Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
BÀN VỀ VIỆC THAY ĐỔI HÌNH THỨC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
MỘT SỐ MƠN KỸ NĂNG MỀM TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI
CHÍNH-MARKETING PHÙ HỢP VỚI DẠY HỌC TRỰC TUYẾN
ThS. Nguyễn Thị Trường Hân1
ThS. Lê Thị Thúy Hà2
TÓM TẮT
Dạy học trực tuyến đang dần trở thành một xu hướng tất yếu trong giáo dục nói chung
và giáo dục đại học nói riêng, đặc biệt trong và sau bối cảnh dịch bệnh Covid 19 hoành hành
khắp thế giới. Dạy học trực tuyến khác nhiều so với dạy học truyền thống thống trên nhiều
phương diện, rõ nét nhất là cách thức tương tác, điều kiện tương tác, các yếu tố ảnh hưởng
đến sự tập trung, hứng thú cũng như cảm xúc của người dạy và người học, khả năng kiểm
soát lớp học của giáo viên…. Khác biệt này đòi hỏi sự thay đổi trong nhiều khâu, nhiều nội
dung thuộc chương trình đào tạo để phù hợp với kiểu dạy học trực tuyến. Trong khuôn khổ
bài viết này, tác giả bàn luận về việc cần thay đổi hình thức kiểm tra, đánh giá áp dụng đối
với một số mơn Kỹ năng mềm trường tại Đại học Tài chính – Marketing, dựa trên cơ sở lý
luận về dạy học trực tuyến và kiểm tra, đánh giá, đặc biệt qua trao đổi với một số giảng viên
dạy Kỹ năng mềm của Viện Nghiên cứu Kinh tế ứng dụng cũng như trải nghiệm dạy, chấm
thi online của tác giả trong học kỳ đầu và học kỳ giữa năm học 2021 tại trường.
TỪ KHĨA
Hình thức kiểm tra, đánh giá; Kỹ năng mềm; Dạy học trực tuyến.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đào tạo trực tuyến là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công
nghệ thông tin và truyền thông. Phương thức đào tạo này thu hút sự quan tâm của nhiều
trường đại học trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Đặc biệt, trước diễn biến phức tạp của đại
dịch Covid 19, dạy học trực tuyến là lựa chọn tối ưu và ngày càng phát huy nhiều ưu điểm
nổi bật.
Kiểm tra, đánh giá là một khâu rất quan trọng, khơng thể tách rời khỏi q trình dạy
học. Kiểm tra, đánh giá nhằm cung cấp thông tin để so sánh, đối chiếu những kiến thức, kỹ
năng, thái độ mà người học thực tế đạt được với kết quả mong đợi được xác định ở mục tiêu
dạy học.
Tại Đại học Tài chính – Marketing, việc kiểm tra, đánh giá, cụ thể đánh giá kết quả
thi kết thúc học phần các môn Kỹ năng mềm tại trường những năm gần đây đều diễn ra bằng
hình thức trực tiếp tại trường, dưới dạng vấn đáp cá nhân, thuyết trình nhóm hay hoạt động
theo nhóm (dã ngoại). Do sự phức tạp của dịch bệnh từ tháng cuối tháng 4 năm 2021 đến
nay, đặc biệt tại thành phố Hồ Chí Minh, việc dạy học tại trường được diễn ra hoàn toàn bằng
1
2
Viện Nghiên cứu kinh tế ứng dụng, Trường Đại học Tài chính-Marketing
Viện Nghiên cứu kinh tế ứng dụng, Trường Đại học Tài chính-Marketing
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
53
Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
hình thức trực tuyến đối với học kì giữa năm 2021. Hình thức thi kết thúc học phần các môn
học của trường ở học kì đầu và học kì giữa có rất nhiều sự thay đổi, trong đó, tất cả 8 mơn
Kỹ năng mềm đều được tiến hành bằng hình thức thi trực tuyến - điều chưa bao giờ diễn ra
trước đây trong các kì thi tại trường. Điều này gây ra những khó khăn nhất định đối với cơng
tác tổ chức thi và chấm thi.
