông Sơn, Điện Bàn, Hội An, Đại Lộc, Túy Loan, Miếu Bông. Sang
đầu thế kỷ XX đến năm 1920 là giai đoạn phát triển rực rỡ của các rạp hát ở Quảng Nam
và một loạt các trường Tuồng ở Đà Nẵng như Miếu Bông, chợ Chức, quản lý tương đối
nề nếp, quy mô từ lực lượng diễn viên đến trình độ biểu diễn. Theo nhận định của nhiều
nhà nghiên cứu như Mịch Quang (1995), Sở VHTT tỉnh Quảng Nam (2001).., Tuồng ở
Đà Nẵng trong giai đoạn này có bản sắc riêng, khơng bị pha tạp. Tuy nhiên, giai đoạn
này chỉ kéo dài khoảng 20 năm rồi nhường cho sự xuất hiện của nghệ thuật Cải lương
có nguồn gốc từ Nam bộ [4], [55].
Từ năm 1920 đến Cách mạng tháng Tám 1945, nghệ thuật Tuồng ở Đà Nẵng tồn
tại hai xu hướng là trung thành với những giá trị truyền thống của Tuồng hoặc đổi mới.
Tiêu biểu cho xu hướng trung thành với giá trị truyền thống là sự ra đời Quảng Hiệp
Ban Lới, Nam Ô ... Tiêu biểu cho xu hướng đổi mới là gánh hát Ý Hiệp Ban với việc
tiếp thu toàn bộ những cái mới của nghệ thuật Cải lương bấy giờ để làm phong phú hơn
nghệ thuật Tuồng, mở ra giai đoạn Tuồng kiếm hiệp, Tuồng tiểu thuyết hay Tuồng xuân
nữ của Đà Nẵng, Quảng Nam (từ năm 1935 trở đi). Trong giai đoạn này, các vở Tuồng
xuân nữ với các chủ đề về tình yêu cá nhân và câu trúc kiểu màn, lớp theo phương Tây
thu hút được nhiều khán giả, đặc biệt là khán giả trẻ thời bấy giờ.

Từ năm 1945 - 1954 nghệ thuật Tuồng ở Đà Nẵng khai thác loại đề tài đấu tranh
yêu nước, cứu quốc, tuy nhiên sau đó phần lớn các nghệ sĩ tham gia vào kháng chiến
chống Pháp, phục vụ chiến đấu nên các đoàn hát tan rã. Đến năm 1952, Đoàn hát
Tuồng thuộc khu tuyên truyền và văn nghệ Khu ủy Liên khu V được thành lập. Năm
1967, Đoàn Tuồng Giải phóng Quảng Nam được ra đời. Đến năm 1992, Nhà hát Tuồng
Nguyễn Hiển Dĩnh được thành lập thuộc UBND tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng và trở
thành đơn vị nghệ thuật của thành phố Đà Nẵng vào năm 1997. Nghệ thuật Tuồng xứ
Quảng ở Đà Nẵng được vinh dự xếp hạng là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào
năm 2015.


8

1.1.3. Những yếu tố cấu thành của nghệ thuật Tuồng
Nghệ thuật tuồng xứ Quảng cũng giống như tuồng Việt Nam, mang nhiều nét đặc
sắc, dễ phân biệt so với các loại hình nghệ thuật truyền thống khác mà chúng ta có thể
dễ dàng nhận thấy từ đề tài phản ánh, kịch bản, hình tượng nhân vật, hóa trang, đạo cụ
trang phục cho đến nhạc tuồng, cách múa diễn đều mang những giá trị nghệ thuật đặc
sắc thu hút người xem.
1.1.3.1. Đề tài phản ánh
Với cấu trúc kịch bản Tuồng được xây dựng theo dịng tự sự phương Đơng chia
Tuồng thành 2 dịng Tuồng trong cung đình và Tuồng ngồi cung đình.
Đối với Tuồng trong cung đình, đề tài phản ánh của dòng Tuồng này thường tập
trung vào mối quan hệ chính trị, triều đình phong kiến với hai phe là chính diện và phản
diện Tuồng mang theo âm hưởng hùng tráng với những tấm gương tận trung báo quốc,
xả thân vì đại nghĩa, những bài học về lẽ ứng xử của con người giữa cái chung và cái
riêng, giữa gia đình và Tổ quốc, chất bi hùng là một đặc trưng thẩm mỹ của Tuồng. Lực
lượng chính nghĩa, trong những tình huống gian khổ, hiểm nguy, đã chiến đấu vơ cùng
dũng cảm với một tín niệm sắt đá, thủy chung, với một khát vọng rất lớn. Họ chiến đấu
cho một lý tưởng tuyệt đối (phục nghiệp cho dòng vua cũ) và bằng một lịng trung thành

