Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

Đánh giá nhu cầu đào tạo kỹ năng mềm của cựu sinh viên Đại học Tài chính – Marketing

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (225.33 KB, 9 trang )

Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

ĐÁNH GIÁ NHU CẦU ĐÀO TẠO KỸ NĂNG MỀM CỦA CỰU
SINH VIÊN ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
ThS. Nguyễn Võ Huệ Anh1
TĨM TẮT
Đề tài khảo sát trên 118 cựu sinh viên, thuộc các khoá 12 đến 16 của nhà trường,
nhằm đánh giá nhu cầu đào tạo kỹ năng mềm trong q trình thích ứng với công việc, sau
khi tốt nghiệp Đại học. Với phương pháp nghiên cứu định lượng, kết quả cho thấy, 08 kỹ
năng mềm đang giảng dạy ở trường Đại học Tài chính – Marketing đạt ở mức “cần” hoặc
“rất cần” trong qua trình phỏng vấn, làm việc với khách hàng, triển khai và duy trì cơng
việc. Ngồi ra, cựu sinh viên của nhà trường cũng đề xuất một số kỹ năng cần được tổ chức
giảng dạy cho sinh viên khi học Đại học.
TỪ KHÓA
Nhu cầu đào tạo, kỹ năng mềm, cựu sinh viên, Đại học Tài chính – Marketing.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Liên Hợp Quốc (2013), nguồn nhân lực là “toàn bộ những kiến thức,
kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển
của mỗi cá nhân và của đất nước”. Kết luận này đặt ra yêu cầu cho các trường Đại học, vốn
là nơi cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội, phải thiết kế chương trình đào tạo phù hợp giúp
người học thích ứng được với nghề nghiệp. Theo Chu Văn Đức (2020), uy tín, chất lượng
đào tạo của một trường đại học, suy cho cùng, được quyết định bởi mức độ thích ứng, mức
độ thành cơng trong nghề của những con người do trường đó tạo ra. Nó giúp cơ sở đào tạo
đánh giá được chất lượng đào tạo của mình, từ đó biết điều chỉnh, cần thay đổi gì về chương
trình, nội dung đào tạo. Như vậy, để hồn thành vai trị giáo dục, nâng cao uy tín, trường Đại
học cần đo lường, đánh giá hiệu quả về sự thích ứng của sinh viên sau khi đã tốt nghiệp.
Những phản hồi từ cựu sinh viên đóng vai trị quan trọng trong việc hỗ trợ nhà trường xây
dựng chương trình đào tạo và các hoạt động khác.
Việt Nam có khoảng 400 trường đại học, cao đẳng trên cả nước. Số lượng sinh viên
tốt nghiệp mỗi năm cũng rất lớn. Đây chính là lý do lực lượng cựu sinh viên ngày càng đông
đảo và được bổ sung qua các năm, là bằng chứng cho uy tín về chất lượng của Đại học và


Cao đẳng trong cả nước. Tại Đại học Tài chính – Marketing, với khoảng 3000 – 4000 sinh
viên tốt nghiệp hàng năm, nhà trường dần khẳng định tên tuổi trên thị trường tuyển dụng tại
thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung. Qua các hoạt động Đồn, Hội hay
Câu lạc bộ, tác giả nhận thấy, cựu sinh viên có kết nối tốt, thường xuyên, ổn định với sinh
viên, cũng chính là với nhà trường. Tuy nhiên, những đánh giá của họ về chương trình đào
tạo đã được học khi ngồi trên ghế giảng đường là rất quan trọng nhưng lại chưa được quan
tâm, nghiên cứu.

