Tải bản đầy đủ (.pdf) (27 trang)

TT Thực hiện pháp luật về quyền học tập của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay.pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (546.38 KB, 27 trang )


Cơng trình được hồn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Cảnh Quý
PGS. TS. Tào Thị Quyên

Phản biện 1:……………………………………………….
Phản biện 2:……………………………………………….
Phản biện 3:………………………………………………

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án
cấp Học viện họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Vào hồi...... giờ....... ngày...... tháng...... năm 20.....

Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia và
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền học tập của người DTTS là vấn đề quan trọng được ghi nhận
trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Ở nước ta, QHT
của người DTTS được trang trọng ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp
theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Hiến pháp năm 2013 tại Điều 39 ghi
nhận: “Cơng dân có quyền và nghĩa vụ học tập”; tại Điều 61 ghi nhận “…Nhà
nước ưu tiên phát triển giáo dục vùng miền núi, hải đảo, vùng đồng bào DTTS
và vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn”. Từ cơ sở hiến định,
QHT của người DTTS đã được thể chế trong nhiều văn bản pháp luật. Hệ


thống văn bản quy phạm pháp luật về QHT của người DTTS được ban hành
đã thể chế hóa quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước cũng như đã
nội luật hóa nhiều nội dung quan trọng về QHT của người DTTS được quy
định trong các văn kiện quốc tế. Nhưng đặc biệt quan trọng hơn là các quy
định pháp luật được thực hiện trong thực tế cuộc sống. Vì vậy, trong những
năm qua Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương quan điểm và lãnh đạo, chỉ đạo
việc thực hiện pháp luật (THPL) về QHT của người DTTS. Nhà nước xây
dựng cơ cấu tổ chức bộ máy, triển khai các hoạt động quản lý nhà nước để
bảo đảm thực hiện các quy định pháp luật về QHT của người DTTS. Các tổ
chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, nhiều tổ chức, cá nhân
đã có những hoạt động thiết thực nhằm THPL về QHT của người DTTS.
Mặc dù thực THPL về QHT của người DTTS là vấn đề rất quan trọng,
nhưng dưới góc độ lý luận đến nay chưa có cơng trình khoa học nào nghiên
cứu một cách tồn diện, đầy đủ và có hệ thống vấn đề này.
Quá trình THPL về QHT của người DTTS ở Việt Nam thời gian qua đã
đạt được nhiều kết quả quan trọng được nhân dân đồng tình, hưởng ứng, cộng
đồng quốc tế ghi nhận. Những kết quả đạt được trong việc THPL về QHT của
người DTTS đã góp phần thúc đẩy sự phát triển trình độ dân trí, nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của đồng bào DTTS, thúc đẩy sự phát triển kinh tế,
xã hội vùng DTS. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, do nhiều
nguyên nhân khách quan và chủ quan, việc THPL về QHT của người DTTS ở
nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập gây ra những trở ngại lớn đối với phát
triển sự nghiệp giáo dục dân tộc, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thụ hưởng QHT
của người DTTS. Đến nay, vùng DTTS vẫn là một trong những vùng nghèo,
lạc hậu, là “vùng trũng” về giáo dục, dân trí thấp, nhiều nội dung QHT của
người DTTS được pháp luật quy định chưa được bảo đảm thực hiện.
Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa đã mở ra cơ hội và đặt ra những
yêu cầu mới trong việc trang bị những kiến thức, kỹ năng mới cho đồng bào
DTTS để tham gia hội nhập và phát triển. Mặt khác, Việt Nam đã ký kết,
tham gia nhiều điều ước quốc tế có nội dung liên quan đến QHT của người



2
DTTS nên yêu cầu bảo đảm THPL về QHT của người DTTS lại càng có ý
nghĩa quan trọng.
Xuất phát từ các lý do trên đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải nghiên
cứu một cách toàn diện vấn đề THPL về QHT của người DTTS ở Việt
Nam hiện nay. Vì vậy, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: “Thực hiện pháp
luật về quyền học tập của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay”
để nghiên cứu viết Luận án tiến sĩ Luật học, chuyên ngành lý luận và lịch
sử nhà nước và pháp luật.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích làm rõ các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng THPL về QHT
của người DTTS, xác định các quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm bảo
đảm THPL về QHT của người DTTS ở nước ta hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, Tổng quan tình hình nghiêu cứu liên quan đến đề tài
Hai là, Phân tích làm rõ cơ sở lý luận của việc THPL về QHT của người
DTTS ở Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu việc THPL về QHT của người DTTS
của một số nước trên thế giới, rút ra những giá trị tham khảo đối với Việt Nam.
Ba là, Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc THPL về QHT của
người DTTS. Phân tích, đánh giá thực trạng THPL về QHT của người DTTS
ở Việt Nam thời gian qua.
Bốn là, Xác định các quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm
THPL về QHT của người DTTS ở Việt Nam trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn THPL về QHT của người
DTTS ở Việt Nam hiện nay

3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn THPL về QHT của người
DTTS ở Việt Nam hiện nay dưới góc độ khoa học của chuyên ngành Lý luận
và lịch sử nhà nước và pháp luật. Khi đánh giá thực trạng, luận án tập trung
đánh giá những nội dung trọng tâm của THPL về QHT của người DTTS như:
THPL về QHT của người DTTS được học các kiến thức trong khung chương
trình của các cấp học, bậc học, hệ đào tạo và tự học; THPL về QHT của người
DTTS được tơn trọng, bình đẳng về cơ hội học tập; THPL về QHT của người
DTTS được học tập trong mơi trường giáo dục an tồn, lành mạnh; THPL về
QHT của người DTTS được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số;
THPL về QHT của người DTTS được hưởng các chính sách ưu tiên của Nhà
nước trong học tập.


