Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Thực trạng đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên trên thế giới và tại Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (377.77 KB, 8 trang )

Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN
TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM
ThS. Nguyễn Cơng Duy1
ThS. Nguyễn Hồng Trang2
TĨM TẮT
Kỹ năng mềm là một thành tố quan trọng quyết định sự thành công và thất bại của mỗi
cá nhân. Nhiều năm trở lại đây, các cơ sở giáo dục cũng ngày càng chú trọng hơn việc đào
tạo các kỹ năng này, đặc biệt là các trường đại học, cao đẳng. Tuy nhiên, thực trạng đào tạo
kỹ năng mềm trên thế giới và Việt Nam có sự khác biệt. Qua bài viết, nhóm tác giả sẽ trình
bày và phân tích thực trạng này và đưa ra một vài giải pháp để Việt Nam thực hiện hoạt động
đào tạo Kỹ năng mềm đạt hiệu quả cao hơn. Bài viết chủ yếu dựa trên các nguồn học liệu sơ
cấp và một vài tài liệu thứ cấp khác để tiến hành nghiên cứu của mình. Kết quả của bài viết
sẽ trả lời cho 2 câu hỏi nghiên cứu lớn, đó là thực trạng và giải pháp để đào tạo kỹ năng mềm
trong thời gian tới.
TỪ KHÓA
Sinh viên; Đào tạo; Kỹ năng mềm; giải pháp kỹ năng mềm
Key Word: Student; Training activities; Soft skills; Soft skills solution
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Một xã hội hiện đại đòi hỏi những con người hiện đại và kỹ năng mềm chính là một
yếu tố quan trọng minh chứng cho sự hiện diện của con người thế hệ mới - những công dân
4.0. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, kỹ năng mềm quyết định tới 75% thành cơng của con
người, cịn kỹ năng cứng (tức kiến thức, trình độ chun mơn) chỉ chiếm 25%. Như vậy, kỹ
năng mềm sẽ quyết định người đó là ai, người đó làm việc như thế nào và người đó có thành
cơng hay khơng? Nó cũng là câu trả lời cho lý do, hiện nay nhiều trường trường coi kỹ năng
mềm là một bộ môn và xây dựng chuẩn đầu ra về kỹ năng mềm trước khi sinh viên rời ghế
nhà trường.
Mặt khác, giáo dục đại học ln giữ một vai trị quan trọng trong phát triển nguồn
nhân lực theo các lĩnh vực chuyên môn cho sinh viên, đồng thời cũng là “cái nơi” để hình
thành nên những nhân cách, những giá trị sẽ tham gia vào thị trường lao động sau này. Việc


phát triển các kỹ năng mềm cho sinh viên ở các trường cũng là cần thiết để thúc đẩy năng lực
tự giáo dục, tự hoàn thiện bản thân cho sinh viên để sớm thích ứng với mơi trường nghề
nghiệp sau này.
Sinh viên đặc trưng bởi năng lực trí tuệ, kiến thức sâu rộng, lối tư duy sâu sắc, nhạy
bén. Sinh viên cũng rất quan tâm đến việc thể hiện bản thân trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt
động. Đây cũng là thời kỳ có nhiều sự biến đổi mạnh mẽ về động cơ, về nấc thang giá trị xã
1
2

Phòng Thanh tra giáo dục, Trường Đại học Tài chính-Marketing
Phịng Thanh tra giáo dục, Trường Đại học Tài chính-Marketing