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ VÀ DẠY HỌC TRỰC TUYẾN
2.1. Lý luận về kiểm tra, đánh giá
2.1.1. Khái niệm kiểm tra, đánh giá
Theo Airasian (1997), kiểm tra, đánh giá được hiểu là quá trình thu thập, tổng hợp và
diễn giải thơng tin hỗ trợ cho việc ra quyết định.
Stassen, Doherty, và Poe (2001) định nghĩa kiểm tra, đánh giá trong giáo dục là sự thu
thập có hệ thống và phân tích thơng tin để cung cấp phản hồi hiệu quả về cách sinh viên đạt
được mục tiêu học tập riêng của mình, từ đó cải thiện hoạt động học.
Linn và Miller (2005) xác định kiểm tra, đánh giá học tập của người học là một q
trình có hệ thống để thu thập thơng tin về sự tiến bộ của người học đối với các mục tiêu học
tập.
2.1.2. Vai trò của kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra, đánh giá là một khâu không thể tách rời khỏi quá trình dạy học. Kiểm tra,
đánh giá trong giáo dục có ba vai trị quan trọng:
Thứ nhất, kiểm tra, đánh giá là một thành tố quan trọng trong nghiên cứu lí luận dạy
học cùng với xây dựng mục tiêu, thiết kế nội dung, tổ chức hoạt động dạy-học;
Thứ hai, kiểm tra, đánh giá là công cụ hành nghề quan trọng của người dạy, giúp người
dạy xác định được sự thay đổi của người học thơng qua q trình dạy học để đạt được mục
tiêu giáo dục;
Thứ ba, kiểm tra, đánh giá là một bộ phận quan trọng của quản lí giáo dục, quản lí
chất lượng dạy và học.
2.1.3. Phân loại hình thức kiểm tra, đánh giá
Có nhiều cách phân loại các hình thức kiểm tra, đánh giá trong giáo dục, bao gồm:
- Đánh giá tổng kết: là đánh giá có tính tổng hợp, bao qt nhằm cung cấp thông tin
về sự thành thạo của người học ở các mặt nội dung kiến thức, kĩ năng và thái độ sau khi kết
thúc một khóa học, lớp học hoặc một học phần, chương trình. Hình thức đánh giá này nhằm
hướng đến mục tiêu chính là xác định mức độ đạt thành tích của người học, nhưng khơng
quan tâm đến việc thành tích đó đã đạt được ra sao và kết quả đánh giá này được sử dụng để
công nhận người học đã hoặc khơng hồn thành khóa học, lớp học.
- Đánh giá quá trình: là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thực hiện hoạt động
giảng dạy mơn học, khóa học, cung cấp thơng tin phản hồi cho người học về mức độ nắm
vững thông tin của họ, và những lĩnh vực cần cải thiện, đồng thời giúp người dạy thiết kế
phương pháp giảng dạy phù hợp hơn nhằm mục tiêu cải thiện hoạt động hướng dẫn, giảng
dạy.
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
54
Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
- Đánh giá chính thức: thường liên quan các dạng kiểm tra được dùng như thước đo
chuẩn hóa, được tiến hành thơng qua hình thức viết, như bài kiểm tra, bài thi, hoặc bài luận,
được thực hiện để cho điểm đối với người học, với mục tiêu phân loại người học.
- Đánh giá khơng chính thức: nhằm mục đích chính là xem xét, giám sát việc thực hiện
các nhiệm vụ học tập hàng ngày của người học, thơng qua nhiều hình thức quan sát, thảo
luận, xem xét sự tham gia các hoạt động, tương tác, sự hợp tác với nhau trong nhóm bạn…
chú trọng đến nhận xét định tính về sự tiến bộ trong học tập của người học, nhằm điều chỉnh
nâng cao chất lượng hoạt động học tập chứ không chú trọng vào việc phân loại, xếp hạng học
lực của người học.
- Đánh giá truyền thống: là các loại hình kiểm tra, đánh giá trên giấy như bài tự luận,
câu hỏi trả lời ngắn, trắc nghiệm khách quan kiểu đúng sai, ghép hợp, điền thế, đa lựa chọn.