3
Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn THPL về QHT của người DTTS trên toàn lãnh thổ Việt Nam
Phạm vi thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu, đánh giá tình hình
THPL về QHT của người DTTS ở Việt Nam, các số liệu chủ yếu từ năm 2010
đến nay.
4. Cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.2. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
nhà nước và pháp luật; về quyền con người, quyền cơng dân, QHT; quan
điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc; về
giáo dục, đào tạo nói chung và THPL về QHT của người DTTS nói riêng .
Luận án chủ yếu tiếp cận dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và
pháp luật và có kết hợp với lý luận về QCN.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy

vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp cụ
thể sau:
Trong Chương 1, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, hệ thống, phân
tích để đánh giá các cơng trình nghiên cứu có liên quan tới nội dung của đề tài
THPL về QHT của người DTTS ở Việt Nam hiện nay.
Trong Chương 2, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp diễn giải, quy
nạp để xây dựng các khái niệm; sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp
để nghiên cứu các đặc điểm, vai trị, nội dung, hình thức và các điều kiện
bảo đảm THPL về QHT của người DTTS. Phương pháp so sánh để tìm hiểu
kinh nghiệm THPL về QHT của một số nước trên thế giới và những giá trị
có thể tham khảo đối với Việt Nam.
Trong Chương 3, tác giả chú trọng sử dụng phương pháp thống kê, kết
hợp với phân tích để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc THPL về
QHT của người DTTS ở Việt Nam. Đồng thời, sử dụng phương pháp tổng
hợp, phân tích, đánh giá, thống kê, tiếp cận dựa trên quyền để đánh giá kết
quả đạt được và những hạn chế, bất cập của việc THPL về QHT của người
DTTS, tìm ra nguyên nhân của thực trạng THPL về QHT của người DTTS.
Trong Chương 4, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, tiếp
cận dựa trên quyền để đưa ra các quan điểm, giải pháp có căn cứ khoa học
góp phần bảo đảm THPL về QHT của người DTTS ở Việt Nam hiện nay.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sáng tỏ và
bổ sung, phát triển những vấn đề lý luận của việc THPL về QHT của người


4
DTTS; góp phần nâng cao nhận thức của các chủ thể trong việc THPL về
QHT của người DTTS ở Việt Nam hiện nay.
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sáng rõ
thực tiễn THPL về QHT của người DTTS ở Việt Nam hiện nay; đồng thời

những quan điểm, giải pháp được đề xuất trong luận án sẽ là những tham vấn
giúp các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương ở vùng DTTS có thể
nghiên cứu, áp dụng vào thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng THPL về QHT
của người DTTS.
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham
khảo cho việc nghiên cứu và đào tạo trong lĩnh vực khoa học chính trị và khoa
học pháp lý; giáo dục QCN,QCD; dùng làm tài liệu tham khảo cho các tổ
chức, cá nhân quan tâm đến vấn đề này.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Nội dung luận án được kết cấu gồm 4 chương, 10 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. CÁC CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI LUẬN ÁN
1.1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến quyền học tập của
người dân tộc thiểu số
Luận án đã tổng quan các nhóm cơng trình nghiên cứu trong nước và
nước ngồi có liên quan đến QHT của người DTTS. Các nhóm cơng trình
nghiên cứu dưới dạng đề tài khoa học, sách chuyên khảo, tham khảo; luận án
tiến sĩ, bài báo khoa học có giá trị trong việc cung cấp cho luận án một số cơ
sở lý luận và cơ sở thực tiễn liên quan đến luận án.
1.1.2. Các cơng trình nghiên cứu pháp luật quy định quyền học tập
của người dân tộc thiểu số
Luận án đã tổng quan các nhóm cơng trình nghiên cứu trong nước và
nước ngồi có liên quan đến pháp luật quy định QHT của người DTTS.
1.1.3. Các cơng trình nghiên cứu về thực hiện pháp luật và thực
hiện pháp luật về quyền học tập của người dân tộc thiểu số
Luận án đã tổng quan các nhóm cơng trình nghiên cứu đề cập đến cơ sở
lý luận và thực tiễn THPL trên một số lĩnh vực cụ thể. Bên cạnh đó, luận án

tổng quan các nhóm cơng trình nghiên cứu liên quan đến thực THPL về QHT
của người DTTS.


5
1.2. ĐÁNH GIÁ CÁC CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC
NGHIÊN CỨU
1.2.1. Đánh giá các cơng trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
luận án
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến THPL về QHT của
người DTTS có thể rút ra những nhận xét, đánh giá khái quát sau đây:
Thứ nhất, về nội dung THPL, số lượng các cơng trình nghiên cứu khá
phong phú, đa dạng tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau của việc THPL nhưng
chưa có cơng trình nghiên cứu nào phân tích, đề cập đến THPL về QHT nói
chung, THPL về QHT của người DTTS nói riêng. Thứ hai, hiện nay chưa có
nhiều tài liệu nghiên cứu trực tiếp về QHT nói chung và QHT của người
DTTS nói riêng. Thứ ba, ở nước ta, QHT của cơng dân nói chung, QHT của
người DTTS nói riêng chưa được nhiều cơng trình nghiên cứu. Đặc biệt,
những vấn đề như nội dung QHT của người DTTS (QHT của người DTTS
gồm những nội dung gì?), THPL về QHT của người DTTS? thì đến nay vẫn
chưa có một cơng trình, bài viết nào nghiên cứu, đề cập đến. Thứ tư, Hiện nay
chưa có một cơng trình nghiên cứu nào đề cập trực diện nội dung THPL về
QHT của người DTTS dẫn đến tình trạng thiếu các giải pháp đồng bộ, có tính
hệ thống bảo đảm THPL về lĩnh vực quan trọng này. Do vậy, luận án “Thực
hiện pháp luật về quyền học tập của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện
nay” là cơng trình đầu tiên bước đầu giải quyết những vấn đề đặt ra đó.
1.2.2. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Thứ nhất, luận án nghiên cứu cơ sở lý luận THPL về QHT của người
DTTS, trong đó tập trung phân tích, luận giải làm rõ các khái niệm, đặc điểm,

vai trò, nội dung, hình thức, các điều kiện bảo đảm THPL về QHT của người
DTTS.
Thứ hai, nghiên cứu THPL về QHT của người DTTS của một số nước
trên thế giới, rút ra những giá trị có thể tham khảo cho Việt Nam.
Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng THPL về QHT của người DTTS
hiện nay.
Thứ tư, phân tích, hệ thống hóa và xây dựng các quan điểm chỉ đạo, đề
xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc THPL về QHT của người
DTTS ở Việt Nam trong thời gian tới.


