Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Luận bàn về vai trò của sinh viên trong hoạt động đánh giá kết quả kỹ năng mềm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (358.76 KB, 8 trang )

Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

LUẬN BÀN VỀ VAI TRÒ CỦA SINH VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KỸ NĂNG MỀM
ThS. Nguyễn Hồng Trang1
ThS. Nguyễn Cơng Duy2

TĨM TẮT
Đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một hoạt động giữ vai trị quan trọng trong
việc góp phần nâng cao chất lượng học tập và giảng dạy, đối với bộ môn Kỹ năng mềm cũng
vậy. Bài viết thể hiện quan điểm của nhóm tác giả và đưa ra một vài vấn đề luận bàn trong
việc phát huy vai trò của sinh viên trong khâu đánh giá kết quả kỹ năng mềm. Bài viết chủ
yếu dựa trên các nguồn tài liệu sơ cấp và thứ cấp để giải thích, phân tích, tổng hợp và giải
quyết các vấn đề liên quan đến phát huy vai trò chủ động của sinh viên trong khâu đánh giá.
Nhóm tác giả cũng tập trung vào một số kiến nghị đối với Nhà trường, giảng viên và sinh
viên để góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động đánh giá bộ môn kỹ năng mềm nói
riêng và chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội nói chung.
TỪ KHĨA
Vai trị của sinh viên; Hoạt động đánh giá; Kỹ năng mềm
Key Word: The role of the university students; Evaluation activities; Soft skills
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Dù trong thời đại nào, việc phát huy nguồn lực con người cũng chính là nhân tố cơ
bản của sự phát triển nhanh và bền vững. Trong đó, giáo dục đại học đóng một vai trị cực kỳ
quan trọng, bởi vì nó là bậc học cao, là giai đoạn cuối cùng của quá trình học tập theo trường
lớp. Hơn nữa, xu hướng "Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định
mình" đang ngày càng được phát huy; việc học cần thiết phải đề cao tính thực tiễn, khả năng
làm việc, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng thích nghi của một người trong mơi trường xã
hội cụ thể, đó mới thực sự là thách thức lớn của giáo dục đại học hiện nay. Bên cạnh đó, khâu
đánh giá kết quả của sinh viên cũng là vấn đề rất được xã hội quan tâm, nó là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục trong nhiều năm nay.
Sinh viên - vốn là nguồn nhân lực chất lượng cao của xã hội, là lực lượng kế tục và


phát huy nguồn lực trí tuệ của đất nước, đi đầu chiếm lĩnh những đỉnh cao của khoa học,
công nghệ; nắm bắt những tri thức mới của nhân loại. Trong giáo dục đại học, sinh viên là
người giữ vị trí chủ đạo, trung tâm. Vì vậy việc phát huy hết vai trò chủ đạo của sinh viên
trong suốt q trình đào tạo tại mơi trường Giáo dục đại học nói chung và nâng cao vai trị
của sinh viên trong hoạt động đánh giá kết quả học tập nói riêng để tiếp cận với xu hướng
đào tạo theo nhu cầu, theo năng lực đang là vấn đề cấp bách và cần thiết.

1
2

Phòng Thanh tra giáo dục, Trường Đại học Tài chính-Marketing
Phịng Thanh tra giáo dục, Trường Đại học Tài chính-Marketing

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

19


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang đặt ra nhiều thách thức, buộc sinh viên phải
chủ động chuẩn bị hành trang cho cơng việc trong tương lai khi họ cịn đang ngồi trên ghế
nhà trường. Đặc biệt, trong hành trang ấy phải có các kỹ năng mềm. Thực tế cho thấy kỹ
năng cứng giúp tạo tiền đề còn kỹ năng mềm mới tạo ra sự phát triển. Nhiều nghiên cứu chỉ
ra rằng: những người thành đạt chỉ có 25% là do kiến thức chun mơn, 75% cịn lại được
quyết định bởi kỹ năng mềm. Do vậy, kỹ năng mềm cần được nhìn nhận một cách nghiêm
túc và tích lũy, bổ sung thêm trong môi trường giáo dục đại học. Đồng thời, bản thân mỗi
sinh viên cũng cần phát huy hết vai trò của mình trong suốt quá trình học và đánh giá, tự đánh
giá, xây dựng lộ trình rèn luyện các kỹ năng qua mỗi năm học, để đến khi ra trường có thể tự
tin hịa nhập và thích ứng nhanh chóng với nhu cầu nghề nghiệp.