vơ hạn độ. Cuộc chiến đấu của họ đã diễn ra đầy khí thế hào hùng, gây xúc cảm thẩm
mỹ mạnh mẽ. Có thể nói, Tuồng là sân khấu của những người anh hùng. Trong những
hoàn cảnh đầy mâu thuẫn và xung đột bạo liệt bi ai các nhân vật chính diện của Tuồng
đã vươn lên thốt khỏi sự chế ngự của hồn cảnh, hành động một cách dũng cảm, anh
hùng, trở thành một tấm gương, một bài học cho người đời ngưỡng mộ noi theo. Tuỳ
theo từng giai đoạn lịch sử mà Tuồng có nhiều loại chủ đề khác nhau, nhưng chủ đề tồn
tại khá lâu và chiếm được cảm tình của người xem là “phị vua diệt nguỵ”. Đề tài Tuồng
cung đình khơng chỉ phản ánh những sự kiện trong cung đình mà là bao gồm cả những
chuyện xảy ra trong mối quan hệ (chủ yếu là quan hệ chính trị) giữa các phe phái phong
kiến nói chung. Vở Tuồng mở đầu thường bằng cảnh triều đình đang nằm trong một
trạng thái bình yên tương đối, tuy vua đã già yếu và mầm mống phản loạn đã có, tức là
đã có phe phản thần do tên thái sư dẫn đầu. Đứng về kịch mà nói, thì như thế mâu thuẫn
kịch đã có từ đầu. Sau đó vua băng hà, hồng tử cịn bé hoặc chưa được sinh. Tên gian
thần kia bèn tiếm ngôi vua. Cũng có trường hợp, bọn gian thần tiếm ngơi vua trong lúc
vua còn sống nhưng yếu thế. Như thế là xung đột bắt đầu và phát triển. Tình thế ngày
càng gay go, ác liệt. Bọn gian thần chiếm ngôi vua xong, xúc tiến mọi biện pháp hoặc
thô bạo để trừ diệt dòng vua cũ hoặc trấn áp các phe phái đối lập. Các trung thần trải
qua rất nhiều hiểm nguy gian khổ, tìm mọi cách để cứu hồng tử khỏi nanh vuốt của kẻ


9

thù, rồi đưa ra một nơi biên trấn, hiểm địa, chiêu binh mãi mã, sau đó dùng ngọn cờ
danh nghĩa của hồng tử về đánh hạ bọn chiếm ngơi để phục nghiệp cho dòng vua cũ.
Trước khi đi đến thắng lợi cuối cùng, phe trung thần đã trải qua rất nhiều hy sinh gian
khổ, kể cả thương vong, biểu hiện một khí tiết trung trinh, kiên cường vơ hạn. Xã hội
được phản ánh trong loại tuồng này là một xã hội phong kiến đã suy tàn, giai cấp phong
kiến quan liêu đã chia bè xẻ cánh, tranh giành cấu xé lẫn nhau quyết liệt. Không những
thế, ngay trong bản thân nhiều gia đình đại phong kiến cũng xảy ra những sự bất đồng
chính kiến trầm trọng đi đến phân biệt cha con, giữa vợ chống, giữa anh chị em ruột,…