1

Viện Nghiên cứu kinh tế ứng dụng, Trường Đại học Tài chính-Marketing

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

35


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

Nhận thấy đây là điều cần thiết cần phải tìm hiểu, tác giả quyết định thực hiện một
nghiên cứu nhỏ “đánh giá nhu cầu đào tạo kỹ năng mềm của cựu sinh viên trường Đại học
Tài chính – Marketing”, từ đó thảo luận các giải pháp ban đầu về xây dựng chương trình, tiêu
chí đánh giá cho sinh viên đang theo học tại nhà trường.
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Về cơ sở lý thuyết
Nhu cầu thúc đẩy tính tích cực của nhân cách, chi phối mạnh mẽ đến mọi hoạt động
của cá nhân. Con người có nhiều nhu cầu khác nhau, gồm nhu cầu vật chất và tinh thần. Nhu
cầu đào tạo về một chương trình hay mơn học thuộc về nhu cầu tinh thần, ở nơi đó, con người
muốn hồn thiện kiến thức, kỹ năng, từ đó có việc làm, phát triển nghề nghiệp và khẳng định
bản thân. Với sinh viên, nhu cầu đào tạo nhằm đạt được sự thích ứng về nghề nghiệp, cụ thể

là có việc làm, làm được việc, thành công trong công việc. Thực tế, nhiều sinh viên sau khi
ra trường và làm trên một công việc cụ thể, mới có thể hiểu và xác định những điều mình đã
thiếu hoặc yếu trong q trình học trước đó, từ đấy có nhu cầu được học, tự bổ sung, hồn
thiện. Vì thế, mặc dù khơng cịn trực tiếp học tại giảng đường Đại học, nhưng chúng ta hồn
tồn có thể đánh giá về nhu cầu đào tạo. Để thiết kế chương trình, cập nhật, làm mới nội
dung, cựu sinh viên chính là đối tượng uy tín để nhà trường tham khảo, nghiên cứu.
Theo Chu Văn Đức (2020) với nghiên cứu “Thích ứng nghề của sinh viên ngành Luật
sau khi tốt nghiệp”, đã tìm hiểu trên 385 sinh viên gồm 40 câu hỏi trên 04 mặt: nhận thức giá
trị của nghề, chuyên môn (kỹ năng và vận dụng pháp luật), kỹ năng mềm và cảm xúc trong
công việc. Về kỹ năng mềm, sinh viên Luật có những kỹ năng ít ưu thế hơn gồm Biết làm
việc sáng tạo, Biết giải quyết xung đột, Tự tin nói, trình bày ý kiến trước nhiều người. Đây
là những kỹ năng quan trọng với một người làm việc trong lĩnh vực Luật học. Đề tài kết luận,
nếu sinh viên Luật được đào tạo những kỹ năng này có thể giúp sinh viên thích ứng tốt hơn
với nghề. Như vậy, với những phản hồi từ cựu sinh viên, đề tài đã đưa ra những kết luận ban
đầu cho nhu cầu đào tạo về kỹ năng mềm của trường, giúp sinh viên thích ứng nghề nghiệp.
Được chính thức đào tạo từ năm 2013, bộ mơn Kỹ năng mềm của trường Đại học Tài
chính – Marketing đã triển khai giảng dạy qua 08 năm với nhiều sự thay đổi nội dung nhằm
mục đích đáp ứng kịp thời với xu hướng phát triển của xã hội. Hiện nay, có 08 mơn học trong
tồn bộ chương trình, gồm: 1/ Kỹ năng Làm việc nhóm, 2/ Kỹ năng Giải quyết vấn đề, 3/ Kỹ
năng Tư duy sáng tạo, 4/ Kỹ năng Giao tiếp, 5/ Kỹ năng Thuyết trình, 6/ Kỹ năng Khám phá
bản thân và Lập kế hoạch nghề nghiệp, 7/ Kỹ năng Quản lý thời gian, 8/ Kỹ năng Tìm việc.
Trong đó, sinh viên cần học đủ 04 mơn theo hình thức tự chọn như một yêu cầu bắt buộc để
tốt nghiệp Đại học. Vậy, sau khi ra trường và đi làm, dựa trên kinh nghiệm thực tế, cựu sinh
viên đánh giá mức độ nhu cầu của 08 môn học cho hoạt đông nghề nghiệp này như thế nào,
đây là mục đích nghiên cứu của đề tài và kết quả sẽ được trình bày ở nội dung tiếp theo.
2.2. Về phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được khảo sát trên 118 cựu sinh viên trường Đại học Tài chính –
Marketing, đã theo học từ khoá 12 đến khoá 16, ở tất cả các chuyên ngành đào tạo của trường.
Với khoá 12, đây là lứa sinh viên đầu tiên học chương trình Kỹ năng mềm do nhà trường xây


