Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Đổi mới đánh giá kết quả đào tạo kỹ năng mềm tại trường Đại học Tài Chính – Marketing

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (249.76 KB, 8 trang )

Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

ĐỔI MỚI ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐÀO TẠO KỸ NĂNG MỀM TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
ThS. NCS. Lại Thế Luyện1
TĨM TẮT
Trong chương trình đào tạo các mơn Kỹ năng mềm tại trường Đại học Tài Chính –
Marketing, đánh giá kết quả đào tạo là khâu khơng thể thiếu trong q trình đào tạo. Nội
dung bài viết nghiên cứu về công tác đánh giá kết quả đào tạo kỹ năng mềm, được tiếp cận
dưới góc độ của chuyên ngành Quản lý Giáo dục. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải
pháp nhằm đổi mới công tác đánh giá kết quả kỹ năng mềm cho SV phù hợp với điều kiện
thực tế của nhà trường, nhằm phát triển năng lực của SV khối ngành Kinh tế, đáp ứng yêu
cầu thực tế của thị trường lao động và các nhà tuyển dụng.
TỪ KHÓA
Đánh giá, kết quả, kỹ năng mềm, năng lực, phát triển năng lực, sinh viên, khối ngành
Kinh tế
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thực tiễn đào tạo kỹ năng mềm tại trường Đại học Tài Chính – Marketing trong
hơn tám năm vừa qua (2012-2021), công tác đánh giá kết quả Kỹ năng mềm cho sinh viên
ln được coi trọng, vì đây là một trong những tiêu chí cấp Giấy chứng nhận hoàn thành Kỹ
năng mềm, đồng thời để xét tốt nghiệp đại học. Đổi mới công tác đánh giá kết quả Kỹ năng
mềm là một đòi hỏi tất yếu để nâng cao năng lực của SV. Đây là một vấn đề thực tiễn rất cấp
bách. Mặc dù nhiều chuyên gia giáo dục hiện nay coi kỹ năng cứng dễ đo lường hơn so với
kỹ năng mềm, nhưng các chuyên gia cũng đang bắt đầu tìm cách đo lường các kỹ năng mềm.
Đây là mối quan tâm không chỉ của các trường đại học, mà còn là của các doanh nghiệp, tổ
chức sử dụng lao động.
Mục tiêu của nghiên cứu này là tổng kết kinh nghiệm đánh giá kết quả đào tạo Kỹ
năng mềm cho sinh viên một cách tối ưu, sao cho có thể đo lường được mức độ phát triển
năng lực của sinh viên tại nhà trường. Từ kết quả nghiên cứu này, các giảng viên tham gia
giảng dạy ở nhà trường và đội ngũ nhân sự của Phòng Khảo thí và Đảm bảo Chất lượng có
thể vận dụng những cách làm hiệu quả này vào công tác đánh giá kỹ năng mềm cho sinh viên


của nhà trường.
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý thuyết
Các trường đại học đánh giá về kết quả đào tạo kỹ năng mềm của sinh viên theo thang
5 bậc, mức độ tăng dần: Bắt chước được, làm được (bước đầu hình thành kỹ năng), làm được

1

Viện Nghiên cứu kinh tế ứng dụng, Trường Đại học Tài chính-Marketing

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

27


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

chính xác (có kỹ năng), làm được thuần thục (có kỹ xảo), thực hành được trong các tình
huống mới (có sáng tạo).
Trên thực tế, sẽ khơng thể phán đốn đươc sự thành cơng của một cá nhân hoặc của
một chương trình giáo dục nếu như khơng có chứng cứ về khả năng đạt năng lực của SV.
Tính đa dạng của các năng lực được xác lập cho SV cũng đòi hỏi một tập hợp đa dạng các
phương pháp đánh giá. Các năng lực khác nhau cần được đánh giá theo những phương cách
khác nhau (Hồng Thị Tuyết, 2013).
Dưới góc độ quản lý giáo dục, đánh giá kết quả KNM của SV cũng chính là thước đo
hiệu quả QL và triển khai hoạt động GD KNM cho SV ở các trường ĐH khối ngành Kinh tế.
Thông qua công tác kiểm tra, đánh giá, nhà trường sẽ xác định được thực trạng hoạt
động giáo dục, rèn luyện kỹ năng mềm của sinh viên và việc quản lý hoạt động này mang lại
hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực, phát triển kỹ năng của sinh viên hay không, để kịp
thời điều chỉnh những vấn đề còn tồn tại và phát huy những kết quả đã đạt được.