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

83


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

hội. Đồng nghĩa với việc sinh viên cần phát triển các kỹ năng, cách ứng xử mới. Do đó, hiệu
quả của việc đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên chắc chắn sẽ tạo ra giá trị lớn.
Tóm lại, hàm ý ở trên đều chỉ ra rằng: đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên trong trường
đại học là một trong những giải pháp lớn trước mắt. Tuy nhiên, hoạt động đào tạo kỹ năng
mềm tại các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam đã thực sự đạt được mong đợi? so với thế
giới thì thế nào? cần làm gì để thực hiện nó tốt hơn? Để có đáp án cho những câu hỏi trên,
nhóm tác giả đã tiến hành thu thập các minh chứng, các con số, đánh giá, nhận xét, phản biện
của các nhà khoa học trong và ngoài nước để làm phong phú thêm cho nghiên cứu của mình.
Tuy nhiên trong khoảng thời gian có hạn, nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở mức đánh giá tổng
quát, sơ bộ, chưa đi sâu vào thực nghiệm, đây cũng là một hạn chế nhỏ của bài viết.
2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng quan lý thuyết
Sinh viên được bắt nguồn từ một thuật ngữ Latin "Studens", nghĩa là người làm việc,
người tìm kiếm, người khai thác tri thức. Luật Giáo dục đại học cũng đưa ra một khái niệm
tổng thể về sinh viên, xem: “Sinh viên là người đang học tập và nghiên cứu khoa học tại cơ
sở giáo dục đại học, theo học các chương trình đào tạo cao đẳng, đào tạo đại học”. Sinh viên
có nhiều đặc điểm nổi bật, với những đặc trưng rất riêng. Dẫn theo tác giả Dương Thị Diệu
Hoa và nhóm tác giả (2008): “Đặc trưng chung cơ bản của lứa tuổi này là sự trưởng thành và
ổn định về tâm lí và nhân cách được biểu hiện qua sự trưởng thành của ý thức và tự ý thức;
trong sự phát triển tình cảm cấp cao, trong tình bạn, tình yêu và trong quan hệ xã hội”. Cũng
theo tác giả, sinh viên có động cơ học tập và những nét tâm lý rất riêng, có thể liệt kê ra là:
(1) Về động cơ học tập, sinh viên có động cơ nhận thức khoa học, động cơ nghề nghiệp, động
cơ vì giá trị xã hội và động cơ tự khẳng định mình, tác giả cũng khẳng định thêm rằng: Những
động cơ trên đều có giá trị thúc đẩy hoạt động học tập của sinh viên. Tuy nhiên, tuỳ những
thời điểm và tuỳ đối tượng sinh viên mà các động cơ trên có sức mạnh thúc đẩy khác nhau.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới động cơ học của sinh viên như: nội dung tri thức khoa học,
phương pháp dạy học và hơn hết là ý thức của sinh viên về giá trị của việc học…; (2) Đặc
điểm riêng biệt của tâm lý sinh viên được thể hiện như: Xây dựng kịch bản đường đời, phát
triển xu hướng nhân cách cá nhân và các đặc điểm thể hiện 6 kiểu nhân cách sinh viên xếp
theo thứ tự từ 1 đến 6 với đặc điểm tương ứng là sinh viên sinh viên học xuất sắc cả về chuyên
môn và các lĩnh vực khoa học cho đến kiểu sinh viên học yếu, thụ động. Nhóm tác giả xoáy
sâu vào những khái niệm này để làm cơ sở cho đề xuất giải pháp.
Kỹ năng mềm – Từ nghiên cứu của tác giả Kechagias (2011), ông đã dẫn dắt vấn đề
như sau: có nhiều thuật ngữ khác nhau về kỹ năng mềm, thường được sử dụng thay thế cho
nhau (Binkley et al, 2005) dùng để mô tả những khái niệm tương tự, bao gồm "kỹ năng hỗ
trợ", "kỹ năng chung", “kỹ năng cốt lõi”, “năng lực chính”, “kỹ năng thiết yếu” và “kỹ năng
cần thiết”. Sự khác nhau của các thuật ngữ bắt nguồn từ những hàm ý khác nhau và chúng
thường được chọn để đáp ứng các hồn cảnh, sở thích cụ thể của các địa phương, quốc gia
và do đó, nó cũng khơng q liên quan đến sự khác biệt trong cách các kỹ năng này được
hình thành. Tác giả trên cũng đã đưa ra định nghĩa kỹ năng mềm là: các kỹ năng nội bộ và
liên cá nhân (cảm xúc xã hội), cần thiết cho phát triển cá nhân, tham gia xã hội và thành công

tại nơi làm việc. Chúng bao gồm các kỹ năng như giao tiếp, kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ
Ngày 23 tháng 10 năm 2021