Ngày 23 tháng 10 năm 2021

36


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

dựng. Với khoá 16, đây là lứa sinh viên tốt nghiệp vào năm 2020, tức gần nhất so với hiện
tại.
Nghiên cứu định lượng với 13 câu hỏi nhằm tìm hiểu đánh giá về nhu cầu đào tạo kỹ
năng mềm của cựu sinh viên, trên 08 học phần được giảng dạy tại trường. Trong đó có 03
câu hỏi nhằm thu thập các thơng tin cá nhân như khoá học, đã làm qua bao nhiêu cơng việc
và cơng việc hiện tại có đúng với chun ngành sinh viên đã học trước đó khơng. Ngồi ra,
một điều cần lưu ý nữa là, có 02 kỹ năng được đưa vào chương trình giảng dạy từ năm 2016,
gồm Kỹ năng Khám phá bản thân và Lập kế hoạch nghề nghiệp và Kỹ năng Tìm việc. Do
đó, một số sinh viên ở các khố 12, 13, 14 tuy khơng tham gia học mơn học này nhưng qua
q trình làm việc, họ vẫn có thể đưa ra những nhận định về sự cần thiết của các kỹ năng này
trong quá trình làm việc của bản thân.
Trong 13 câu hỏi khảo sát, ngồi các câu hỏi về cá nhân, có 01 câu hỏi mở nhằm thu
thập quan điểm của cựu sinh viên về môn học cần được đào tạo tại trường (ngồi 08 mơn
đang triển khai), cịn lại các câu được xây dựng trên thang đo từ 0 đến 4, tương đương “rất
không cần” đến “rất cần”. Cụ thể, các thang sau khi chia mức độ để tính điểm trung bình,
được tính theo thang điểm như sau: 1/ Từ 0 đến £ 0.8 – rất không cần, 2/ Từ 0.8 đến £ 1.6 –
không cần, 3/ Từ 1.6 đến £ 2.4 – trung bình, 4/ Từ 2.4 đến £ 3.2 – cần, 5/ Từ 3.2 đến £ 4.0 –
rất cần.
Tác giả chủ động liên hệ với cựu sinh viên và gửi đường dẫn khảo sát được thiết kế
trên Google. Với cách thức này, đề tài thu được 120 phản hồi và có 118 phản hồi hợp lệ.
2.3. Kết quả nghiên cứu
2.3.1. Mẫu khảo sát
Với 5 khoá sinh viên tham gia khảo sát, kết quả cho thấy có sự khá tương đồng về tỉ

lệ phần trăm về số lượng sinh viên giữa các năm học. Khoá 16 chiếm tỉ lệ tham gia khảo sát
cao nhất (25,42%) và khố 15 có tỉ lệ tham gia khảo sát thấp nhất (14,41%). Còn lại là các
khoá 12, chiếm 16,95%; khoá 13, chiếm 22,88%; khoá 14, chiếm 20,34%.
Bảng 1. Mơ tả mẫu khảo sát
STT
1
2
3
4
5

Khố
12
13
14
15
16

Số lượng
20
27
24
17
30
118

Tổng

Tỷ trọng
16,95%

22,88%
20,34%
14,41%
25,42%
100,00%
Nguồn: từ sự tính tốn của tác giả

Với đặc điểm các khố từ 12 – 16, đề tài tìm hiểu sinh viên đã trải qua bao nhiêu công
việc từ lúc tốt nghiệp Đại học. Kết quả cho thấy, số lượng sinh viên đã từng trải qua từ 2 đến
3 công việc chiếm tỉ lệ cao nhất (31,35% và 29,47%). Kết quả có thể đưa ra nhận định ban
đầu về trải nghiệm làm việc của sinh viên khá đa dạng và chủ động. Trong số các sinh viên
Ngày 23 tháng 10 năm 2021