2.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chủ yếu sử dụng Phương pháp nghiên cứu tài
liệu:Tham khảo các cơng trình nghiên cứu khoa học, báo, tạp chí, giáo trình chun ngành
có liên quan đến chủ đề nghiên cứu.
Bên cạnh đó, chúng tơi chủ yếu sử dụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm từ thực
tiễn đánh giá kết quả các môn Kỹ năng mềm tại trường Đại học Tài Chính – Marketing. Các
kinh nghiệm được tổng kết từ niên khóa 2013 đến 2020 đối với sinh viên ở tất cả các hệ đào
tạo của nhà trường. Nói cách khác, chúng tơi xem xét lại những thành quả và cả những hạn
chế của hoạt động đánh giá kết quả kỹ năng mềm cho sinh viên khối ngành Kinh tế trong
thực tiễn tại nhà trường, để từ đó học hỏi được kinh nghiệm từ q trình tổ chức triển khai
thực hiện, rút ra những cách làm hiệu quả, những kết luận bổ ích, có giá trị cho thực tiễn để
đổi mới công tác đánh giá kỹ năng mềm cho sinh viên tại nhà trường ở những năm tiếp theo.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Hoạt động GD KNM theo định hướng phát triển năng lực cho SV khối ngành Kinh tế
chỉ có thể thực hiện tốt nếu có sự thay đổi tương ứng về cách kiểm tra, đánh giá kết quả GD
KNM của SV. Đánh giá kết quả GD KNM theo định hướng phát triển năng lực là chú trọng
đến việc phát triển những năng lực thực hiện của SV, tạo điều kiện cho SV gắn bó với thực
tiễn, gắn học đi đôi với hành.
Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo KNM phải linh hoạt, với các hình thức,
phương pháp, cơng cụ khác nhau, để SV khối ngành Kinh tế có cơ hội thể hiện năng lực của
bản thân. Cụ thể là, hoạt động đánh giá khơng chỉ tập trung vào đánh giá những gì SV đã lĩnh
hội được, mà cần tập trung đánh giá những gì SV đã vận dụng được để rèn luyện các KNM
tương ứng, từ đó hình thành các năng lực của bản thân. Nói cách khác, các trường ĐH khối
ngành Kinh tế hiện nay phải chuyển cách đánh giá kết quả nặng về kiểm tra kiến thức như
trước đây sang kiểm tra, đánh giá KN và năng lực vận dụng kiến thức, để giải quyết vấn đề
của thực tiễn công việc và cuộc sống.