6
1.3. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1.3.1. Giả thuyết nghiên cứu
Thực hiện pháp luật về QHT của người DTTS ở Việt Nam có vai trị rất
quan trọng trong việc bảo đảm QHT của người DTTS. Thời gian qua, việc
THPL về QHT của người DTTS có nhiều ưu điểm về mặt lý luận và thực tiễn
nhưng bên cạnh đó vẫn cịn nhiều hạn chế. Vì vậy, nếu chúng ta nghiên cứu
sâu đề tài “Thực hiện pháp luật về quyền học tập của người dân tộc thiểu số ở
Việt Nam hiện nay” thì sẽ làm sáng tỏ và phong phú thêm những vấn đề lý
luận về THPL về QHT của người DTTS.
Nếu chúng ta không nghiên cứu đề tài THPL về QHT của người DTTS
thì những khoảng trống về mặt lý luận và những khó khăn, bất cập trong thực
tiễn THPL về QHT của người DTTS sẽ không được giải quyết, pháp luật về
QHT của người DTTS sẽ không được bảo đảm thực hiện tốt trong thực tiễn.
Nếu triển khai nghiên cứu đề tài THPL về QHT của người DTTS, luận
án cần phải đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận về THPL về QHT của
người DTTS; nghiên cứu phân tích đánh giá thực trạng THPL về QHT của
người DTTS và nghiên cứu xây dựng các quan điểm, luận giải đề xuất các
giải pháp bảo đảm THPL về QHT của người DTTS.

1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu lớn có tính chất bao trùm luận án: Làm thế nào để
nâng cao hiệu quả THPL và QHT của người DTTS ở Việt Nam hiện nay?
- Câu hỏi cụ thể:
Thứ nhất, THPL về QHT của người DTTS được hiểu như thế nào?
Những đặc điểm của THPL về QHT của người DTTS là gì? THPL về QHT
của người DTTS có vai trị gì và nội dung nào? Cần những điều kiện gì để bảo
đảm THPL về QHT của người DTTS ?
Thứ hai, Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc THPL về QHT của
người DTTS? Thực trạng THPL về QHT của người DTTS ở Việt Nam hiện
nay đã đạt được những kết quả gì, cịn những hạn chế nào và nguyên nhân vì
sao?
Thứ ba, Cần quán triệt những quan điểm nào và có những giải pháp gì
để bảo đảm THPL về QHT của người DTTS ở Việt Nam hiện nay?


7
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN HỌC
TẬP CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ QUYỀN HỌC TẬP CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
2.1.1. Khái niệm pháp luật về quyền học tập của người dân tộc thiểu
số và thực hiện pháp luật về quyền học tập của người dân tộc thiểu số
2.1.1.1. Khái niệm quyền học tập của người dân tộc thiểu số
Quyền học tập của người DTTS là nhu cầu vốn có và khách quan của
người DTTS được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và quốc gia, được nhà
nước và các chủ thể có trách nhiệm bảo đảm trong việc tiếp nhận, thụ hưởng
một cách bình đẳng về cơ hội học tập; được học tập từ cơ bản đến nâng cao,
học mọi lúc, mọi nơi, thường xuyên, suốt đời dưới nhiều hình thức; được

hưởng các chính sách ưu tiên của nhà nước và được tạo điều kiện trong học
tập nhằm trau dồi kiến thức, kỹ năng, phát triển toàn diện bản thân, bảo tồn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
2.1.1.2. Khái niệm pháp luật về quyền học tập của người dân tộc
thiểu số
Pháp luật về QHT của người DTTS là tổng thể các quy phạm pháp luật
do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình học tập của người DTTS; ưu tiên,
thúc đẩy, tạo điều kiện, cơ hội bình đẳng cho người DTTS trong tiếp cận, thụ
hưởng QHT; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm, cản trở
việc thụ hưởng QHT của người DTTS.
2.1.1.3. Khái niệm thực hiện pháp luật về quyền học tập của người
dân tộc thiểu số
Thực hiện pháp luật về QHT của người DTTS là tổng thể các hoạt động
có mục đích của các chủ thể làm cho những quy định pháp luật về QHT của
người DTTS đi vào cuộc sống, bảo đảm cho người DTTS được thụ hưởng đầy
đủ QHT, góp phần nâng cao dân trí, thúc đẩy sự phát triển vùng DTTS.
2.1.2. Đặc điểm thực hiện pháp luật về quyền học tập của người
dân tộc thiểu số
Thứ nhất, THPL về QHT của người DTTS do nhiều chủ thể khác nhau
thực hiện. Thứ hai, THPL về QHT của người DTTS có nhiều nội dung,
chương trình, hình thức khác nhau và phạm vi rộng lớn. Thứ ba, THPL về


8
QHT của người DTTS không chỉ dựa trên năng lực, ý thức của bản thân người
DTTS mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự tạo điều kiện, hỗ trợ, khuyến khích
của các chủ thể khác. Thứ tư, THPL về QHT của người DTTS là một q
trình thường xun, mang tính chủ động, sáng tạo, chú ý đến tính đặc thù dân
tộc. Thứ năm, THPL về QHT của người DTTS là cơng việc rất khó khăn, chịu