37


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

đề tài khảo sát, khơng có sinh viên nào “khơng làm việc gì” kể từ khi tốt nghiệp nên bảng hỏi
đã loại trừ khả năng này. Ngoài ra, đề tài được triển khai khảo sát trên cựu sinh viên của tất
cả các ngành học tại nhà trường và kết quả cho thấy, với điểm trung bình là 2,39, chứng tỏ
cựu sinh viên của nhà trường đã và đang làm việc đúng chuyên ngành đào tạo ở mức trung
bình. Đây cũng là mức tiệm cận 2,4, tức mức “đúng chuyên ngành”.
2.3.2. Đánh giá nhu cầu đào tạo kỹ năng mềm của cựu sinh viên
Phân tích về những kỹ năng “yếu/ thiếu” của cựu sinh viên phục vụ cho hoạt động
nghề nghiệp. Nhận định ban đầu từ kết quả của bảng 2 cho thấy, 03 kỹ năng có điểm trung
bình cao nhất là: Làm việc nhóm (M=2,88), Giao tiếp (M=2,84) và Giải quyết vấn đề
(M=2,80). Tuy nhiên, trừ Kỹ năng Quản lý thời gian, tất cả 07 kỹ năng còn lại, khảo sát cho
thấy, cựu sinh viên đã từng “yếu hoặc thiếu” các kỹ năng mềm này để phục vụ cho hoạt động
nghề nghiệp nói chung.

Bảng 2. Đánh giá những kỹ năng yếu/thiếu cho hoạt động nghề nghiệp
STT

Các kỹ năng

Điểm TB

Độ lệch chuẩn

1

Làm việc nhóm

2,88

1,01

2

Giải quyết vấn đề

2,80

0,99

3

Tư duy sáng tạo

2,66


1,04

4

Thuyết trình

2,50

1,11

5

Giao tiếp

2,84

1,03

6

Quản lý thời gian

2,38

1,07

7

KPBT&LKHNN


2,25

1,04

8

Tìm việc

2,52

1,08

Nguồn: Từ sự tính tốn của tác giả
- Đánh giá nhu cầu đào tạo kỹ năng mềm sẽ tốt hơn khi triển khai công việc. Kết quả
cho thấy, ngoại trừ Kỹ năng Tìm việc, tất cả các kỹ năng đều được đánh giá ở mức độ “rất
cần”, là mức cao nhất cần đào tạo khi còn học ở Đại học. Trong đó, 02 kỹ năng có điểm trung
bình cao nhất (M=3,63) là Giao tiếp và Giải quyết vấn đề.
Bảng 3. Nhu cầu đào tạo KNM khi triển khai công việc
STT

Các kỹ năng

Điểm TB

Độ lệch chuẩn

1

Làm việc nhóm


3,23

0,96

2

Giải quyết vấn đề

3,53

0,74

3

Tư duy sáng tạo

3,26

0,83

4

Thuyết trình

3,27

0,88

5


Giao tiếp

3,53

0,70

6

Quản lý thời gian

3,41

0,78

7

KPBT&LKHNN

3,23

0,90

8

Tìm việc

3,01

0,97


Nguồn: Từ sự tính tốn của tác giả
Ngày 23 tháng 10 năm 2021

38


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

- Đánh giá nhu cầu đào tạo kỹ năng mềm trong quá trình phỏng vấn. Kết quả bảng 4
cho thấy, 03 kỹ năng có thể hỗ trợ cho sinh viên trong q trình tham gia phỏng vấn xin việc
đó là, Kỹ năng Giao tiếp (M=3,58), Kỹ năng Giải quyết vấn đề (M=3,44), Kỹ năng Thuyết
trình (M=3,31). Ngồi ra, trừ Kỹ năng Làm việc nhóm và Kỹ năng Quản lý thời gian, tất cả
các kỹ năng đều ở mức “rất cần” đào tạo trong quan điểm của cựu sinh viên – những người
đã từng tham gia vào các buổi phỏng vấn để xin việc.
Bảng 4. Nhu cầu đào tạo KNM trong quá trình phỏng vấn
STT