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

28



Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

Về nội dung đánh giá kết quả GD KNM, đội ngũ CBQL và GV làm công tác đánh
giá phải thiết kế được hệ thống các bài tập, bài thực hành, bài kiểm tra theo định hướng phát
triển năng lực, để đánh giá mức độ phát triển năng lực của SV khối ngành Kinh tế. Các bài
tập định hướng phát triển năng lực của SV phải đảm bảo các yêu cầu về: mức độ khó khác
nhau, mơ tả rõ kiến thức, kỹ năng, u cầu, định hướng theo năng lực; được xây dựng dựa
trên chuẩn đầu ra của trường ĐH khối ngành Kinh tế và có tích hợp các KNM. Các bài kiểm
tra, đánh giá KNM này phải phân hóa được mức độ phát triển năng lực của SV khối ngành
Kinh tế.
Về hình thức kiểm tra, đánh giá cũng nên chuyển từ chủ yếu đánh giá kết quả học tập
cuối học phần sang đánh giá tồn diện q trình học tập và rèn luyện các KNM của SV; kết
hợp giữa hình thức đánh giá qua các bài kiểm tra vấn đáp, kiểm tra thực hành,… nhằm phát
huy những ưu điểm, đồng thời khắc phục nhược điểm của mỗi hình thức đánh giá này. Cơng
tác kiểm tra, đánh giá nên chú trọng đánh giá cả quá trình, kết hợp giữa đánh giá của giảng
viên và tự đánh giá của sinh viên; sử dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá phù hợp với
nội dung đánh giá, đảm bảo tính chính xác, khách quan; thực hiện đúng quy trình kiểm tra
đánh giá, cơng nhận kết quả giáo dục, cấp giấy chứng nhận theo đúng các bước trong quy
trình đã quy định.
Về chủ thể đánh giá kết quả GD KNM, thiết tưởng nên kết hợp giữa đánh giá của GV
với tự đánh giá của SV. Khi đánh giá sự phát triển năng lực của SV, thiết tưởng GV nên tập
trung vào đánh giá sự tiến bộ của SV so với chính họ hơn là để xếp hạng giữa các SV với
nhau.
Về thang đo đánh giá : Đánh giá KNM của SV ở trường ĐH chính là xác định mức
độ của từng KNM mà SV có thể rèn luyện và đạt được. Các trường ĐH khối ngành Kinh tế
cần đảm bảo tính khách quan trong việc đánh giá mức độ phát triển năng lực của SV. Đánh
giá mức độ hình thành và phát triển năng lực của SV thể hiện qua khả năng của họ khi hồn
thành cơng việc. Các tiêu chuẩn đánh giá năng lực của SV được đặt ra ở mức cơ bản trở lên,

để đảm bảo sau khi tốt nghiệp SV có thể làm việc được ngay và thích ứng được với mơi
trường thực tế nơi họ làm việc.
Ngoài ra, việc đánh giá một cách đều đặn, thường xuyên sẽ tạo động lực thúc đẩy SV
khối ngành Kinh tế nỗ lực tự học, tự rèn luyện thêm về KNM để đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp.
Khi nói đến đánh giá KNM của SV, trường ĐH khối ngành Kinh tế còn phải chú trọng phát
triển kỹ năng tự đánh giá của SV; trong đó, phải xây dựng các tiêu chí đánh giá để SV có thể
tự phê phán, tự tìm được nguyên nhân, khuyết điểm về KNM của mình và xác định được
cách sửa chữa các sai sót để từ đó hồn thiện năng lực của bản thân. Nói cách khác, SV phải
có khả năng chịu trách nhiệm với hoạt động học tập, rèn luyện KNM và tự giám sát sự tiến
bộ của bản thân.
3.1. Các công cụ đánh giá kỹ năng mềm
Đánh giá kết quả kỹ năng mềm cho sinh viên là một vấn đề không đơn giản. Tuy
nhiên, trên thực tế, các chuyên gia trong lĩnh vực nhân sự đã có những nỗ lực ban đầu, thực
hiện đa dạng các hình thức để đo lường các kỹ năng mềm. Deb Calvert (2021) đã hệ thống
lại các công cụ như sau:

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

29


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

Sử dụng các bài trắc nghiệm đánh giá: các bài trắc nghiệm đánh giá năng lực làm yếu
tố dự báo và chỉ số về trí tuệ cảm xúc, giao tiếp, tư duy phản biện và các nhóm kỹ năng mềm
khác. Hầu hết đây là các công cụ dành cho cá nhân tự đánh giá (self-asessment).
Sử dụng công cụ phản hồi 360 độ: để lấy ý kiến đóng góp từ những người tương tác
thường xuyên nhất với cá nhân. Chẳng hạn, như: cấp trên trực tiếp, người cố vấn,…
Sử dụng các cuộc khảo sát về mức độ gắn bó của nhân viên để đánh giá cảm nhận của
nhân viên tận tâm với người quản lý và mức độ hiệu quả mà họ tin rằng người quản lý đang

tạo ra một nơi làm việc tích cực.
Xây dựng các thang đo liên quan đến tần suất thể hiện các hành vi để qua đó có thể
đánh giá về kỹ năng mềm. Các thang đo này liên quan đến các năng lực, như minh họa của
Từ điển Năng lực Harvard.
Xây dựng các tiêu chí đánh giá để xác định những hành vi thể hiện cụ thể của người
lao động qua các tình huống nhất định; trong đó, chỉ ra những hành vi có thể chấp nhận được
(Nên) và khơng chấp nhận được (Khơng nên) có liên quan đến các kỹ năng mềm.
Mỗi một công cụ nêu trên đều góp phần cho việc đánh giá “bức tranh” chung về kỹ
năng mềm nơi người được đánh giá. Mỗi hình thức đánh giá đều có ưu và nhược điểm riêng.
Cho nên, trong thực tiễn, chúng ta cần sử dụng phối hợp các cơng cụ nói trên.
3.2. Các tiêu chí để xây dựng các công cụ và thang đo đánh giá kỹ năng mềm
Trên thực tế, có nhiều loại hình và công cụ đánh giá khác nhau được áp dụng để thu
được kết quả chính xác, khách quan và tin cậy nhất về kết quả đào tạo Kỹ năng mềm nói
riêng và mức độ phát triển năng lực nói chung của SV khối ngành Kinh tế. Các công cụ đánh
giá năng lực của SV khối ngành Kinh tế phải đảm bảo đáp ứng các tiêu chí:
(1) phải “được chấp nhận” nghĩa là các bên liên quan như SV, GV và nhà tuyển dụng
lao động chấp nhận sử dụng công cụ hoặc thang đo, đều đồng thuận về tiêu chí này;
(2) phải “xác thực” nghĩa là mức độ mà các chương trình và phương pháp đánh giá
phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động trong tương lai. Tiêu chí này cịn được phân
thành các tiêu chí nhỏ như các câu hỏi đánh giá, bối cảnh kinh tế, bối cảnh xã hội, dạng thức
của kết quả đánh giá và các tiêu chí đánh giá;
(3) phương pháp đánh giá phải nhất quán giữa các lần đánh giá;
(4) phương pháp đánh giá phải hiệu quả trong đó, thời gian và nguồn lực thực hiện
các chương trình giáo dục KNM theo định hướng phát triển năng lực phải được sử dụng hiệu
quả và có trách nhiệm;
(5) kết quả đánh giá KNM theo định hướng phát triển năng lực cần phải phản ánh
được các mức độ năng lực của SV khối ngành Kinh tế theo các mục tiêu đào tạo đã đề ra;
(6) kết quả đánh giá KNM phải có ý nghĩa cho tất cả các bên liên quan như: SV, GV,
phụ huynh, nhà tuyển dụng, xã hội;
(7) kết quả đánh giá phải chính xác, đảm bảo độ tin cậy và giá trị;

(8) kết quả đánh giá phải rõ ràng và dễ hiểu đối với tất cả các bên liên quan như SV,
GV, phụ huynh, nhà tuyển dụng, các doanh nghiệp; đồng thời, các cơ quan giám sát bên
Ngày 23 tháng 10 năm 2021