ảnh hưởng rất nhiều từ điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội vùng
DTTS.
2.1.3. Vai trò của thực hiện pháp luật về quyền học tập của người
dân tộc thiểu số
Thứ nhất, THPL về QHT của người DTTS góp phần đưa đường lối, chủ
trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước về QHT của người DTTS đi vào
cuộc sống. Thứ hai, THPL về QHT của người DTTS có vai trị bảo vệ QHT của
người DTTS; góp phần phịng ngừa, hạn chế và xử lý kịp thời những hành vi vi
phạm pháp luật về QHT của người DTTS. Thứ ba, THPL về QHT của người
DTTS có vai trị nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và là tiền đề để
người DTTS thực hiện các QCN khác. Thứ tư, THPL về QHT của người DTTS
góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của giáo dục Việt Nam. Thứ năm, THPL
về QHT của người DTTS có vai trị mở rộng hội nhập quốc tế ở các vùng đồng
bào DTTS
2.2. NỘI DUNG, HÌNH THỨC VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN HỌC TẬP CỦA NGƯỜI DÂN
TỘC THIỂU SỐ
2.2.1. Nội dung thực hiện pháp luật về quyền học tập của người dân
tộc thiểu số
Luận án tập trung nghiên cứu việc THPL về QHT của người DTTS ở các
quyền cụ thể gồm: Một là, THPLvề quyền của người DTTS được học tập các
kiến thức trong khung chương trình của các cấp học, bậc học, hệ đào tạo và tự
học. Hai là, THPL về quyền của người DTTS được tơn trọng, bình đẳng về cơ
hội học tập; Ba là, THPL về quyền của người DTTS được học tập trong mơi
trường giáo dục an tồn, lành mạnh; Bốn là, THPL về quyền của người DTTS
được học tiếng nói, chữ viết DTTS; Năm là, THPL về quyền được hưởng các
chính sách ưu tiên của Nhà nước trong học tập của người DTTS.
Từ lý thuyết về THPL và nội dung của pháp luật về QHT của người
DTTS, THPL về QHT của người DTTS gồm có các nội dung sau: Thứ nhất,
các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền triển khai các hoạt động tổ



9
chức THPL, đưa pháp luật về QHT của người DTTS vào cuộc sống, đến với
người DTTS. Thứ hai, các tổ chức, cá nhân, cộng đồng xã hội chủ động,
nghiêm chỉnh THPL về QHT của người DTTS. Thứ ba, người DTTS chủ
động, tích cực tìm hiểu, thực hiện chính sách, pháp luật về QHT của người
DTTS.
2.2.2. Các hình thức thực hiện pháp luật về quyền học tập của
người dân tộc thiểu số
Thứ nhất, tuân thủ pháp luật về QHT của người DTTS; Thứ hai, thi
hành pháp luật về QHT của người DTTS; Thứ ba, sử dụng pháp luật về QHT
của người DTTS; Thứ tư, áp dụng pháp luật về QHT của người DTTS.
2.2.3. Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền học tập
của người dân tộc thiểu số
Điều kiện bảo đảm THPL về QHT của người DTTS bao gồm: Điều
kiện bảo đảm về chính trị; Điều kiện bảo đảm về pháp lý; Điều kiện bảo đảm
về kinh tế; Điều kiện bảo đảm về văn hóa.
2.3. THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN HỌC TẬP CỦA
NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ THAM KHẢO ĐỐI VỚI VIỆT NAM
2.3.1. Thực hiện pháp luật về quyền học tập của người dân tộc
thiểu số ở một số nước trên thế giới
Thứ nhất, ở Trung Quốc
Thứ hai, ở Australia
Thứ ba, ở Malaysia
2.3.2. Những giá trị tham khảo cho Việt Nam
Một là, ghi nhận và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đối với
QHT của người DTTS. Hai là, THPL về QHT của người DTTS phải gắn liền
với phát triển toàn diện vùng DTTS. Ba là, xây dựng và thực hiện tốt các

chính sách ưu tiên trong học tập đối với người DTTS; tôn trọng ngôn ngữ các
DTTS. Bốn là, cần có sự tham gia và phối hợp giữa nhiều chủ thể trong việc
THPL về QHT của người DTTS.


10
Chương 3
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN HỌC TẬP CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU
SỐ ỞVIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ QUYỀN HỌC TẬP CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên vùng dân tộc thiểu số
Những đặc thù về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của vùng DTTS có
ảnh hưởng trực tiếp đến THPL về QHT của người DTTS ở cả mặt tích cực và
khơng tích cực, cụ thể:
Địa bàn cư trú của các DTTS có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về
kinh tế, chính trị, quốc phịng, an ninh, đối ngoại, mơi trường sinh thái.
Điều kiện tự nhiên không thuận lợi đang trực tiếp gây ra những trở
ngại, lực cản lớn trong việc THPL về QHT của người DTTS.
3.1.2. Đặc điểm kinh tế vùng dân tộc thiểu số
Kinh tế vùng DTTS thời gian qua có nhiều khởi sắc là điều kiện thuận
lợi cho việc THPL về QHT của người DTTS.
Vùng DTTS vẫn đang là “lõi nghèo” của cả nước. Khoảng cách phát
triển giữa các DTTS với dân tộc Kinh, giữa các nhóm DTTS, giữa miền núi
và miền xuôi chưa được rút ngắn gây ra những khó khăn, trở ngại lớn trong
việc THPL về QHT của người DTTS.
3.1.3. Đặc điểm văn hoá, xã hội vùng dân tộc thiểu số
Các DTTS nước ta có số dân không đồng đều, cư trú phân tán và đan

xen với nhau mà khơng có vùng lãnh thổ tộc người riêng, đặc điểm này sẽ
thúc đẩy các dân tộc giao lưu, học hỏi, hỗ trợ lẫn nhau nhưng mặt khác có thể
dẫn tới những va chạm, mâu thuẫn; văn hóa, ngơn ngữ của các DTTS dần bị
mai một, đồng hóa với dân tộc đa số; khó khăn cho phát triển giáo dục nhất là
việc dạy tiếng DTTS và song ngữ.
Đặc điểm văn hóa, phong tục, tập quán: Bên cạnh những phong tục, tập
qn tốt đẹp thì nhiều DTTS vẫn cịn tồn tại khơng ít những phong tục, tập
qn lạc hậu.
Trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực khơng đồng đều, tỷ lệ mù
chữ còn cao... ảnh hưởng đến việc THPL về QHT của người DTTS.
3.1.4. Nhận thức pháp luật của các chủ thể thực hiện pháp luật về
quyền học tập của người dân tộc thiểu số