84


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

năng thích ứng,... Những kỹ năng này cần được phân biệt với kỹ thuật, hoặc “kỹ năng cứng”.
Tác giả này đã mô tả chúng là “kỹ năng” để nhấn mạnh thực tế là chúng có thể được học và
phát triển bằng các nỗ lực đào tạo phù hợp và chúng cũng có thể được kết hợp với nhau,
hướng tới đạt được những kết quả tốt hơn. Tác giả đã chỉ ra nội hàm của khái niệm mà theo
nhóm nghiên cứu nó đầy đủ, thể hiện được bản chất của kỹ năng mềm, nên nhóm nghiên cứu
sẽ khơng trích dẫn thêm và dùng khái niệm này để phân tích xuyên suốt bài viết.
Đào tạo kỹ năng mềm là một hoạt động có ý nghĩa vô cùng lớn. Tầm quan trọng của
đào tạo kỹ năng mềm cũng được nhấn mạnh bởi các Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
(OECD), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Liên minh Châu Âu. Hecker (1997) đã thực
hiện một nghiên cứu, xác định về sự cần thiết và tầm quan trọng của kỹ năng mềm; Vai trò
của hoạt động đào tạo kỹ năng mềm và đưa ra giải pháp nâng cao việc đào tạo kỹ năng mềm
cho sinh viên. Mạng thông tin về Giáo dục ở châu Âu, Eurydice, phác thảo vị trí của kỹ năng
mềm như sau: “Mặc dù cách hiểu và giải thích thuật ngữ có thể khác song phần lớn các
chuyên gia đều đồng ý rằng để có năng lực xứng đáng với các thuộc tính chẳng hạn như “chìa
khóa”, “cốt lõi”, “thiết yếu” hoặc “cơ bản”, nó phải cần thiết và có lợi cho bất kỳ cá nhân và
toàn xã hội” (Eurydice, 2002). Theo Moore (2004), có hai trường phái tư tưởng liên quan đến
việc giảng dạy và phát triển “kỹ năng mềm” đó là: Những người theo chủ nghĩa tổng quát và
những người theo chủ nghĩa cụ thể hóa. Các nhà tổng quát học vào thập niên 1970 tin rằng
các kỹ năng mềm thực sự là chung chung, do đó có thể được dạy tách biệt với nội dung và
áp dụng cho bất kỳ ngành học nào, nó có thể được dạy như một tập hợp các quy trình nhận
thức sau đó được áp dụng cho bất kỳ bối cảnh nào. Ngược lại, những người theo chủ nghĩa
cụ thể thì khơng như vậy, họ cho rằng các thuộc tính tư duy không thể được dạy tách biệt

khỏi các ngành học mà người học đã chọn như một môn học. Các nghiên cứu khác của
Georges (1996); Laker & Powell (2011) cũng nhận định thêm: cách tiếp cận theo chủ nghĩa
cụ thể dường như đang được củng cố bởi sự công nhận rằng các kỹ năng mềm khó được
chuyển giao trong thực tế hơn nhiều so với các kỹ năng cứng. Resnick (1987) lại chỉ trích
việc sử dụng các tình huống học tập cụ thể vì ơng cho rằng việc học tập có thể bị ràng buộc
với mơi trường đó và khơng tạo ra tác dụng thật sự khi chuyển sang các tình huống khác.
Billett (1998) cũng cùng nhận định như trên.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phần tổng quan của đề tài, nhóm tác giả đã khái quát một cách tổng thể về 3 khái niệm
cơ bản là: sinh viên, kỹ năng mềm và đào tạo kỹ năng mềm; đây là những từ khóa quan trọng
của bài nghiên cứu thông qua phương pháp tổng hợp nguồn từ tài liệu sơ cấp và thứ cấp. Phần
trọng tâm bài nghiên cứu là đi sâu nghiên cứu thực trạng hoạt động đào tạo kỹ năng mềm
trên thế giới và tại các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam qua phương pháp phân tích –
tổng hợp – so sánh – và cuối cùng là tổng luận lại vấn đề, suy luận để tìm lời giải cho câu
hỏi: “Cần làm gì để thực hiện nó tốt hơn?”.
3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN THẾ
GIỚI VÀ VIỆT NAM
3.1. Thực tiễn về hoạt động đào tạo kỹ năng mềm trên thế giới
Trên thế giới, hầu hết các quốc gia đều nhận thức rõ tầm quan trọng của kỹ năng mềm,
vì vậy ở nhiều quốc gia họ đã chú trọng đào tạo kỹ năng mềm và hình thành các tổ chức chịu
Ngày 23 tháng 10 năm 2021