Kiểu đánh giá này được sử dụng quen thuộc đối với mọi nền giáo dục trên thế giới.
- Đánh giá xác thực: là hoạt động kiểm tra, đánh giá đòi hỏi người học vận dụng các
kỹ năng học được để thực hiện một nhiệm vụ của thực tiễn, hoặc thực hiện một dự án nào đó,
hoặc tạo ra một sản phẩm hoặc thực hiện một kỹ năng nhằm mục đích kiểm tra các năng lực
cần có trong cuộc sống hàng ngày và được thực hiện trong bối cảnh thực tế. Đánh giá xác
thực không chỉ quan tâm đến sản phẩm học tập mà quan tâm đến cả q trình làm ra sản
phẩm đó. Việc đánh giá xác thực chú trọng đến năng lực thực hành, năng lực hành động giải
quyết những vẫn đề đặt ra trong thực tiễn có thể khắc phục được những nhược điểm của đánh
giá truyền thống (được cho là đã đặt người học vào một vai trò thụ động hơn là vai trò chủ
động), huy động mọi khả năng của bản thân để giải quyết các vấn đề từ bối cảnh thực.
2.2. Lý luận về dạy học trực tuyến
2.2.1. Khái niệm dạy học trực tuyến
Dạy học trực tuyến (E-learning) là một khái niệm có nhiều ý kiến khác biệt và chưa
thống nhất (Oblinger and Hawkins, 2005). Zemsky và Massy (2004) cho rằng có ba cách
hiểu khác nhau về dạy học trực tuyến:
- Dạy học trực tuyến là phương thức giáo dục từ xa, hiểu theo nghĩa người học không
cần đến lớp.
- Dạy học trực tuyến là phần mềm hỗ trợ hoạt động giao tiếp trên mạng, cách hiểu này
nhấn mạnh đến vai trò của các hệ thống quản lý học tập LMS.
- Dạy học trực tuyến là việc học thông qua phương tiện điện tử. Cách hiểu này quan
tâm đến nội dung của dạy học trực tuyến hơn là chỉ quan tâm đến cách phân phối như các
cách hiểu trên.
Hai cách hiểu đầu có tính chất giới hạn dạy học trực tuyến trong một phạm vi hẹp và
cách hiểu thứ ba phản ảnh đầy đủ hơn bản chất của dạy học trực tuyến.
Dưới góc độ phương pháp đào tạo/học tập, dạy học trực tuyến được xem là “thuật ngữ
chung bao gồm các ứng dụng và quy trình học tập dựa trên công nghệ thông tin và truyền
thông, cụ thể như học tập dựa trên máy tính, học trên web, lớp học ảo, cộng tác kỹ thuật số
và kết nối mạng” (Urdan & Cornelia, 2000). Ủy ban châu Âu định nghĩa dạy học trực tuyến
là việc sử dụng các công nghệ đa phương tiện mới và internet để nâng cao chất lượng học tập
bằng cách làm cho việc tiếp cận các phương tiện và dịch vụ, việc trao đổi và cộng tác từ xa
dễ dàng hơn (European Commission, 2001). Liên quan đến dạy học trực tuyến trong lĩnh vực
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
55
Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
giáo dục đại học, OECD (2005) cho rằng dạy học trực tuyến là việc ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông trong các tiến trình giáo dục đa dạng của trường đại học nhằm hỗ
trợ và khuyến khích học tập; nó bao gồm cả sử dụng công nghệ này như một công cụ hỗ trợ,
các khóa học trực tuyến và sự kết hợp cả hai hình thức.
2.2.2. Lợi ích và thách thức của dạy học trực tuyến
Lợi ích
Với mức độ ứng dụng công nghệ cao như hiện nay, dạy học trực tuyến hiểu theo nghĩa
rộng nhất, mang lại những lợi ích to lớn cho người học, giảng viên, nhà trường và xã hội:
- Đối với người học, dạy học trực tuyến tạo môi trường học tập chủ động; nghĩa là với
các nội dung được triển khai hoàn toàn trực tuyến, sinh viên có thể làm chủ được việc học
của mình. Bên cạnh đó, người học cịn có thể học ở bất kì nơi đâu chỉ cần có kết nối Internet,
điều này giúp giảm thiểu được thời gian của người học, giúp cho họ có nhiều thời gian tập
trung cho việc học và tăng kết quả học tập.