Tuy thế các mối chia rẽ nói trên tựu chung chỉ có hai phe, một phe trung với dịng vua
cũ, được xem là chính thống, và một phe phản thần.
Mâu thuẫn xã hội biểu hiện trong loại Tuồng này là mâu thuẫn phong kiến nội
địa, khơng có ngoại xâm. Ngoại xâm nếu có cũng chỉ là chi tiết phụ và thơng thường,
chỉ là cái cớ để đưa tình tiết kịch phát triển.
Bên cạnh dịng Tuồng cung đình, cịn có dịng Tuồng ngồi cung đình. Dịng
Tuồng ngồi cung đình bao gồm của các sĩ phu và dân gian. Về sĩ phu phải kể đến từ
tưởng yêu dân, yêu nước của Tống Phước Phổ và ý tưởng dùng nghệ thuật phục vụ nhân
sinh được thể hiện rõ nét trong từng nội dung của những sáng tác Tuồng của ơng. Ơng
đã dùng cây bút và sân khấu để làm sống lại những trang sử hào hùng của dân tộc ta về
Trưng Nữ Vương, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Lục Vân Tiên. Ngoài ra, dịng
Tuồng ngồi cung đình cịn có các chủ đề như đề cao nho sinh, người nghèo (vở Kim
thạch kỳ duyên: “Phú quý bát năng dâm, bản tiên bất năng đi, uy vũ bắt năng khát” hay
đề cao anh hùng chống kẻ bạo ngược hung tàn được nhân dân ủng hộ và có kết cục hạnh
phúc (vở Triệu Khánh Sanh), nêu cao khí tiết anh hùng, lịng khao khát và tình bạn chiến
đấu, đề cao chữ hiếu chữ tình nhưng vẫn trịn chữ trung. Những chủ đề này mang tư
tưởng tình cảm rất gần gũi với nhân dân, thốt khỏi khơng khí quân vương nặng nề, để
cập nhiều hơn đến những mối quan hệ xã hội bình thường như vợ chồng, bạn bè, anh
em. Ý nghĩa, nội dung mà các tác giả muốn hướng đến là kêu gọi con người hãy giữ
vùng giáo dục mặc dù xã hội hỗn loạn.
Dòng Tuồng dân gian hay còn gọi là Tuồng đồ phản ảnh trực tiếp tư tưởng, tình
cảm của nhân dân. Tình hình xã hội tác động mạnh mẽ đến tư tưởng tình cảm của nhân
dân, làm thay đổi cách nhìn của họ đối với chế độ phong kiến. Tuồng đỏ thường mang
tính chất hài kịch, châm biến, tái diễn lại xã hội vừa phê phán các thói hư tật xấu trong
dân gian: trộm cắp, gian lận, trai gái... lại vừa vạch trần một phần xã hội phong kiến suy
tàn, bất lực. Bên cạnh đó lại đề cao tình cảm mộc mạc, giản dị giữa người với người.


10


1.1.3.2. Kịch bản Tuồng
Tuồng thuộc dịng kịch hát phương Đơng nên quan điểm sáng tác của các kịch
gia là kể lại câu chuyện đã qua đầy kịch tính. Vì đây là tự sự, thuật lại nên bên trong
kịch bản còn có nhận xét tính chất, giá trị của sự kiện, nhân vật, phân biệt rạch ròi trắng
- đen, phản diện - chính diện mà nhân dân cơng nhận. Kịch bản Tuồng thuộc văn học
tự sự và chủ yếu là tự sự trữ tình.
Từ điển văn học Việt Nam trình bày việc Đào Duy Từ đã có cơng xây dựng
nghệ thuật Tuồng và là người khởi thảo vở Tuồng Sơn Hậu, kịch bản thành văn đầu
tiên thuộc thể loại bi hùng kịch [25]. Đa phần kịch bản Tuồng cổ đều viết bằng chữ
Nôm chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, văn học, triết học, ngơn ngữ trong từng
câu chữ, ca từ, lời thoại. Đặc biệt thời nhà Nguyễn, nghệ thuật biểu diễn Tuồng trở
thành “quốc kịch” nên việc sáng tác các kịch bản Tuồng thu hút rất nhiều giới vua
quan, trí thức. Tùy theo từng giai đoạn lịch sử mà đề tài có thay đổi cho phù hợp như
thời nhà Nguyễn ở Đàng Trong tập trung vào đề tài “phò vua diệt ngụy” - đề tài này
phát triển khá lâu và chiếm được cảm tình của người xem trong suốt thời gian dài với
các vở: Sơn Hậu, Dương Chấn Tử, Giác oan, An Trào kiếm, Tam nữ đồ vương, Hồ
Thạch phủ,... Ngôn ngữ văn học của các loại kịch bản Tuồng này thường được trau
chuốt, chọn lọc những chi tiết nổi bật, cầu kỳ, mang dáng dấp đồ sộ và tính bác học
cao. Ngày nay đa phần các vở này vẫn được lưu truyền và biểu diễn, tiêu biểu cho
nghệ thuật Tuồng Đàng Trong.
Về cấu trúc kịch bản Tuồng đều trình bày có đầu, có đi và theo trật tự thời
gian phát triển của nó, chứa đựng tính xung đột rất cao. Mỗi kịch bản đều chia làm 3
hồi, hồi thứ nhất nói chung là giao đãi hồn cảnh và nhân vật chủ yếu nêu ra mâu thuẫn
chủ yếu của kịch. Hồi thứ 2, xung đột nổ ra quyết liệt, phe đối lập đánh đổ phe chính
diện và giành ưu thế, tình huống kịch ở hồi này rất phức tạp, rắc rối. Hồi thứ 3, xung
đột lên cao trào, đấu tranh giữa 2 phe đi đến quyết liệt, cao độ rồi giải quyết xung đột
bằng sự thắng lợi của phe chính nghĩa. Kịch bản Tuồng ngồi cung đình gồm có dịng
Tuồng của những tác giả, sĩ phu ngồi cung đình và dịng Tuồng của dân gian. Vùng
đất Nam Trung Bộ là nơi đã vun đắp cho nghệ thuật Tuồng phát triển với các tác giả
nổi tiếng như Nguyễn Hiển Dĩnh, Đào Tấn, Tống Phước Phổ, qua các vở Tuồng tiêu