85


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

trách nhiệm về việc nghiên cứu để phát triển các kỹ năng mềm, khơng chỉ cho riêng đối tượng
sinh viên mà cịn cho mọi đối tượng trong xã hội.
Ở Châu Âu: Hoa Kỳ là nước rất coi trọng kỹ năng này, Bộ Lao động của Hoa Kỳ đã

thành lập một tổ chức với tên gọi “The Secretary’s Comission on Achieving Necessary
Skills” - Uỷ ban Thư ký về rèn luyện các kỹ năng cốt lõi. Tại Anh, Bộ Kinh tế và Phát triển
là một tổ chức hiện chịu trách nhiệm các vấn đề liên quan đến phát triển kỹ năng. Tại Canada,
Bộ phát triển nguồn nhân lực và kỹ năng Canada - Human Resources and Skills Development
Canada là nơi phụ trách về vấn đề phát triển kỹ năng cho người lao động. Bộ này đã tiến hành
nhiều nghiên cứu và tổng kết một loạt danh sách các kỹ năng mềm cho hoạt động đào tạo
như: giao tiếp, giải quyết vấn đề, tư duy, thích ứng, làm việc nhóm và nghiên cứu khoa học…
Ở Châu Úc: Hội đồng BCA (Hội đồng Kinh doanh Úc) đã kết hợp chặt chẽ với với
tổ chức ACCI (Thương mại và Công nghiệp Úc) dưới sự bảo trợ của Bộ Giáo dục đào tạo và
Khoa học (DEST) và Hội đồng Giáo dục quốc gia Úc (ANTA) xuất bản cuốn Employability
Skills For Future (Kỹ năng làm việc cho tương lai) - Cơng trình này chỉ ra 8 kỹ năng mềm
quan trọng với người lao động, bao gồm: giao tiếp, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề, sáng
tạo và mạo hiểm, lập kế hoạch và tổ chức công việc, tự quản, học tập suốt đời và kỹ năng
công nghệ.
Ở Châu Á, điển hình là Singapore, Cục Phát triển Lao động (Workforce Development
Agency) rất quan tâm đến kỹ năng nghề nghiệp, trong đó vị trí của kỹ năng mềm được coi là
vị trí số một. Cục này đã đưa ra 10 kỹ năng mềm quan trọng cần đào tạo là: viết - tính tốn,
sử dụng cơng nghệ thơng tin - truyền thơng, giải quyết vấn đề - ra quyết định, sáng tạo - mạo
hiểm, giao tiếp - quản lý mối quan hệ, quản lý bản thân, tổ chức cơng việc - an tồn lao động,
vệ sinh sức khỏe, học tập suốt đời, tư duy mở toàn cầu. Tại Malaysia, Bộ Giáo dục Đại học
Malaysia đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của kỹ năng mềm và thường đưa ra các chương
giới thiệu “Framework of Soft Skills Infusion Based” - “Truyền đạt kỹ năng mềm” nhằm nêu
rõ mục đích của giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên và thảo luận về phương pháp phát triển
kỹ năng mềm đối với sinh viên.
Từ những minh chứng trên, chứng tỏ các nước trên thế giới đều rất quan tâm đến vấn
đề nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên. Và đó cũng là lý do tại sao sinh
viên thế giới có nhiều điểm mạnh vượt trội về kỹ năng mềm, bởi đối với họ nó được hình
thành từ sớm và chú trọng đào tạo bài bản và trong mọi hoàn cảnh.
3.2. Thực tiễn về hoạt động đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên Việt Nam
Tại diễn đàn Tiếng nói trẻ (2018), ông Andree Mangels (tổng giám đốc Adecco