- Đối với giảng viên, Kaur M. (2013) cho rằng việc áp dụng dạy học trực tuyến cho
phép giảng viên tích hợp được nhiều cơng cụ truyền đạt thông tin như video bài giảng, các
cuộc thảo luận trực tuyến… giúp giảng viên nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ thông
tin trong giảng dạy. Đồng thời, dạy học trực tuyến giúp giảng viên có thể theo dõi học viên
một cách dễ dàng. Giảng viên có thể đánh giá người học thông qua cách trả lời các bài kiểm
tra hoặc các chủ đề thảo luận trên diễn đàn. Điều này cũng giúp đánh giá một cách công bằng
học lực của người học.
- Đối với các tổ chức giáo dục, dạy học trực tuyến giúp giảm được các chi phí như chi
phí đầu tư cho phịng học. Bên cạnh đó, giảng viên đại học ngồi u cầu đứng lớp, họ còn
phải dành thời gian cho nghiên cứu khoa học, tham gia hội thảo, tư vấn nghề nghiệp… Do
đó, đào tạo trực tuyến giúp Nhà trường giải quyết những khó khăn về thời gian cho giảng
viên. Đào tạo trực tuyến cho phép giảng viên mang bài giảng của mình đến hàng trăm người
học (Kaur, M. 2013).
- Đối với xã hội, dạy học trực tuyến giúp thực hiện nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập
và học tập suốt đời. Vì những hạn chế của mơ hình học tập truyền thống, nên chỉ những ai
vượt qua các kỳ thi, học có đủ điều kiện về thời gian và tài chính thì mới có thể vào được
giảng đường đại học. Nhưng với đào tạo trực tuyến, cơ hội học tập có thể mở ra với hầu hết
mọi người khi mà họ không cần đến lớp, với kết nối Internet là đã có thể nghe được những
bài giảng của giảng viên.
- Trên bình diện quốc gia, dạy học trực tuyến giúp nâng cao năng lực nói chung của
đội ngũ lao động, khả năng tiếp cận công nghệ thông tin của công dân, giảm thiểu khoảng
cách số và từ đó nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia và thực hiện bình đẳng xã hội về giáo
dục (Conrads, J. và nhóm đồng tác giả, 2017).
Thách thức
- Sự hiểu biết của xã hội và hành lang pháp lý cho dạy học trực tuyến là rất quan trọng
để có thể mở rộng áp dụng phương thức dạy học trực tuyến trong đào tạo truyền thống bên
cạnh đào tạo từ xa. Vấn đề thừa nhận bằng cấp của các hình thức đào tạo trực tuyến vẫn là
một thách thức lớn của dạy học trực tuyến.
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
56
Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
- Nguồn lực đầu tư cho dạy học trực tuyến không hề nhỏ. Bên cạnh đó, sự thay đổi
nhanh chóng về cơng nghệ cũng là bài toán nan giải cho các nhà đầu tư: cơng nghệ tốn kém
và mang tính rủi ro cao bởi công nghệ nhanh lạc hậu và thường thay đổi. Kinh nghiệm cho
thấy nhiều tập đồn cơng nghệ lớn trên thế giới đã thất bại khi đầu tư cho dạy học trực tuyến.
Những thất bại này có thể được lý giải bởi sự phức tạp của giáo dục và công nghệ.
- Sự tương tác giữa người dạy và người học vẫn bị hạn chế, đặc biệt đối với các môn
học thực hành hay có nhiều khái niệm mới, địi hỏi phải có sự giải thích, hướng dẫn thao tác
từ phía người dạy, cũng như tư duy logic và việc thực hành từ phía người học. Có thể nói,
cho đến nay mặc dù một số công nghệ về thực tế ảo đã được ứng dụng, dạy học trực tuyến
chưa thể thay thế được các hoạt động liên quan đến rèn luyện và hình thành kỹ năng, đặc biệt
là kỹ năng thao tác và vận động.