30


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

ngồi cũng có thể hiểu rõ bức tranh về đánh giá theo năng lực của SV (Baartman, L. K. J.,
Bastiaens, T. J., Kirschner, P. A., 2006).
Đánh giá theo định hướng phát triển năng lực chủ yếu là đánh giá dựa vào hoạt động
thực hiện, vào biểu hiện của SV trong hoạt động áp dụng kiến thức vào thực tế (Hoàng Thị
Tuyết, 2013). SV khối ngành Kinh tế phải thể hiện được các KNM tương tự như người lao
động đã thể hiện được trong thực tế cơng việc và tương ứng với vị trí việc làm của họ.
3.3. Đánh giá kỹ năng mềm trong mối liên hệ với các thuộc tính nhân cách của người
lao động
Kỹ năng mềm góp phần phát triển năng lực của người lao động nói riêng, góp phần
phát triển nhân cách người lao động nói chung. Cho nên, việc đánh giá kỹ năng mềm cho SV
hiện nay không thể đánh giá tách rời với các thuộc tính nhân cách của SV với tư cách là
những người lao động trong hiện tại và tương lai (Deb Calvert, 2021). Do vậy, khi đánh giá
kỹ năng mềm, các chủ thể đánh giá cần quan tâm đến các thuộc tính nhân cách nơi người
được đánh giá, cụ thể như sau:
Đánh giá qua Động lực làm việc của cá nhân: Cá nhân có mong muốn đạt được thành
tích khơng? Họ có động lực mạnh mẽ để bắt tay vào công việc với những mục tiêu rõ ràng,
cụ thể hay không?
Đánh giá qua Phong cách làm việc của cá nhân: Họ có thể hiện khuynh hướng tự
nhiên đối với phong cách làm việc có tổ chức và hiệu quả khơng? Các hành vi của họ có thể
hiện được tính chun nghiệp khơng ? Họ có quản lý thời gian hiệu quả và có thói quen tổ
chức cơng việc theo khoa học khơng?

Đánh giá qua Vai trị truyền cảm hứng: Trong q trình làm việc, họ có thực hiện cơng
việc với thái độ tích cực và truyền cảm hứng cho người khác hay khơng? Đồng đội nói gì về
họ và về cách thức họ hồn thành cơng việc? Họ có ảnh hưởng đến người khác một cách tích
cực khơng?
Đánh giá qua Tinh thần hợp tác của cá nhân: Cá nhân có xây dựng được quan hệ hợp
tác và khuyến khích động lực nhóm làm việc khơng? Cá nhân có hợp tác làm việc hiệu quả
cùng với các thành viên khác trong đội / nhóm hay khơng?
Đánh giá qua Quá trình tư duy hiệu quả và sáng tạo của cá nhân: Cá nhân có tích cực
động não để tìm các giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề hay không? Trong khi thu thập
thông tin, họ tiếp cận một vấn đề như thế nào để tìm ra giải pháp? phải sử dụng nó trong việc
ra quyết định; thu thập, sử dụng và phân tích thơng tin; cùng hợp tác với người khác để giải
quyết vấn đề; ra các quyết định đúng đắn; đóng góp ý tưởng đổi mới sáng tạo; hay suy nghĩ
đến các giải pháp nhằm cải tiến cơng việc của mình.
3.4. Các điều kiện để đổi mới công tác đánh giá kết quả kỹ năng mềm tại nhà trường
Để đảm bào tính khả thi trong đổi mới công tác đánh giá kết quả Kỹ năng mềm, cần
có sự chỉ đạo thống nhất từ Ban giám hiệu và sự thực hiện mang tính đồng bộ từ các phịng /
ban có liên quan đến hoạt động đào tạo KNM. Cụ thể như sau:

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

31


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

Có sự chỉ đạo thống nhất của Ban Giám hiệu và bộ phận Quản lý chất lượng của các
trường ĐH khối ngành Kinh tế trong công tác đảm bảo chuẩn đầu ra về KNM của các chuyên
ngành đào tạo của từng trường.
Đặc biệt, lãnh đạo các trường ĐH khối ngành Kinh tế cần quán triệt cho đội ngũ CBQL
luôn xác định rằng KNM của SV là một trong những tiêu chí nằm trong chuẩn đầu ra mà SV