Vietnam) cho rằng: “Điểm số học tập của sinh viên Việt Nam thường rất cao so với sinh viên
các nước, đặc biệt về Toán học. Tuy nhiên, các nhà tuyển dụng nhận thấy sinh viên Việt Nam
học quá nhiều, lại thiếu kỹ năng mềm”. Có cùng nhận định trên, Giáo sư Trương Nguyện
Thành (tác giả của hơn 200 bài báo quốc tế): “Sinh viên Việt Nam không thua kém sinh viên
các nước khác về mặt trí tuệ nhưng lại rất yếu về kỹ năng mềm”. Cũng theo Tiến sĩ Lê Thẩm
Dương “Để đánh giá đúng điểm mạnh của bản thân phải dựa trên 4 yếu tố: Kiến thức, kỹ
năng, thái độ và tính cách. Trong đó, thái độ và kỹ năng quan trọng bậc nhất đối với nhiều
nhà tuyển dụng, nhưng điều đáng tiếc là sinh viên không được đào tạo bài bản về các kỹ năng
này”. Những nhận định trên đều cho rằng hiện nay, sinh viên Việt Nam còn kém cạnh so với
Ngày 23 tháng 10 năm 2021

86


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

sinh viên các nước trên thế giới về mặt kỹ năng mềm, đây là một điểm yếu cần khắc phục.
Trên khắp cả nước hiện có khoảng 460 trường đại học, cao đẳng với hơn 2,5 triệu sinh viên
(Theo số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2020). Nhưng đa phần sinh viên sau khi
tốt nghiệp lại rất khó để tiếp cận thị trường lao động do không đủ năng lực, trình độ để đảm
nhận các vị trí trong doanh nghiệp, không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng và một
trong những hạn chế ấy là thiếu kỹ năng mềm.
Theo một nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy & Nguyễn Thị Ngọc Anh (2019) khi
nghiên cứu về thực trạng kỹ năng mềm của sinh viên trường Đại học Hà Nội với mẫu 593
sinh viên, sử dụng phiếu điều tra Anket và xử lý bằng phần mềm SPSS 22. Nội dung các câu
hỏi khảo sát tập trung 3 nhóm vấn đề chính là: 1) Nhận thức của sinh viên về kỹ năng mềm;
2) Đánh giá của sinh viên về một số nhóm kỹ năng mềm hiện nay; 3) Nhu cầu học tập kỹ
năng mềm, hình thức, nội dung, thời gian đào tạo. Kết quả đạt được như sau: Ở nhóm 1, mức
độ hiểu biết của sinh viên về kỹ năng mềm thì có tới 71,95% chọn “Biết ở mức độ vừa phải”,
“Biết rõ” chỉ có 12,2%, đáng nói vẫn có 3 sinh viên chọn “Khơng biết gì” chiếm 0.5%. Cịn