3. MỘT SỐ KHÓ KHĂN KHI THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ THI KẾT THÚC HỌC
PHẦN CÁC MÔN KỸ NĂNG MỀM BẰNG HÌNH THỨC VẤN ĐÁP TRỰC TUYẾN
Đợt dịch Covid thứ 4 (năm 2021) diễn ra rất phức tạp ở Việt Nam, đặc biệt tại thành
phố Hồ Chí Minh, vì vậy, các trường Đại học đều chuyển sang dạy học trực tuyến. Tại trường
Đại học Tài chính – Marketing, việc dạy học trực tuyến được thực hiện hoàn toàn ở học kì
giữa năm 2021. Hình thức thi các mơn học của trường ở học kì đầu và học kì giữa có nhiều
thay đổi, trong đó, 8 mơn Kỹ năng mềm đều được tiến hành bằng hình thức thi online. Điều
này gây ra những khó khăn nhất định đối với công tác tổ chức thi và chấm thi, đặc biệt đối
với đội ngũ giảng viên chấm thi các môn Kỹ năng mềm.
Qua trao đổi, chia sẻ với một số giảng viên trong bộ môn và ghi nhận ý kiến, phản hồi
từ một số giảng viên, cùng việc phân tích, tổng kết kinh nghiệm giảng dạy kỹ năng mềm tại
trường, đặc biệt trải nghiệm dạy và chấm thi online của tác giả trong học kỳ đầu và học kỳ
giữa vừa qua, tác giả nhận thấy một số khó khăn nổi bật sau:
- Thứ nhất, lịch chấm thi dày đặc với hình thức thi vấn đáp (hầu hết 3 ca/ngày, kéo dài
liên tục trong gần 10 ngày ở học kì đầu và 5 ngày trong học kì giữa) đã ảnh hưởng nhiều đến
sức khỏe (thể chất và tinh thần), cảm xúc, thời gian sinh hoạt thường ngày của giảng viên.
- Thứ hai, nhiều sinh viên vào phòng thi trễ hơn quy định, nộp bài thi trễ vì nhiều lý
do khách quan như liên quan dịch bệnh, điện và mạng internet nên cán bộ chấm thi phải linh
động giải quyết cho sinh viên thi. Sinh viên ra vào phòng thi liên tục, giảng viên vừa chấm
thi, vừa ghi nhận điểm, vừa kiểm soát việc ra vào phịng thi của sinh viên mà khơng có cán
bộ coi thi hỗ trợ nên có nhiều nguy cơ sai sót.
- Thứ ba, thực tế qua 2 kỳ thi kỹ năng mềm được tổ chức bằng hình thức trực tuyến
vừa qua cũng đã ghi nhận một số sai sót trong q trình chấm thi, như bảng điểm gửi phịng
Khảo thí - QLCL hay nhầm lẫn điểm số của một số sinh viên trong lớp thi. Mặc dù giảng
viên có thêm đại diện phịng Khảo thí - QLCL và thanh tra vào lớp thi theo quy định (hai bộ
phận này có thể kiểm tra lại việc tham gia thi của sinh viên theo đường link ghi hình đã cung
cấp; sinh viên dự thi có giới thiệu họ tên đầy đủ trước khi thi và giảng viên đã công bố điểm
đạt được nên đủ minh chứng cho việc điều chỉnh điểm thi cho sinh viên) nhưng việc giải
quyết những vấn đề phát sinh sau những ngày giảng viên chấm thi liên tục rõ ràng tạo ra
những căng thẳng, mệt mỏi, đặc biệt, ngay sau kì các mơn Kỹ năng mềm, giảng viên phải bắt
đầu một học kì mới tại trường.