phải đạt được khi tốt nghiệp, là một bộ phận không thể tách rời trong hoạt động ĐT của nhà
trường và góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng ĐT của trƣờng ĐH trong điều
kiện hiện nay.
Trang bị các phẩm chất, năng lực cho cán bộ thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá
hoạt động GD KNM cho SV ở trường ĐH.
Tập huấn cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trong trường ĐH, đội ngũ GV KNM
hiểu thống nhất về chuẩn đầu ra và cách đánh giá theo chuẩn đầu ra; từ đó, có sự thực hiện
thống nhất trong tồn nhà trường, đảm bảo kết quả đánh giá KNM được minh bạch, khách
quan, đánh giá được mức độ phát triển năng lực của SV.
Có sự phối hợp giữa bộ phận Quản lý chất lượng của trường ĐH với đội ngũ GV KNM
và các chuyên gia trong lĩnh vực KNM, để xây dựng và dần hồn thiện các Bộ cơng cụ kiểm
tra, đánh giá kết quả GD KNM cho SV ở từng học phần KNM.
Để hoạt động kiểm tra đạt hiệu quả, CBQL cần thường xun tiếp thu thơng tin chính
xác và xử lý nhanh chóng. Xây dựng kế hoạch cụ thể trước khi thực hiện hoạt động kiểm tra,
đánh giá kết quả GD KNM cho SV. Cán bộ thực hiện kiểm tra, đánh giá phải được tập huấn
và sử dụng được các phương pháp, cách thức kiểm tra, đánh giá phù hợp với từng học phần
KNM.
Xây dựng được các thang đo đánh giá, để có thể đánh giá các mức độ năng lực của
SV một cách khách quan và cơng bằng.
Có kinh phí thích hợp cho hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả GD KNM của
SV tại nhà trường.
Sau mỗi học kỳ và năm học, nhà trường cần thu thập các dữ liệu kiểm tra, đánh giá
tổng hợp về kết quả GD KNM của SV tồn trường; từ đó, xác định những hành động cần
thiết để cải tiến công tác kiểm tra, đánh giá kết quả GD KNM theo định hướng phát triển
năng lực cho SV.
4. KẾT LUẬN
Đổi mới cơng tác đánh giá KNM sẽ góp phần phát triển năng lực cho SV khối ngành
Kinh tế, vừa nâng cao chất lượng đào tạo vừa đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Trên
thực tế, nhà trường chỉ có thể đạt được mục tiêu đổi mới nói trên, khi có sự nỗ lực từ nhiều
phía:

4.1. Về phía lãnh đạo nhà trường
Ban Giám hiệu chỉ đạo Phịng Khảo thí và Đảm bảo Chất lượng tổ chức rà sốt lại
cơng tác kiểm tra, đánh giá kết quả GD KNM cho SV hiện nay ở nhà trường.

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

32


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

Nghiêm túc đánh giá, rút kinh nghiệm, chỉ ra được những hạn chế cịn tồn tại trong
cơng tác kiểm tra, đánh giá kết quả GD KNM hiện nay.
Chỉ đạo đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả GD KNM của SV….. làm cho
hoạt động giảng dạy, học tập ở trường ĐH gắn với thực tế, gây hứng thú học tập cho SV,
thúc đẩy SV học tập năng động hơn. Phát huy khả năng tự đánh giá của SV nói chung và tự
đánh giá KNM của thân.
Ban Giám hiệu chỉ đạo tăng cường các hình thức kiểm tra, đánh giá, sao cho có thể
gia tăng tính tương tác giữa SV với nhau trong q trình GD KNM; qua đó, đánh giá được
các kỹ năng và năng lực của SV khối ngành Kinh tế, chẳng hạn như: bài thực hành, báo cáo,
thuyết trình, dự án, đồ án,…
Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá ở trường ĐH khối ngành Kinh tế nói chung và
đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả GD KNM nói riêng theo hướng đánh giá được
năng lực của SV. Kết quả kiểm tra, đánh giá KNM của SV là căn cứ để SV tiếp tục tự hoàn
thiện năng lực của bản thân.
Số liệu tổng hợp về kết quả kiểm tra, đánh giá KNM của SV, sẽ là một căn cứ để các
trường ĐH khối ngành Kinh tế tại TP.HCM tiếp tục thực hiện những cải tiến trong hoạt động
GD KNM.
Thông qua công tác kiểm tra, đánh giá kết quả GD KNM, đội ngũ CBQL sẽ có cơ hội
thu thập và xử lý kịp thời những thông tin từ thực tiễn, làm cơ sở cho những chủ trương, giải