Các kỹ năng

Điểm TB

Độ lệch chuẩn

1

Làm việc nhóm

2,50


1,10

2

Giải quyết vấn đề

3,44

0,81

3

Tư duy sáng tạo

3,10

0,90

4
5

Thuyết trình
Giao tiếp

3,31

0,81

3,58


0,71

6

Quản lý thời gian

2,85

0,97

7
8

KPBT&LKHNN
Tìm việc

3,24

0,89

3,21

0,85

Nguồn: Từ sự tính tốn của tác giả
- Đánh giá nhu cầu đào tạo kỹ năng mềm khi thích nghi với mơi trường làm việc. Có
thể thấy, Kỹ năng Làm việc nhóm (M=3,56), Kỹ năng Giao tiếp (M=3,55) và Kỹ năng Giải
quyết vấn đề (M=3,46) là những kỹ năng cần được đào tạo nhiều nhất để giúp cựu sinh viên
thích nghi với mơi trường làm việc. Các kỹ năng khác cịn lại đạt ở mức độ “cần” đào tạo.
Bảng 5. Nhu cầu đào tạo KNM khi thíchnghi với mơi trường làm việc

STT

Các kỹ năng

Điểm TB

Độ lệch chuẩn

1

Làm việc nhóm

3,56

0,76

2

Giải quyết vấn đề

3,46

0,84

3

Tư duy sáng tạo

2,96


0,97

4

Thuyết trình

3,02

1,00

5

Giao tiếp

3,55

0,76

6

Quản lý thời gian

3,15

0,91

7

KPBT&LKHNN


2,64

1,06

8

Tìm việc

2,29

1,06

Nguồn: Từ sự tính tốn của tác giả
Đánh giá nhu cầu đào tạo kỹ năng mềm khi làm việc với khách hàng. Các kỹ năng
được đánh giá là “rất cần” khi làm việc với khách hàng trong quan điểm của cựu sinh viên là
Kỹ năng Giao tiếp (M=3,71), Kỹ năng Giải quyết vấn đề (M=3,66), Kỹ năng Thuyết trình
(M=3,48).

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

39


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

Bảng 6. Nhu cầu đào tạo KNM khi làm việc với khách hàng
STT

Các kỹ năng


Điểm TB

Độ lệch chuẩn

1

Làm việc nhóm

2,46

1,12

2

Giải quyết vấn đề

3,66

0,66

3

Tư duy sáng tạo

3,15

0,85

4


Thuyết trình

3,48

0,78

5

Giao tiếp

3,71

0,60

6

Quản lý thời gian

2,98

0,91

7

KPBT&LKHNN

2,08

0,91


8

Tìm việc

1,74

1,30
Nguồn: Từ sự tính tốn của tác giả

Đánh giá nhu cầu đào tạo kỹ năng mềm để duy trì cơng việc. Có 6/8 kỹ năng mềm
được cho rằng nếu sinh viên được học trong quá trình học Đại học sẽ tốt hơn để duy trì cơng
việc. Trong đó, Kỹ năng Giải quyết vấn đề đạt mức “rất cần”, với điểm trung bình cao nhất
(M=3,59), tiếp theo là Kỹ năng Giao tiếp (M=3,53) và Kỹ năng Làm việc nhóm (M=3,42),
Kỹ năng Quản lý thời gian (M=3,34) và Kỹ năng Tư duy sáng tạo (M=3,20).
Bảng 7. Nhu cầu đào tạo KNM để duy trì cơng việc
STT

Các kỹ năng

Điểm TB

Độ lệch chuẩn

1

Làm việc nhóm

3,42

0,83


2

Giải quyết vấn đề

3,59

0,73

3

Tư duy sáng tạo

3,20

0,92

4

Thuyết trình

2,82

1,07

5

Giao tiếp

3,53


0,74

6

Quản lý thời gian

3,34

0,83

7

KPBT&LKHNN

2,98

1,08

8

Tìm việc

2,18

1,29
Nguồn: Từ sự tính tốn của tác giả

Đánh giá những kỹ năng mềm mà cựu sinh viên ứng dụng được trong cơng việc là vì
có cơ hội học tập tại trường Đại học. Kết quả cho thấy, Kỹ năng Làm việc nhóm đạt mức cao

nhất (M=3,00), sau đó là Kỹ năng Thuyết trình (M=2,94) và Kỹ năng Giao tiếp (M=2,93).
Điều này cũng có thể được lý giải là do cựu sinh viên cũng có cơ hội làm việc nhóm, thuyết
trình khi học các môn khác ở Đại học, đây là hai hoạt động được tổ chức trong lớp khá phổ
biến.