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
57
Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
4. ĐỀ XUẤT THAY ĐỔI HÌNH THỨC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ HỌC
PHẦN KỸ NĂNG MỀM PHÙ HỢP VỚI GIẢNG DẠY TRỰC TUYẾN
Từ những nghiên cứu lý luận về dạy học trực tuyến có thể rút ra điểm chung: dạy học
trực tuyến là xu thế tất yếu của các trường đại học nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng
của người học và thích ứng an tồn với dịch bệnh; Từ những nghiên cứu lý luận về kiểm tra,
đánh giá, tác giả nhận thấy kiểu đánh giá xác thực, trong đó đánh giá qua dự án (có thể nhóm
hoặc cá nhân) rất phù hợp với nhiều môn Kỹ năng mềm được đào tạo tại trường Đại học Tài
chính – Marketing; Từ những khó khăn nhất định trong hình thức thi trực tuyến theo dạng
vấn đáp (cá nhân hoặc nhóm) cho cả 8 môn Kỹ năng mềm nêu trên, tác giả cho rằng cần có
sự thay đổi về hình thức kiểm tra, đánh giá một số môn Kỹ năng mềm. Điều này tất yếu cần
sự bàn bạc, thống nhất của đội ngũ giảng viên từng môn trong 8 môn Kỹ năng mềm để vừa
đảm bảo chuẩn đầu ra mơn học, vừa thích ứng với việc dạy học trực tuyến.
Qua tham khảo ý kiến của một số giảng viên dạy môn Kỹ năng mềm của Viện Nghiên
cứu Kinh tế ứng dụng, tác giả nhận thấy, trước mắt cần có sự thống nhất trong thay đổi hình
thức thi kết thúc học phần các mơn sau:
1) Kỹ năng Khám phá bản thân và lập kế hoạch nghề nghiệp:
Đề xuất thay hình thức đánh giá kết thúc học phần theo dạng vấn đáp cá nhân tại buổi
thi sang tiểu luận cá nhân (dạng dự án cá nhân trong kiểu đánh giá xác thực). Điều này đòi
hỏi phải điều chỉnh một số bài tập đánh giá quá trình và tỷ trọng điểm trên từng bài tập. Thực
tế, hình thức này cũng đã được tồn bộ giảng viên giảng dạy môn học thông qua trong buổi
họp ở đầu học kì cuối năm 2021. Tác giả rất mong hình thức mới này sẽ được áp dụng trong
học kì đầu năm học 2022.
2) Kỹ năng làm việc nhóm và Kỹ năng Tư duy sáng tạo:
Đề xuất thay hình thức thi dạng vấn đáp nhóm (online) và thực hành dã ngoại (offline)
sang hình thức bài tập dự án nhóm (dạng dự án nhóm trong kiểu đánh giá xác thực). Tác giả
cho rằng, dạng bài tập dự án rất phù hợp để đánh giá kỹ năng làm việc nhóm và tư duy sáng
tạo của sinh viên, vì nó phản ánh chân thực kết quả lĩnh hội kiến thức, vận dụng thực hành
và phát triển kỹ năng làm việc nhóm và tư duy sáng tạo của sinh viên sau thời gian học. Tác
giả cũng rất mong muốn hình thức đề xuất này cũng sẽ được áp dụng khi việc học và thi kỹ
năng làm việc nhóm và tư duy sáng tạo diễn ra trên lớp (offline). Điều này có thể giúp nhà
trường cắt giảm chi phí nhân sự, nguyên vật liệu chuẩn bị cho hoạt động tổ chức thi kết thúc
học phần cũng như không gây ô nhiễm môi trường bởi các sản phẩm và rác thải sau q trình
tổ chức thi.
3) Mơn Kỹ năng giao tiếp:
Do đặc thù môn học cần đánh giá kỹ năng giao tiếp của sinh viên theo dạng cá nhân
(thể hiện bên ngoài về thái độ và hành vi giao tiếp của từng sinh viêc), nên tác giả cho rằng,
hình thức thi vấn đáp cá nhân (dù online hay thi tại lớp) đều cần thiết và phù hợp. Tuy nhiên,
sau thời gian dài giảng dạy Kỹ năng giao tiếp, đặc biệt dạy tồn bộ mơn học bằng hình thức
trực tuyến, tác giả nhận thấy cần điều chỉnh các bài tập đánh giá quá trình cũng như tỷ trọng
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
58
Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
điểm của từng bài tập để phù hợp hơn với hình thức học trực tuyến. Ngồi ra, về các tiêu chí
chấm thi vấn đáp cá nhân, tác giả cũng cho rằng cần có sự điều chỉnh.