11
Nhận thức pháp luật của các chủ thể sẽ có tác động, ảnh hưởng tích
cực hoặc tiêu cực đến quá trình thực hiện, đưa pháp luật về QHT của
người DTTS vào cuộc sống. Nếu các chủ thể THPL nhận thức thức được
đầy đủ, chủ động, tích cực tham gia vào quá trình THPL về QHT của
người DTTS thì chắc chắn là công tác THPL về QHT của người DTTS sẽ
đạt hiệu quả cao hơn và ngược lại.
3.2. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ QUYỀN HỌC TẬP CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT
NAM VÀ NGUYÊN NHÂN
3.2.1. Kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật về quyền học tập
của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay
3.2.1.1. Kết quả thực hiện pháp luật về quyền của người dân tộc thiểu
số được học tập các kiến thức trong khung chương trình của các cấp học,
bậc học, hệ đào tạo và tự học
Với sự nỗ lực trong việc THPL của các chủ thể có trách nhiệm, người

DTTS ở tất cả các cấp học, bậc học, hệ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc
gia ở nước ta đã được học các kiến thức trong Khung chương trình do Chính
phủ phê duyệt. Cơng tác phổ cập giáo dục vùng DTTS được thực hiện theo
cấp học mầm non, tiểu học, THCS và đã thu được những kết quả to lớn. Cơng
tác xóa mù chữ cho đồng bào DTTS đạt được nhiều kết quả tích cực. Nhà
nước đầu tư xây dựng các trường dự bị đại học dân tộc, tổ chức đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao trình độ kiến thức người DTTS. Người DTTS chủ động, tích
cực học tập, tiếp thu các kiến thức thơng qua nhiều hình thức khác nhau để
thực hiện QHT của mình.
3.2.1.1. Kết quả thực hiện pháp luật về quyền của người dân tộc thiểu
số được tơn trọng, bình đẳng về cơ hội học tập
Thời gian qua Nhà nước đã dành sự quan tâm đặc biệt, thực hiện nhiều
chương trình, chính sách lớn, đầu tư phát triển toàn diện vùng DTTS nhằm tạo
tiền đề, nền tảng vững chắc để đồng bào DTTS thụ hưởng QHT. Các cấp chính
quyền đã có nhiều cố gắng, nỗ lực đầu tư xây dựng mạng lưới trường lớp
ngày càng đáp ứng nhu cầu học tập của đồng bào DTTS. Nhà nước cịn thành
lập nhiều mơ hình trường học mở rộng cơ hội học tập cho người DTTS. Các
chủ thể có trách nhiệm tích cực triển khai tuyên tryền, phổ biến pháp luật với
nhiều hình thức đã góp phần nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, công chức,
viên chức và toàn thể nhân dân. Phần lớn người DTTS đã nhận thức rõ vai trò
quan trọng của việc học tập, một bộ phận người DTTS đã nắm bắt được quy


12
định của pháp luật nên chủ động tuân thủ, thi hành pháp luật và bước đầu biết
sử dụng pháp luật để thực hiện QHT.
Các địa phương vùng DTTS chú trọng đào tạo, nâng cao chất lượng đội
ngũ giáo viên. Hình thức áp dụng pháp luật được các chủ thể có thẩm quyền
sử dụng trong viện tuyên dương, khen thưởng những tổ chức, cá nhân có
thành tích xuất sắc trong THPL về quyền của người DTTS được tơn trọng,

bình đẳng về cơ hội học tập. Từ năm 2019 đến hết năm 2021, ngành giáo dục
chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19, với quyết tâm “tạm dừng đến
trường, nhưng không dừng việc học” các cấp chính quyền, nghành Giáo dục
đã có nhiều cách làm thiết thực, sáng tạo trong THPL về QHT của người
DTTS.
3.2.1.3. Kết quả thực hiện pháp luật về quyền của người dân tộc thiểu
số được học tập trong mơi trường giáo dục an tồn, lành mạnh
Thời gian qua cơng tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội
vùng DTTS, bảo đảm mơi trường giáo dục an toàn, lành mạnh được các cấp,
các ngành, các địa phương quan tâm xây dựng, củng cố. Bộ GD&ĐT, các bộ,
ngành liên quan, các địa phương, trường học đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
phổ biến pháp luật và ban hành nhiều chương trình, kế hoạch tổ chức triển
khai THPL. Nhà nước thực hiện nhiều chương trình, dự án, kết hợp với sự đầu
tư của các địa phương, huy động nguồn lực hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước cũng cố, xây dựng mạng lưới trường, lớp ở vùng DTTS.
Nhà nước thành lập, xây dựng hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội
trú và trường phổ thông dân tộc bán trú , học sinh DTTS được học tập, ăn ở
tại trường. Các cơ sở giáo dục vùng DTTS tổ chức nhiều hoạt động bảo đảm
THPL về quyền của người DTTS được học tập trong môi trường giáo dục an
tồn, lành mạnh. Cơng tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc THPL được các
chủ thể có trách nhiệm tiến hành thường xuyên.
Hình thức áp dụng pháp luật được các chủ thể có thẩm quyền sử dụng
trong việc tuyên dương, khen thưởng những tổ chức, cá nhân có cơng lao,
thành tích trong THPL về quyền của người DTTS được học tập trong mơi
trường giáo dục an tồn, lành mạnh đồng thời áp dụng để xử lý các hành vi vi
phạm pháp luật.
3.2.1.4. Kết quả thực hiện pháp luật về quyền của người dân tộc thiểu
số được học tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số
Từ năm 2011 đến nay, cả nước chính thức triển khai dạy và học 6 thứ
tiếng DTTS trong các trường phổ thông: tiếng Mông, Chăm, Khme, Jrai,