biểu được nhiều khán giả đón nhận và đánh dấu mốc quan trọng cho sự phát triển của
bộ môn nghệ thuật này như: Lâm Sanh - Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa, Kiểu
Quốc Sĩ, Cờ giải phóng, Gương liệt nữ.
Kịch bản dịng Tuồng dân gian với ngơn ngữ giản dị, văn chương mang tính
dân gian rõ rệt hịa vào cuộc sống tình cảm và làm vũ khí về mặt tinh thần cho nhân


11

dân. Dòng Tuồng này đã để lại các vở vẫn còn lưu diễn đến ngày nay như Châu Nam
- Trần Nghĩa Xa vị, Nghêu Sò Ốc Hến. Các loại Tuồng ngồi cung đình thường chỉ
viết thành từng vở lẻ vừa đủ diễn một buổi tối chứ không viết thành pho, tính phổ cập
cho nhân dân cũng dễ dàng hơn.
1.1.3.3. Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật
Trước hết đối với kịch bản Tuồng thuộc dòng tự sự, mọi diễn biến của câu chuyện
tập trung vào cách diễn của diễn viên, bởi vậy việc xây dựng hình tượng nhân vật rất
quan trọng. Các tuyến nhân vật làm cho kịch bản phong phú hơn, diễn biến tâm lý cũng
sẽ toát lên nhân cách của nhân vật. Nhưng ở mỗi dòng Tuồng đều có những motif chung
nên hình tượng nhân vật cũng được xây dựng dựa trên những tiêu chuẩn của xã hội đặt
ra, đáp ứng yêu cầu của giai cấp thống trị và nhân dân.
Ở dịng Tuồng cung đình phục vụ cho giai cấp thống trị, nhân vật lý tưởng của
loại Tuồng cổ là con người anh hùng trung quân hi sinh tất cả để phục vụ cho vua bởi
theo thuyết của Nho giáo, hệ tư tưởng chủ đạo thời phong kiến, vua chính là con trời,
thay mệnh trời để trị dân, cai quản đất nước. Về phe chính diện, chủ yếu là hướng đến
“phò vua diệt ngụy”, tất cả mọi hành động của nhân vật đều xoay quanh chủ đề đó,
những chi tiết phụ liên quan đến hoàn cảnh riêng tư khơng được nhắc đến. Hình tượng
nhân vật ở phe chính diện mang sắc thái oanh liệt, kiên cường, hội đủ các yêu tố mà Nho
giáo đề ra như “tam cương, ngũ thường”, chính danh là nguyên liệu để gọt giũa hình
tượng nhân vật ở phe chính thống này. Ngược lại, hình tượng nhân vật ở phe phản diện
được xây dựng trên những tiêu chuẩn đối nghịch với phe chính diện. Đó là gian thần