Tiêu chí chấm thi mơn Kỹ năng giao tiếp hiện tại:
Bảng 1. Tiêu chí và điểm số chấm thi kỹ năng Giao tiếp hiện tại
Số
Tiêu chí chung
TT
Kỹ năng giao
tiếp
1
Kỹ năng xử lý
tình huống
2
Các tiêu chí cụ thể
Điểm
số
Chào hỏi, giới thiệu bản thân
(SV tự giới thiệu ngắn về bản
thân)
1
Ứng xử linh hoạt, khéo léo
3
Sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù
hợp
2
Đúng trọng tâm
1
Giải quyết vấn đề thuyết phục
3
Tổng
Điểm của Cán
Ghi chú
bộ chấm thi
10
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Qua trao đổi với một số giảng viên, tác giả tổng hợp và đề xuất tiêu chí chấm thi mơn
Kỹ năng giao tiếp như sau:
Bảng 2. Đề xuất tiêu chí và điểm số chấm thi kỹ năng Giao tiếp
STT
Điểm của
Cán bộ chấm thi
Tiêu chí đánh giá
Ghi chú
1
Khả năng tạo ấn tượng ban đầu
(qua cách chào hỏi, giới thiệu bản
thân…gây thiện cảm)
0
1
1,5
2
2
Khả năng lắng nghe
0
1
1,5
2
3
Khả năng sử dụng ngôn ngữ
(Rõ ràng, mạch lạc, trôi chảy)
0
1
1,5
2
4
Khả năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể
0
1
1,5
2
5
Khả năng xử lý tình huống
(Thuyết phục)
0
1
1,5
2
Khoanh
trịn vào
mức độ
điểm tương
ứng
Khơng làm
trịn điểm
cộng
Tổng điểm
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
59
Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
5. KẾT LUẬN
Sự tác động trực tiếp và sâu sắc của đại dịch covid 19 và cuộc CMCN 4.0 đã làm thay
đổi nhanh chóng mọi mặt của hoạt động giáo dục, đào tạo. Với bộ môn Kỹ năng mềm tại
trường đại học Tài chính – Marketing, tác giả cho rằng đã đến lúc cần trao đổi, bàn bạc để đi
đến thống nhất về những thay đổi toàn diện trong từng học phần, đặc biệt là hình thức kiểm
tra, đánh giá để vừa đảm bảo chuẩn đầu ra mơn học, vừa thích ứng với việc dạy học trực
tuyến.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Hữu Đức, Nghiên cứu về phương thức học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin
(E-learning) trong giáo dục Đại học và đào tạo trực tuyến mở dành cho đại chúng MOOCs
(Massive Online Open Courses): Kinh nghiệm thế giới và ứng dụng tại Việt Nam.
2. Đinh Văn Đệ, Cơ sở lý luận về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học theo
hướng tiếp cận phát triển năng lực trong giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam,
Tạp chí Giáo dục số 410, (Kì 2 - 7/2017)
3. Nguyễn Hồ Phương Nhật, Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của
sinh viên trong dạy học học phần “Tuyển dụng nhân lực” tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội
phân hiệu Quảng Nam, Tạp chí Giáo dục, Số 426 (Kì 2 - 3/2018), tr 58-62; 9.
4. Nguyễn Minh Tân, Nghiên cứu mơ hình và đề xuất giải pháp đào tạo trực tuyến hỗ trợ
một số môn học, ngành học tại Đại học Thái Nguyên, Tạp chí Khoa học & Cơng nghệ
133(03)/1: 167 - 172
5. Trần Quang Thuận, Bùi Văn Hồng, Quản lý dạy học trực tuyến trong các trường đại học
kỹ thuật tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh,
15(1), 51-59
6. />7. />8. />
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
60