13
Bahnar, Ê Đê. Việc dạy học tiếng DTTS được duy trì và mở rộng về quy mơ.
Hằng năm, Bộ GD&ĐT đều có nội dung hướng dẫn triển khai thực hiện
nhiệm vụ dạy tiếng DTTS. Hoạt động dạy tiếng DTTS được các cấp quản lý
kiểm tra, đánh giá và báo cáo định kỳ theo quy định. Đến năm học 2019 2020, tiếng DTTS đã được giảng dạy tại 22 tỉnh/thành phố trong cả nước. Bên
cạnh 6 tiếng DTTS được chính thức giảng dạy, có 9 tiếng DTTS khác gồm:
Hoa, Chăm, Thái, Cơ Tu, Tà Ơi, Pa Cơ, Stiêng, Nùng, Tày, Vân Kiều, Bru
đang được dạy thực nghiệm trong trường phổ thông và trung tâm giáo dục
thường xuyên tại 16 tỉnh/thành trong cả nước. Giáo viên dạy tiếng DTTS
được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Ngành giáo dục tổ chức
nhiều hoạt động nhằm tạo điều kiện để giáo viên giao lưu, học hỏi kinh
nghiệm trong quá trình dạy học.
Bên cạnh chương trình giáo dục chung của quốc gia, nhiều địa phương
vùng DTTS cịn chủ động thực hiện chính sách riêng về dạy và học tiếng
DTTS. Việc thực hiện chế độ chính sách đối với người học, người dạy tiếng
DTTS được các địa phương thực hiện kịp thời, nghiêm túc. Học sinh học tiếng
DTTS được các sở giáo dục và đào tạo cấp sách giáo khoa. Một số tỉnh tổ chức
cho học sinh thi và cấp giấy chứng nhận tiếng DTTS; thực hiện việc khen
thưởng; xét ưu tiên khi nhập học một số trường của địa phương,...
3.2.1.5. Kết quả thực hiện pháp luật về quyền của người dân tộc thiểu
số được hưởng các chính sách ưu tiên của Nhà nước trong học tập
Cơng tác tun truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về quyền của
người dân tộc thiểu số được hưởng các chính sách ưu tiên của Nhà nước
trong học tập được các chủ thể có trách nhiệm chú trọng. Cơng tác thanh tra,
kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách được các chủ thể có
trách nhiệm tiến hành thường xuyên; hằng năm tổng kết, đánh giá và báo
cáo kết quả thực hiện chính sách cho cơ quan có thẩm quyền. Nhìn chung,
các chủ thể THPL đều có ý thức cao trong tuân thủ pháp luật.

Đồng bào DTTS ngày càng nhận thức rõ sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước thơng qua các chính sách ưu tiên, hỗ trợ học tập nên đã chủ động tuân thủ,
thi hành pháp luật và bước đầu biết sử dụng pháp luật để thụ hưởng chính sách.
Hình thức áp dụng pháp luật được các chủ thể có thẩm quyền sử dụng nhằm
xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi sai phạm trong THPL. Các tổ chức,
cá nhân, cộng đồng xã hội có nhiều hoạt động thiết thực hỗ trợ, động viên,
giúp đỡ người DTTS thực hiện QHT.
3.2.2. Nguyên nhân của những kết quả đạt được


14
3.2.2.1. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, Đảng ta luôn đề cao và đặc biệt quan tâm đến QHT của
người DTTS.
Thứ hai, QHT của người DTTS được pháp luật quốc tế ghi nhận, được
cộng đồng quốc tế quan tâm và Việt Nam đã ký kết, tham gia hầu hết các công
ước, điều ước quốc tế về QCN trong đó có QHT của người DTTS.
Thứ ba, hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về QHT của người
DTTS nói riêng cũng như những chính sách đặc thù về GD&ĐT ở vùng
DTTS đã đạt được những tiến bộ nhất định.
Thứ tư, kinh tế Việt Nam những năm qua có bước phát triển mạnh,
chính trị, xã hội ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho việc THPL về QHT của
người DTTS.
Thứ năm, khoa học công nghệ phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho
việc THPL về QHT của người DTTS.
3.2.2.2. Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và
đồng bào DTTS có trách nhiệm, ý thức cao hơn trong việc THPL về QHT của
người DTTS.
Thứ hai, có sự phối hợp giữa các chủ thể trong triển khai THPL và sự

hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong việc bảo đảm QHT của người DTTS.
Thứ ba, ý thức trách nhiệm cao của đội ngũ thầy cô giáo cùng với sự hỗ
trợ, giúp đỡ của cộng đồng trong việc THPL về QHT của người DTTS.
Thứ tư, trình độ dân trí vùng DTTS ngày càng được nâng cao
3.3. HẠN CHẾ TRONG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN
HỌC TẬP CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM VÀ
NGUYÊN NHÂN
3.3.1. Hạn chế trong thực hiện pháp luật về quyền học tập của
người dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay
3.3.2.1. Hạn chế thực hiện pháp luật về quyền của người dân tộc thiểu
số được học các kiến thức trong khung chương trình của các cấp học, bậc
học, hệ đào tạo và tự học
Ở một số địa phương vùng DTTS trong tổ chức THPL còn thiếu sự chỉ đạo
sát sao, sự kiểm tra, giám sát của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức, cá
nhân có trách nhiệm; hiệu quả của việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật chưa cao;
một bộ phận đồng bào chưa nắm rõ được các quy định của pháp luật để thực hiện
đúng, một bộ phận đồng bào chưa có ý thức tuân thủ pháp luật;... Hiện nay ở