muốn cướp ngơi hay nịnh hót, phản thầy, phản bạn đi ngược lại tư tưởng Nho giáo đã
đề ra.
Dịng Tuồng ngồi cung đình có hình tượng nhân vật bình dị, gần gũi với nhân
dân, khơng phải chỉ sống bằng lý tính khơ khan mà cịn bộc lộ những tình cảm bình
thường của con người như tình yêu thiêng liêng của Kỳ Lan Anh đối với chồng (vở Hộ
sinh đàn) hay nhân vật công chúa Trại Hoa với những diễn biến tình cảm u thương,
hờn giận, níu giữ chồng ngay giữa đường như bất kỳ một người phụ nữ bình thường
trong xã hội. Tuồng cũng là một vũ khí chiến đấu về mặt tinh thần của nhân dân bởi vậy
không đặt nặng tư tưởng Nho giáo, phe phái, hình tượng nhân vật trong Tuồng dân gian
được nhân dân yêu quý và xây dựng nên là người anh hùng có chí khí, có đạo đức, dám
đứng lên chống lại bọn cường hào, ác bá.
Bên cạnh hình tượng anh hùng áo vải, cịn có các motif nhân vật khác được nhân
dân đề cao là: Nho sinh có hiếu, có nghĩa nhưng vẫn giữ được chữ trung hay người phụ


12

nữ bé nhỏ nhưng được coi trọng trong xã hội, họ cần được quyền yêu thương. Mọi tâm
tư, nguyện vọng và hiện thực đời sống xã hội là nguyên liệu để xây dựng nên hình tượng
nhân vật trong dịng Tuồng dân gian.
1.1.3.4. Hóa trang
Nghệ thuật Tuồng truyền thống có những quy định nghiêm ngặt về cách hóa trang
tương ứng với từng nhân vật, vai diễn. Đặc điểm nổi bật nhất của hóa trang trong Tuồng
là kẻ mặt. Nguồn gốc của kẻ mặt có lẽ là nhảy múa có đeo mặt nạ của thời cổ đại. Nếu
khơng nghiên cứu, có thể dễ hiểu lầm là hóa trang Tuồng ta xuất phát từ sự bắt chước
kinh kịch Trung Quốc. Điều đó hồn tồn khơng đúng. Tra cứu trong các lối kẻ mặt của
các loại hí khúc Trung Quốc, khơng có loại mặt kẻ nào giống mặt kẻ của Tuồng ta, kể
mặt những nhân vật Trung Quốc như Trương Phi, Hoàng Phi Hổ...
Sự xuất hiện của nghệ thuật hóa trang, do hai yêu cầu sau đây của sân khấu
Tuồng: Đầu tiên là yêu cầu phản ánh hiện thực sinh động bằng những con người đa

dạng. Thứ hai là yêu cầu giới thiệu sự quy định tính cách nhân vật một cách đơn giản,
thay thế cho quá trình giới thiệu lý lịch. Cơ sở lý luận hóa trang của Tuồng ta là khoa
xem tướng mặt. Ngoài sự phát triển dị đoan, huyền hoặc của nó, ta phải thừa nhận là
khoa xem tướng mặt có một cơ sở hiện thực. Nó xuất phát từ sự nghiên cứu các nếp
nhăn trên mặt, các hình dáng của mắt, mũi, mồm, lơng mày... tương ứng với tính cách
của các hạng người rồi hệ thống nó lại thành những lý luận theo kinh nghiệm.
Hóa trang Tuồng ta dựa vào sự hệ thống ấy của khoa xem tướng mặt, phối hợp
với tục lệ đeo mặt nạ nhảy múa của thời cổ đại, dùng các quy tắc của hội họa cổ đại, vừa
cách điệu vừa cường điệu các đường nét ấy lên để giới thiệu sự quy định tính cách nhân
vật của đạo diễn. Đây là bộ phận mang tính ước lệ nhiều nhất trong Tuồng. Cách hóa
trang từng loại nhân vật trong Tuồng ta khơng cố định. Nó thay đổi tùy theo sự quy định
tính cách nhân vật của đạo diễn. Cho nên, giữa các nhóm diễn viên học các thầy khác
nhau, hoạt động ở những địa phương khác nhau, thường có cách hóa trang khác nhau.
Sự khác nhau về hóa trang ln ln kèm theo một sự khác nhau về thể hiện. Cơng việc
hóa trang là điểm nổi bật của nghệ thuật Tuồng, diễn viên Tuồng thường tự hóa trang
cho chính mình để phù hợp với vai diễn trên sân khấu và trang điểm theo những quy tắc
của bộ môn nghệ thuật này. Qua màu sắc da của con người, Tuồng đã cách điệu và đưa
nó vào cách kẻ mặt của nhân vật. Cũng giống như trong ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam,
thường nói một cách mang tính chất cường điệu, phóng đại và Tuồng đã đưa vào cách
sử dụng màu sắc trên mặt của nhân vật: đen thật đen, đỏ thật đỏ, trắng thật trắng. Cách
kẻ đường nét trên mặt nhân vật dựa vào các đường nét tự nhiên trên mặt của từng người
hình dạng khn mặt để kẻ. Màu sắc còn để chỉ nơi xuất thân của nhân vật, như: các