pháp và phương hướng chỉ đạo tiếp theo trong QL hoạt động GD KNM cho SV ở nhà trường.
4.2. Về phía giảng viên
Xây dựng chuẩn thống nhất trong kiểm tra, đánh giá kết quả GD KNM cho từng học
phần KNM. SV đạt kết quả kiểm tra, đánh giá về KNM, sẽ được cấp giấy chứng nhận hoàn
thành KNM.
Xây dựng và chuẩn hóa các Phiếu đánh giá cho từng học phần KNM trên cơ sở phân
tích Rubric (Rubric Analytic), trong đó các thành phần của một Phiếu đánh giá bao gồm: Tiêu
chí đánh giá, Mơ tả nội dung đánh giá theo từng thang điểm và Mức độ thực hiện của SV.
Phải kiểm tra được KNM của SV qua các tình huống thực tế. Bài kiểm tra, đánh giá
phải được thiết kế với yêu cầu SV phải kết hợp kiến thức, KN và khả năng vận dụng vào thực
tiễn.
Tổ chức đánh giá định kỳ kết hợp với đánh giá cuối học kỳ, để SV có thể thấy được
những bước tiến về KNM cũng như sự phát triển năng lực của bản thân; từ đó, SV có phương
hướng tiếp tục hồn thiện năng lực bản thân.
Chú trọng việc học hỏi và thiết kế các bài kiểm tra, đánh giá kết quả GD KNM theo
hướng đánh giá được các kỹ năng và năng lực của SV khối ngành Kinh tế.
Đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá các môn chuyên ngành tại nhà trường theo
hướng đa dạng hóa các hình thức: thuyết trình, làm việc nhóm, động não, viết báo cáo, … để
thơng qua việc thi những mơn học chun ngành đó, SV cũng đồng thời có cơ hội rèn luyện
được các KNM cũng như phát triển được các năng lực phù hợp với khối ngành Kinh tế.

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

33


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

4.3. Về phía sinh viên
- Tích cực, chủ động nắm vững chuẩn đầu ra của chuyên ngành đào tạo ngay từ khi

bắt đầu học đại học, để có ý thức nỗ lực rèn luyện và phát triển năng lực bản thân nói chung,
kỹ năng mền nói riêng.
- Khắc phục thái độ học đối phó bằng thái độ học tập và rèn luyện các KNM một cách
nghiêm túc, nhằm phát triển năng lực bản thân, đáp ứng các yêu cầu của nhà tuyển dụng lao
động.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thông tư số 07/2015 TT-BGDĐT quy định về khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về
năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với mỗi trình độ đào tạo của giáo dục
đại học và quy trình xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo trình độ đại học,
thạc sĩ, tiến sĩ.
2. Baartman, L. K. J., Bastiaens, T. J., Kirschner, P. A., van der V. & C. P. M. (2006). The
Wheel of Competency Assessment: Presenting Quality Criteria for Competency Assessment
Programs. Studies in Educational Evaluation, 32(2), 153.
3. Deb
Calvert.
(2021).
Measuring
Soft
Skills
in
the
Workplace.
/>4. Hoàng Thị Tuyết. (2013). Phát triển chương trình đại học theo cách tiếp cận năng lực Xu
thế và nhu cầu. Tạp chí Phát triển & Hội nhập, 9(19), 80–87.

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

34




×