15
vùng DTTS vẫn còn 1,2% trên tổng số 7,81 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chưa được
đăng ký khai sinh. Tỷ lệ huy động trẻ đến lớp vùng DTTS, miền núi giai đoạn
2011-2019 chỉ đạt 56,2% (cả nước đạt 88,5%); tỷ lệ huy động trẻ nhà trẻ chỉ đạt
11,8% (cả nước đạt 25,8%). Tỷ lệ đi học đúng tuổi ở các cấp học cịn có sự
chênh lệch khá lớn giữa các khu vực, giữa các dân tộc. Tỷ lệ trẻ em DTTS
trong độ tuổi đi học phổ thông nhưng không được đi học còn khá cao. Tỷ lệ
người DTTS từ 15 tuổi trở lên chưa biết đọc, biết viết Tiếng Việt cịn khá cao,
cịn 20,8% người chưa đọc thơng viết thạo tiếng phổ thơng. Trình độ học vấn
của người DTTS hiện vẫn còn thấp. Tỷ lệ lao động người DTTS đã qua đào tạo
chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên trung bình đạt 10,3 % (mới bằng gần 1/3 so

với tỷ lệ trung bình của lực lượng lao động cả nước).
3.3.1.2. Hạn chế trong thực hiện pháp luật về quyền của người dân
tộc thiểu số được tôn trọng, bình đẳng về cơ hội học tập
Cấp ủy Đảng, chính quyền ở một số địa phương chưa thực sự quan tâm
đến việc lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức THPL. Việc phối hợp THPL của các chủ
thể có trách nhiệm chưa thường xuyên, chặt chẽ. Công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật chưa được quan tâm đúng mức, hiệu quả chưa cao. Nhiều chủ thể, đặc
biệt là người DTTS chưa nhận thức rõ quy định của pháp luật nên chưa có ý thức
tuân thủ pháp luật, chưa biết sử dụng pháp luật để bảo vệ QHT của mình. Tình
trạng khơng tuân thủ, chấp hành pháp luật diễn ra từ gia đình, nhà trường, xã hội.
Kinh tế vùng DTTS cịn chậm phát triển, tỷ lệ hộ nghèo cao. Mạng lưới
trường lớp, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đã được tăng cường đầu tư
nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Rào cản ngôn ngữ vẫn là thách thức
lớn trong THPL về quyền bình đẳng về cơ hội học tập đối với người DTTS,...
Việc áp dụng pháp luật về quyền của người DTTS được tơn trọng, bình đẳng
về cơ hội học tập vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập; trong đó thể hiện rõ ở nội
dung một số chủ thể có thẩm quyền chưa kịp thời tuyên dương, khen thưởng
những tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc THPL, đặc biệt là hạn chế, bất
cập trong việc phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm
pháp luật.
3.3.1.2. Hạn chế trong thực hiện pháp luật về quyền của người dân
tộc thiểu số được học tập trong mơi trường giáo dục an tồn, lành mạnh
Hạn chế về cơ sở vật chất trường học cùng với những hạn chế THPL của
các chủ thể có trách nhiệm trong việc thi hành pháp luật về kiểm tra, thanh tra,
giám sát, rà soát cơ sở vật chất các cơ sở giáo dục; việc thiếu kiên quyết loại


16
bỏ các cơng trình khơng đảm bảo chất lượng, khơng an toàn đã dẫn đến nhiều
tai nạn học đường đau lòng xảy ra.

Hiện tượng bạo lực học đường xảy ra trong môi trường học tập ở vùng
DTTS thời gian qua bộc lộ rõ những hạn chế, bất cập trong THPL quyền của
người DTTS được học tập trong môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh
Việc áp dụng pháp luật của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong
xử lý các hành vi vi phạm có lúc, có nơi chưa kịp thời, nghiêm minh, ảnh
hưởng đến quyền được học tập trong mơi trường giáo dục an tồn, lành mạnh
của người DTTS. Đặc biệt, có những vụ việc xâm hại, bạo lực trải qua thời
gian dài mới bị phát hiện, chậm xử lý khiến học sinh phải sống trong tâm
trạng lo âu, sợ hãi, trầm cảm, tổn thương không thể học tập với kết quả tốt,
thậm chí có em muốn tìm đến cái chết để giải thoát.
3.3.1.4. Hạn chế trong thực hiện pháp luật về quyền của người dân tộc
thiểu số được học tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số
Thực tiễn THPL về quyền của người DTTS được học tiếng nói, chữ
viết DTTS cho thấy các chủ thể cịn gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Ở nước ta
hiện nay chỉ có số ít DTTS có tiếng nói và một bộ chữ viết thống nhất, nhiều
dân tộc có tiếng nói và 2 bộ chữ viết trở lên hoặc khơng có chữ viết, điều này
dẫn đến khó khăn trong việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa. Đối với
các DTTS có tiếng nói nhưng chưa có chữ viết thì rất khó để đưa vào chương
trình giảng dạy trong nhà trường. Mặt khác, trong một trường học, lớp học
thường có học sinh thuộc nhiều thành phần dân tộc nên việc triển khai dạy tiếng
dân tộc gặp nhiều khó khăn. Việc tìm kiếm đội ngũ trí thức địa phương để tham
gia vào việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa gặp rất nhiều trở ngại vì
phần lớn họ khơng có đủ năng lực thực hiện, đi kèm với đó là sự thiếu thốn các
tài liệu công cụ về tiếng dân tộc như từ điển, sách ngữ pháp,...
Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học tiếng DTTS cần thiết còn thiếu,
nhiều nơi học sinh khơng có sách giáo khoa để học tập, tài liệu đọc thêm
khơng có. Việc thi hành pháp luật trong quá trình quản lý, chỉ đạo việc dạy và
học tiếng dân tộc của ngành giáo dục, của chính quyền địa phương chưa
thường xun, kịp thời, nhìn chung cịn nhiều hạn chế.
Việc xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiếng DTTS chưa