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

40


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

Bảng 8. Đánh giá các KNM ứng dụng được trong công việc
STT

Các kỹ năng

Điểm TB

Độ lệch chuẩn

1

Làm việc nhóm

3,00

1,07

2


Giải quyết vấn đề

2,62

1,14

3

Tư duy sáng tạo

2,41

1,14

4

Thuyết trình

2,94

1,03

5

Giao tiếp

2,93

1,06


6

Quản lý thời gian

2,32

1,15

7

KPBT&LKHNN

2,06

1,23

8

Tìm việc

1,81

1,13
Nguồn: Từ sự tính tốn của tác giả

Đánh giá những kỹ năng mềm giúp cựu sinh viên duy trì cơng việc. Kết quả của khảo
sát cho thấy, đa số các kỹ năng đều được đánh giá ở mức “rất cần”, bao gồm các kỹ năng
được xếp theo thứ tự giảm dần sau đây: Kỹ năng Giải quyết vấn đề (M=3,62), Kỹ năng Giao
tiếp (M=3,58), Kỹ năng Làm việc nhóm (M=3,45), Kỹ năng Quản lý thời gian (M=3,38), Kỹ

năng Thuyết trình (M=3,36), Kỹ năng Tư duy sáng tạo (M=3,25), Kỹ năng Khám phá bản
thân và Lập kế hoạch nghề nghiệp (M=3,23) và cuối cùng là Kỹ năng Tìm việc (M=2,9) - ở
mức “cần”.
Bảng 9. Nhu cầu đào tạo KNM để duy trì cơng việc
STT

Các kỹ năng

Điểm TB

Độ lệch chuẩn

1

Làm việc nhóm

3,45

0,81

2

Giải quyết vấn đề

3,62

0,62

3


Tư duy sáng tạo

3,25

0,90

4

Thuyết trình

3,36

0,81

5

Giao tiếp

3,58

0,68

6

Quản lý thời gian

3,38

0,80


7

KPBT&LKHNN

3,23

0,98

8

Tìm việc

2,90

1,07

Nguồn: Từ sự tính tốn của tác giả
Ngồi ra, theo cựu sinh viên, một số kỹ năng mềm khác cũng cần được xem xét đưa
vào chương trình giảng dạy tại Đại học đó là: Kỹ năng Tư duy phản biện, Quản lý sự căng
thẳng, Quản lý sự thay đổi, Kỹ năng Phân tích thơng tin, Kỹ năng Lãnh đạo. Bên cạnh đó,
một số ý kiến cho biết có thể giữ nguyên 08 mơn hiện có nhưng tăng thời lượng giảng dạy và
nội dung được cập nhật liên tục, phù hợp với thực tế địi hỏi ở một người lao động nói chung.