lại là “Biết rất ít”. Trong khi đó, trả lời cho câu hỏi có cần thiết đào tạo kỹ năng mềm cho
sinh viên: thì có tới 80.5% sinh viên chọn phương án “Rất cần thiết” và 19.5% còn lại là “Cần
thiết nhưng không phải yếu tốt quyết định”. Tuy nhiên, cũng từ nghiên cứu này, sinh viên
đánh giá về chất lượng của các hoạt động đào tạo nâng cao kỹ năng mềm cho sinh viên thì
chỉ có xấp xĩ 13.6% chọn mức độ “Tốt” và “Rất tốt”, chưa đáp ứng yêu cầu là 11% (47 sinh
viên); mức “Bình thường” là nhiều nhất chiếm 75.4% (322 sinh viên). Từ khảo sát trên cho
thấy hiểu quả đào tạo kỹ năng mềm của Trường Đại học Hà Nội là chưa cao, chủ yếu ở mức
bình thường; Một nghiên cứu khác tại Trường Đại học Ngân hàng(8) thông qua phát phiếu
điều tra và xử lý số liệu, kết quả về tỷ lệ sinh viên như sau: sinh viên năm 4: 25,7%; năm 3
nhiều nhất với 47,5%, còn lại 26,8% là năm 1 và 2, đã thu được kết quả như sau: 66,3% cho
rằng kỹ năng mềm là “Rất cần thiết”, 25,7% trả lời là “Cần thiết”, cịn lại là “Bình thường”;
Với câu hỏi: nhận định của bản thân về mức độ đạt kỹ năng mềm của mình, thì đa phần sinh
viên lại tự đánh giá mình ở mức “Trung bình” và “Kém”. Mới đây nhất, trong một nghiên
cứu tại Trường Đại học Thủ Dầu Một của tác giả Phạm Kim Cương (2021) thực hiện với
3.457 phiếu trả lời khảo sát thu được kết quả dưới đây (Bảng 1, 2, 3):
Bảng1. Mức độ hiểu biết của sinh viên Đại học Thủ Dầu Một về kỹ năng mềm

Nguồn: Phạm Kim Cương, 2021

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

87


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

Bảng 2. Nhận thức của sinh viên Đại học Thủ Dầu Một về vai trò kỹ năng mềm

Nguồn: Phạm Kim Cương, 2021
Bảng 3. Mức độ ứng dụng kỹ năng mềm của sinh viên Đại học Thủ Dầu Một


Nguồn: Phạm Kim Cương, 2021
Theo các minh họa ở trên, Bảng 1: “Đã biết về kỹ năng mềm” chiếm tỉ lệ 71,2% số
sinh viên được khảo sát, 28,8% là “Chưa biết”. Bảng 2, khi được hỏi về “Sự cần thiết của kỹ
năng mềm” tán thành đạt 90,9%, còn 9,1% cho rằng “Cần thiết nhưng chưa phải yếu tố quyết
định”. Bảng 3: “Mức độ ứng dụng kỹ năng mềm” chỉ có 9% chấp nhận kết quả “Đã hiểu và
từng ứng dụng những kỹ năng đó vào thực tế”; có 44,3% “Đã hiểu nhưng chưa có sự ứng
dụng những kỹ năng đó vào thực tế” và 46.7% “Chưa có cơ hội ứng dụng vào thực tế”. Mặc
dù ba nghiên cứu trên khơng đủ tính đại diện và chưa bao quát nhưng nó cũng là minh chứng
thực tiễn cho tình hình đào tạo kỹ năng mềm tại các trường đại học, cao đẳng Việt Nam hiện
nay.
Tóm lại, tại Việt Nam, các trường Đại học, cao đẳng cũng đã chủ động đưa chương
trình “Kỹ năng mềm” vào chương trình đào tạo, xem nó là mơn học chính quy hoặc là một
trong những chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường lao
động. Tuy nhiên, việc đào tạo kỹ năng mềm tại nhiều trường chưa đạt hiệu quả mong muốn.
Cần sự phối hợp nhiều giải pháp đưa ra để nâng cao hơn nữa hoạt động đào tạo kỹ năng mềm
cho sinh viên tại các trường đại học, cao đẳng trong thời gian tới. Phần này sẽ được nhóm tác
giả trình bày trong mục kế tiếp.
4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
4.1. Kết luận
Từ những phân tích, chứng minh ở trên cho thấy: Đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên
là thực sự cần thiết. Các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều đã nhận thức tầm quan
trọng của nó, trên thế giới nhiều nước đã đào sâu nghiên cứu và truyền đạt kỹ năng mềm cho
Ngày 23 tháng 10 năm 2021