được các cấp, ngành quan tâm đúng mức. Đội ngũ giáo viên dạy tiếng dân tộc
hiện đang còn thiếu và còn nhiều bất cập. Hiện nay, chưa có quy định cụ thể
về vị trí việc làm và biên chế giáo viên dạy tiếng dân tộc.Công tác tuyên


17
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền của người DTTS được học
tiếng nói, chữ viết DTTS cịn nhiều hạn chế.
3.3.1.5. Hạn chế trong thực hiện pháp luật về quyền của người dân tộc
thiểu số được hưởng các chính sách ưu tiên của Nhà nước trong học tập
Việc tuân thủ pháp luật về quyền của người DTTS được hưởng các
chính sách ưu tiên của Nhà nước trong học tập có lúc, có nơi chưa nghiêm,
cịn xẩy ra tình trạng vi phạm pháp luật. Thậm chí một số cán bộ quản lý, giáo
viên vi phạm đạo đức nghề nghiệp, vi phạm pháp luật, tham ơ trục lợi chính
sách, bớt xén chế độ của học sinh còn xẩy ra trên nhiều địa phương gây bức
xúc, phẩn nộ trong xã hội.
Công tác tuyên truyền, phổ biến, tư vấn chính sách, pháp luật của các
chủ thể có trách nhiệm nhiều lúc chưa sâu sát, kịp thời nên hiệu quả chưa cao.
Cịn tình trạng nhiều người DTTS không hiểu rõ, không nắm bắt được nội
dung các quy định chính sách, pháp luật dẫn đến hạn chế trong thi hành pháp
luật cũng như sử dụng pháp luật để bảo vệ QHT.
Nhiều quy định chính sách hiện nay cịn bất cập, chưa phù hợp gây khó
khăn cho việc thực hiện.Việc thi hành pháp luật để đảm bảo chính sách cử
tuyển, cộng điểm trong kỳ thi, tuyển thẳng vào đại học còn hạn chế, bất cập.
Một số chính sách chưa thỏa mãn u cầu thực tế, cịn nhiều chồng chéo trong
quá trình triển khai; chưa huy động được sự tham gia của toàn xã hội đối với
GD&ĐT vùng DTTS; một số chính sách đã ban hành nhưng khơng có nguồn
kinh phí để triển khai thực hiện hoặc nguồn kinh phí được phân bổ chưa kịp
thời…Việc áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền trong xử lý các
hành vi vi phạm pháp luật về quyền của người DTTS được hưởng các chính

sách ưu tiên của nhà nước trong học tập vẫn còn nhiều hạn chế
3.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện pháp luật
về quyền học tập của người dân tộc thiểu số
3.3.2.1. Nguyên nhân khách qua
Thứ nhất, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên vùng DTTS không thuận
lợi gây ra nhiều khó khăn, cản trở việc THPL về QHT của người DTTS.
Thứ hai, điều kiện kinh tế vùng DTTS còn nhiều khó khăn; ngân sách
Nhà nước dành cho việc THPL về QHT của người DTTS chưa đáp ứng được
nhu cầu.
Thứ ba, hệ thống các văn bản pháp luật, chính sách về QHT của người
DTTS vẫn còn nhiều quy định bất cập, chưa tồn diện, thiếu tính nhất qn.


18
Thứ tư, Đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tác động nặng nề đến
việc THPL về QHT của người DTTS
3.3.2.2. Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, năng lực, phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, giáo
viên vùng DTTS còn hạn chế.
Thứ hai, nhận thức và nhu cầu học tập của một bộ phận đồng bào
DTTS chưa cao.
Thứ ba, một số cấp ủy, chính quyền ở các địa phương vùng DTTS chưa
nhận thức đầy đủ ý nghĩa của việc xây dựng và THPL về QHT của người
DTTS.
Thứ tư, hạn chế trong công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi
phạm việc THPL về QHT của người DTTS.
Chương 4
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ QUYỀN HỌC TẬP CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. QUAN ĐIỂM BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
QUYỀN HỌC TẬP CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
4.1.1. Thực hiện pháp luật về quyền học tập của người dân tộc
thiểu số phải quán triệt các quan điểm, đường lối của Đảng về giáo dục
và đào tạo, bảo đảm quyền học tập của người dân tộc thiểu số
Đảng và Nhà nước ta có quan điểm nhất quán coi GD&ĐT là quốc sách
hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, khẳng định “đầu
tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương
trình, kế hoạch phát triển KT-XH” và thể hiện quyết tâm chính trị trong lãnh
đạo, chỉ đạo thực hiện nghĩa vụ quốc tế về tôn trọng, bảo vệ, thực hiện QHT ở
Việt Nam. Đối với vùng DTTS, phát triển GD&ĐT, bảo đảm QHT của người
DTTS là cơ sở quan trọng để thực hiện chính sách “các dân tộc bình đẳng, đồn
kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”. GD&ĐT là lĩnh vực đóng vai trị
quan trọng nhất và là chiến lược để xóa đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí, thúc
đẩy sự phát triển bền vững vùng DTTS. Vì vậy, bảo đảm QHT của người DTTS
sẽ tác động tích cực và là nền tảng cho việc thúc đẩy các QCN về dân sự, chính
trị, kinh tế, văn hóa của người DTTS.
4.1.2. Thực hiện pháp luật về quyền học tập của người dân tộc
thiểu số phải đặt trong tổng thể hài hòa với việc thực hiện các quyền con
người khác của người dân tộc thiểu số
Quyền học tập của người DTTS là nhu cầu vốn có và khách quan của
người DTTS được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ghi nhận, bảo vệ.



×