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

41


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện


3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Kết quả
Đa số các kỹ năng mềm đang được giảng dạy tại nhà trường là cần thiết cho hoạt động
nghề nghiệp của sinh viên, cụ thể trong quy trình phỏng vấn, làm việc với khách hàng, duy
trì cơng việc hay hoạt động nghề nghiệp nói chung. Trong đó, có các kỹ năng thường xuyên
được lặp lại ở mức “rất cần” cho hoạt động nghề nghiệp của cựu sinh viên đó là Giao tiếp,
Giải quyết vấn đề, Làm việc nhóm, Thuyết trình. Đây cũng là nhóm kỹ năng mà cựu sinh
viên tự đánh giá mình đã thiếu hoặc yếu.
Một số kỹ năng mềm khác mà cựu sinh viên đề nghị được giảng dạy tại trường nhằm
giúp cho người học thích ứng tốt hơn sau khi tốt nghiệp, chủ yếu là Kỹ năng Giao tiếp, Kỹ
năng Giải quyết vấn đề, Kỹ năng Làm việc nhóm. Ngồi ra, cựu sinh viên cũng đề xuất một
số kỹ năng cần được đưa vào chương trình đào tạo vì cần thiết cho thích ứng nghề nghiệp sau
khi tốt nghiệp và trở thành một nhân sự của công ty, doanh nghiệp. Các kỹ năng được đề cập
là Kỹ năng Tư duy phản biện, Quản lý sự căng thẳng, Quản lý sự thay đổi, Kỹ năng Phân tích
thơng tin, Kỹ năng Lãnh đạo.
3.2. Bàn luận
Đề tài chưa nhằm tìm hiểu sâu về lý do, các khó khăn, yếu tố tác động, hoặc mức độ
thích ứng hay sự hài lòng với nghề nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Đề tài cũng chỉ
thực hiện theo hướng hoạt động nghề nghiệp mà chưa khai thác các vấn đề đời sống cá nhân,
riêng tư nên có thể đã khơng bao qt được kết luận chính xác cho các kỹ năng mềm khác.
Ngồi ra, đề tài có mẫu không lớn (118 sinh viên) nên chắc chắn sẽ hạn chế về yếu tố khái
quát của kết quả nghiên cứu. Đề tài cũng chỉ dừng lại ở việc đo lường điểm trung bình mà
khơng tiến hành các kiểm định khác để kết quả có được nhiều thơng tin hơn. Cũng như trên
đã phân tích, sinh viên tham gia khảo sát là từ khố 12 đến 16, trong đó có thể các nhóm sinh
viên thuộc khố 12, 13, 14 chưa được tiếp cận đến môn Kỹ năng Khám phá bản thân và Lập
kế hoạch nghề nghiệp và Kỹ năng TÌm việc, nên những kết quả liên quan có thể chưa chính
xác.
Với những kết quả nói trên, đề tài cũng đưa ra một số khuyến nghị về giải pháp sau
đây:
- Tăng thời lượng giảng dạy, giúp sinh viên có nhiều thời gian học và thực hành các

môn học kỹ năng mềm trực tiếp tác động đến hiệu quả làm việc và sự thích ứng với cơng việc
của sinh viên.
- Tăng cường nhiều hình thức hoạt động ngồi học tập và được xác định rõ mục đích
để từ đó có thể giúp sinh viên hiểu, tích cực tham gia và rèn luyện các kỹ năng mềm cho bản
thân, sau khi tốt nghiệp. Nếu có định hướng, sinh viên có thể dễ tìm kiếm động cơ để tham
gia, điều này giúp đạt được hiệu quả chương trình, đồng thời khiến sinh viên có cơ hội thực
hành.
- Thay đổi hình thức đánh giá của mơn học kỹ năng mềm bằng cách hướng tới thực
hành trên dự án cụ thể, liên quan đến phát triển nghề nghiệp hoặc trách nhiệm xã hội.

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

42


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

- Thiết kế các mơn học kỹ năng mềm có tính tương hỗ nhau, giảng viên hiểu và truyền
tải các kiến thức, thông điệp của các mơn học có liên quan khiến sinh viên nhận ra được vai
trị của các mơn học, cũng như sự phối hợp sẽ đạt được hiện quả cao nhất cho người học.
- Xây dựng các môn học mới, liên quan đến thực tiễn công việc mà cựu sinh viên đã
đề cập như: Tư duy phản biện, Quản lý sự thay đổi, Quản lý sự căng thẳng,... Những nội dung
này có thể được thiết kế dưới dạng các mơn học lựa chọn hoặc chuyên đề bổ trợ cho sinh
viên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chu Văn Đức (2020), Thích ứng nghề của sinh viên ngành Luật. Kỷ yếu Hội thảo Quốc
tế Tâm lý học khu vực Đông Nam Á lần thứ nhất, quyển 3.
2. Dương Thị Nga (2012), Phát triển năng lực thích ứng nghề cho sinh viên Cao đẳng Sư
Phạm, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Đại học Sư phạm Hà Nội.
3. UN (Liên Hợp Quốc). 2013. Human Resources Development . United Nations General

Assembly (A/68/228). Truy cập từ , ngày 02/10/2021.

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

43



×