88


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện


toàn bộ các đối tượng lao động chứ không riêng sinh viên, thiết lập nên những tổ chức quản
lý kỹ năng mềm của quốc gia, đưa nó lồng ghép vào trong từng hoạt động, đặc biệt là lĩnh
vực giáo dục. Ở Việt Nam, hầu hết các trường đại học, cao đẳng cũng đã chú trọng trong đến
vai trò của kỹ năng mềm, đưa nó vào chương trình đào tạo, xem nó là mơn học hoặc là kỹ
năng thuộc chuẩn đầu ra. Tuy nhiên, việc đào tạo chưa thực sự đem lại hiệu quả. Phạm vi bài
viết, nhóm tác giả trích dẫn ba nghiên cứu khác nhau, đều chỉ ra rằng: Bản thân sinh viên đều
ý thức được tầm quan trọng của kỹ năng mềm. Tuy nhiên việc học, vận dụng thì cịn nhiều
hạn chế và ít có cơ hội để ứng dụng vào thực tế. Điều này có thể dẫn đến lập luận, việc đào
tạo kỹ năng mềm còn nặng lý thuyết thiếu thực hành, thực tiễn, thiếu sự rèn luyện và xem
nhẹ cả q trình đào tạo. Đây cũng chính là một trong những hạn chế lớn của việc đào tạo kỹ
năng mềm.
4.2. Giải pháp đề xuất
- Từ phía sinh viên cần nâng cao ý thức, chủ động rèn luyện kỹ năng mềm mọi lúc
mọi nơi. Cụ thể: Nhận thức đúng về vai trò của kỹ năng mềm đối với bản thân cả trong học
tập, làm việc và cuộc sống để luôn ln tích cực hơn trong q trình tiếp thu, thực hành các
kỹ năng mềm trước, trong và sau mỗi buổi học; Rèn luyện thêm thói quen đọc sách, đặc biệt
là sách liên quan đến kỹ năng sống, kỹ năng mềm, những kinh nghiệm thành công, thất bại
để tự đúc rút thêm những vốn sống cho bản thân; Ngồi q trình học tập các kỹ năng mềm,
sinh viên cũng nên tham gia nhiều các chương trinh ngoại khóa, chương trình tọa đàm, tham
quan thực tế, hay những cuộc trò chuyện, cuộc thi có liên quan đến kỹ năng mềm và tích cực
tham gia các tổ chức, các phịng trào đồn, hội, các câu lạc bộ trong nhà trường theo khả
năng, nhu cầu, sở thích của bản thân giúp hồn thiện kỹ năng và định hình tốt giá trị sống của
bản thân; Tìm kiếm những cơng việc bán thời gian phù hợp, ngồi mục đích tạo thu nhập cịn
giúp bổ sung kinh nghiệm, bổ trợ cho quá trình học tập và rèn luyện nhiều các kỹ năng mềm
khác như: giao tiếp, xử lý tình huống, giải quyết vấn đề, lắng nghe, quản lý thời gian ...
- Từ phía giảng viên: Một khi năng lực và kinh nghiệm của giảng viên được nâng cao
thì khả năng về kỹ năng mềm của sinh viên cũng sẽ được cải thiện. Do đó, từ phía giảng viên
cần không ngừng nâng cao năng lực và chất lượng của đội ngũ tham gia đào tạo kỹ năng
mềm, tuyển chọn và xây dựng một đội ngũ cán bộ giảng viên, chuyên gia kiến thức sâu rộng,
kỹ năng thành thục để chia sẻ kỹ năng đến sinh viên. Bản thân giảng viên cần bôi dưỡng