13

nhân vật mặt màu trắng thì phần nhiều để chỉ người đó xuất thân nơi thành thị. Các nhân
vật mặt màu đỏ thì phần nhiều xuất thân nơi vùng biển. Các nhân vật mặt màu đen phần
nhiều là xuất thân ở vùng núi. Nhưng màu sắc trên mặt nhân vật nhiều lúc cũng biến
chuyển theo hoàn cảnh sống của nhân vật, như nhân vật Châu Thương: khi còn ở núi thì

kẻ mặt màu đen, khi đã về với Quan Cơng một thời gian chuyển sang mặt màu xám, đến
lúc đã hiển thánh thì kẻ mặt màu xám nhạt và trên mặt có điểm thêm những chấm đỏ.
Màu trắng chủ yếu dành cho các nhân vật nữ và các nhân vật nam thư sinh, các nhân vật
xuất thân nơi thành thị. Mặt màu đỏ nói lên tính cách nhân vật thuộc loại tướng, những
người can trung nghĩa.
Với những đặc điểm đó, ngày xưa đã có những quy ước về tính cách của từng
nhân vật, nên khi một nhân vật xuất hiện trên sân khấu thì khán giả xem Tuồng đã biết
đó là loại nhân vật gì. Để hóa trang một khn mặt cần có rất nhiều dụng cụ gọi chung
là phẩm liệu hóa trang. Ngày xưa, chỉ có những tầng lớp vương giả mới có những phẩm
liệu hóa trang làm từ tự nhiên bởi công việc này không phổ biến và không sản xuất đại
trà. Diễn viên Tuồng phải khéo léo, sáng tạo ra những phẩm liệu hóa trang để phục vụ
cho nghệ thuật gồm có: một âu phấn trắng (phấn chì), một âu phấn đó (kim ngân), một
âu bột đen, một chai dầu dừa hoặc dầu phụng. Những quy định của nghệ thuật Tuồng
về hóa trang dành cho các nhân vật rất rõ ràng, mỗi màu sắc khuôn mặt tương ứng cho
một tính cách nhân vật mang khn mặt đặc sắc như mặt đó là anh hùng nghĩa khí, trung
liệt (Quan Cơng, Cao Hồi Đức), mặt hồng lợt là quan văn trung (Nhứt Điện), mặt trăng
mốc (Tào Tháo, Tư Mã Ý), mặt trắng xen châm đó là tướng võ nịnh (Tạ Thiên Lang),
mặt điểm son 2 gò má là thần tiên, một rắn rết xen đó là yêu ma (Võ Hùng Vương), mặt
xanh chàm là tướng núi,...
Ngồi ra cịn hóa trang mắt: mắt tròn xéo là kép võ trẻ con nhà tướng (Trịnh Ấn
lúc nhỏ). Về vẽ mày: có mày tầm là anh hùng (Đồng Kim Lân), mày đoán là kẻ gian xảo
(Thái Ngan), mày rô là kẻ nịnh thần (Tạ Ơn Đình), mày lửa là người nóng tính (Triệu
Tử Cung)... Về vẽ, chúng ta sẽ gặp các loại như râu suôn dài là người đôn hậu (Khương
Linh Tá), râu đen xoắn là người dữ dằn (Châu Xương), râu liên tu đen là kẻ gian nịnh
(Tạ Thiên Lang), râu liên tu bạc là lão tương anh hùng (Tạ Ngọc Lân), râu dê là kép hề...
Ngồi ra cịn có các vai giả thú như Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Ngưu Thần,... thì
phải trang điểm theo các nét vẽ của loại thú đó. Bởi vậy, diễn viên Tuồng cả nam lẫn nữ
đều rất khéo léo trong việc hóa trang để tốt lên được cái hồn, sắc thái nhân vật thông
qua thị giác đưa đến khán giả.



×