chuyên môn, kỹ năng và trải nghiệm thực tế cho bản thân, hoàn thiện phương pháp giảng dạy
tích cực tạo khơng khí sinh động, hiệu quả khi hướng dẫn kỹ năng. Thường xuyên học hỏi
lẫn nhau thông qua các buổi báo cáo chuyên đề, trao đổi, giao lưu kinh nghiệm hoặc mời các
chuyên gia để tập huấn. Đa dạng hóa các hình thức, phương pháp giảng dạy kỹ năng, chú
trọng phương pháp “học tập qua trải nghiệm” và tạo được hứng thú cho sinh viên.
- Từ nhà trường: Kỹ năng mềm chú trọng nhất là rèn luyện kỹ năng, nên trước hết nhà
trường cần chú trọng đầu tư cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy kỹ năng mềm, liên tục
cập nhật, bổ sung các đầu sách đào tạo kỹ năng mềm, chuẩn hóa các phòng học kỹ năng mềm,
chuẩn bị đầy đủ dụng cụ về số lượng và chất lượng. Phối hợp với các doanh nghiệp bên ngoài,
các đơn vị liên kết, bên thứ ba để nắm bắt xu hướng nghề nghiệp và tạo nhiều cơ hội cho
giảng viên, sinh viên có mơi trường thực nghiệm thêm. Bên cạnh đó, cần xây dựng một
chương trình chuẩn, sát thực tế, phân bổ thời lượng các học phần một cách hợp lý; Thường
xuyên tổng hợp ý kiến sinh viên, giảng viên và tham khảo thêm các bên liên quan để rà soát
Ngày 23 tháng 10 năm 2021

89


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

và điều chỉnh chuẩn đầu ra cho hợp lý. Hoàn thiện chuẩn đầu ra của từng kỹ năng, hướng đến
xu hướng tiếp cận theo năng lực. Đồng thời bổ sung, lồng ghép kỹ năng mềm phù hợp với
chuyên ngành đào tạo vào hoạt động đào tạo chuyên môn.
Nếu đào sâu nội dung nghiên cứu, có thể sẽ cịn nhiều những giải pháp khác nữa trong
việc phát huy vai trò của đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên. Tuy vậy, trong phạm vi đề tài
nhóm tác giả chỉ xin đề xuất một số giải pháp quy về ba nhóm giải pháp chính như trên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Binkley, M., Sternberg, R., Jones, S., Nohara, D., Murray, T. S., & Clermont, Y. (2005).
Moving Towards Measurement:the Overarching ConceptualFramework for the All Study.
Measuring adult and life skills: new frameworks assessment. 46-86.

2. Billett, S. (1998). Transfer and social practice. Australian and New Zealand Journal of
Vocational Education Research. 6(1), 1-26.
3. Dương Thị Diệu Hoa, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Kế Hào, Phan Trọng Ngọ & Đỗ Thị
Hạnh Phúc (2008). Giáo trình Tâm lý học phát triển. NXB Đại học Sư phạm. Số đăng kí
KHXB: 35–2008/CXB/725–70/ĐHSP.
4. Eurydice (2002). Key competencies. Brussels: Eurydice.
5. Georges, J. C. (1996). The Myth of Soft-Skills Training. Training. 33(1).
6. Hecker, P.A. (1997). Successful Consulting Engineering: a Lifetime of Learning. Journal
of Management in Engineering. No.13 (6).
7. Hiền Bùi (2001). Từ điển giáo dục học. NXB Từ điển bách khoa.
8. />9. Kechagias, K. (2011). Teaching and Assessing Soft Skills. Education and Culture DG:
Lifelong learning Programme. ISBN: 978-960-9600-00-2.
10. Laker, D. R. & Powell, J. L. (2011). The differences between hard and soft skills and their
relative impact on training transfer. Human Resource Development Quarterly. 22(1), 111122.
11. Moore, T. (2004). The Critical Thinking Debate: How General Are General Thinking
Skills? Higher Education Research and Development. 23(1), 3-18.
12. Phạm Kim Cương (2021). Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên Trường Đại học Thủ
Dầu Một đạt chuẩn đầu ra theo CDIO. NXB Tài chính.
13. Nguyễn Thị Thủy & Nguyễn Thị Ngọc Anh (2019). Định hướng bồi dưỡng kỹ năng mềm
cho sinh viên trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tại trường Đại học Hà Nội. Tạp chí
Khoa học. Số 30/2019. 77-85.
14. Quốc Hội (2012). Luật Giáo dục đại học. NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật.
15. Resnick, L. B. (1987). Learning in School and out. Educational Researcher. 16(9), 13-54.

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

90




×