Vì những lý do trên, nhóm tác giả chọn đề tài “Luận bàn về vai trò của sinh viên trong
hoạt động đánh giá kết quả kỹ năng mềm” nhằm trả lời cho 3 câu hỏi lớn được đặt ra: (1)
Thực tiễn về hoạt động đào tạo kỹ năng mềm trong giáo dục đại học hiện nay? (2) Tại sao
phải nâng cao vai trò của sinh viên trong hoạt động đánh giá kết quả kỹ năng mềm? (3) Kiến
nghị gì để phát huy vai trị của sinh viên trong hoạt động đánh giá kết quả kỹ năng mềm?
Đề tài chỉ dừng lại ở phạm vi luận bàn vấn đề, chưa đi sâu vào hoạt động thực nghiệm,
đây cũng là một hạn chế của đề tài và mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo.
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý thuyết
Sinh viên – Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về sinh viên. Theo Luật Giáo dục đại
học: “Sinh viên là người đang học tập và nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục đại học,
theo học các chương trình đào tạo cao đẳng, đào tạo đại học”. Còn trên wikipedia.org thì đề
xuất khái niệm: “Sinh viên là những người đăng ký vào trường hoặc cơ sở giáo dục khác
tham gia các lớp học trong khóa học để đạt được mức độ thành thạo môn học theo hướng dẫn
của người hướng dẫn và dành thời gian bên ngoài lớp để thực hiện bất kỳ hoạt động nào mà
giảng viên chỉ định là cần thiết cho việc chuẩn bị lớp học hoặc để gửi bằng chứng về sự tiến
bộ đối với sự thành thạo đó”. Mỗi định nghĩa có cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên có thể
tóm lược lại như sau: Sinh viên là người học tập chương trình đại hoc, cao đẳng mà ở đó họ
được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của
họ. Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học. Dù sử dụng
khái niệm nào thì sinh viên cũng chính là đối tượng chính, là lực lượng cốt yếu, là trung tâm
của quá trình đào tạo của một cơ sở đào tạo; tham gia vào quyết định sự thành bại của một
cơ sở đào tạo.
Đánh giá – Khái niệm được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Theo Ketele. (1989) xem
“Đánh giá có nghĩa là thu thập một tập hợp thơng tin đủ thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy,
xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này và một tập hợp tiêu chí phù hợp với các
mục tiêu định ra ban đầu nhằm đưa ra một quyết định”. Beeby. (1997) coi “đánh giá là sự thu
thập và lý giải một cách có hệ thống những bằng chứng dẫn tới sự phán xét và giá trị theo
quan điểm hành động”. Tác giả Peter (2011) cho rằng: “Đánh giá là quá trình thu thập, tổng
hợp và diễn giải thông tin hỗ trợ cho việc ra quyết định”. Trong một nghiên cứu, tác giả Trần

Bá Hoành (1995) cũng đưa ra nhận định “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định,
phán đốn về kết quả của cơng việc, dựa vào sự phân tích những thơng tin thu được, đối chiếu
Ngày 23 tháng 10 năm 2021

20


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

với mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quy định thích hợp để cải thiện thực
trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc”. Dẫn theo Nguyễn Cơng Khanh
& Đào Thị Oanh (2015), một Tiến sĩ có tên David Dean (2002) đã đưa ra luận điểm: “Đánh
giá trong giáo dục xuất hiện khi có một người tương tác trực tiếp hay gián tiếp với người
khác nhằm mục đích thu thập và lý giải thơng tin về kiến thức, kỹ năng, thái độ của người
đó”. Bên cạnh đó, cũng có nhiều khái niệm đưa ra về đánh giá trong môi trường giáo dục.
Như khái niệm “Đánh giá trong lớp học là việc thu thập và sử dụng thông tin giúp người dạy
ra quyết định tốt hơn” (Millan. & James.,2003). Cịn theo Thomas.& Patricia. (1993) thì lại
xem hoạt động đánh giá giáo dục là một phương pháp dạy học chứ khơng phải đơn thuần là
tổng kết đánh giá. Tóm lại, từ những khái niệm đưa ra ở trên, ta tổng kết lại như sau: Đánh
giá là một khâu quan trọng của q trình dạy học, nó đóng vai trị vừa là hoạt động điều khiển
quá trình dạy học, vừa kiểm chứng kết quả đổi mới nội dung, phương pháp theo mục tiêu
môn học đã đề ra trong những thời điểm nhất định; giúp cho việc định hướng, điều chỉnh kế
hoạch dạy học tiếp theo tiến hành phù hợp và có hiệu quả hơn.
Kỹ năng – Thuật ngữ rất quen thuộc với mọi người. Tuy nhiên, kỹ năng nên được hiểu
thế nào cho đúng. Cách tiếp cận thứ nhất cho rằng: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những
kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” (theo từ điển tiếng Việt,
1998); Cách tiếp cận thứ hai: “Kỹ năng được hiểu là sự sẵn sàng học tập, đạt thành tích và
cần dẫn tới việc giải quyết được các vấn đề thơng qua lao động có suy nghĩ” (Nguyễn Tiến
Đạt, 2004). Tiếp cận theo cách thứ ba: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri
thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương

ứng” (Mai Hữu Khuê, 1997). Nhiều người lại hiểu một cách đơn giản hơn khi cho rằng: Kỹ
năng là sự thành thục, thơng thạo một thứ gì đó nhờ vào quá trình đào tạo và rèn luyện. Mỗi
cách tiếp cận trên là khác nhau, tuy nhiên chung quy đều cho rằng có 2 loại kỹ năng chính,
đó là kỹ năng cứng và kỹ năng mềm. Trong phạm trù bài viết, nhóm tác giả chỉ nhấn mạnh
thêm về khái niệm của kỹ năng mềm. Hiểu theo nghĩa rộng: Kỹ năng mềm chính là kỹ năng
liên quan đến tính cách của mỗi người dùng để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, một
cách khéo léo, linh hoạt. Hiểu theo nghĩa hẹp: Kỹ năng mềm là sự kết hợp của các đặc điểm
tính cách, hành vi và thái độ cho phép mọi người giao tiếp hiệu quả, hợp tác và kiểm soát
thành công các xung đột. Một số kỹ năng mềm phổ biến như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải
quyết tình huống, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng
quản lý thời gian...
Hiện nay, các kỹ năng mềm, kỹ năng sống cũng đã bắt đầu được đưa vào chương trình
giáo dục phổ thơng và đại học và trở thành môn học. Một số trường đại học lớn cũng đã xác
định kỹ năng mềm làm chuẩn đầu ra cho quá trình đào tạo. Vì đây là yếu tố quan trọng để
sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể vững vàng, tự tin hơn khi hịa nhập vào mơi trường lao
động. Vì vậy phát huy vai trò của sinh viên trong hoạt động đánh giá kỹ năng mềm là thực
sự có giá trị.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, nhóm tác giả đã trình bày cụ thể cơ sở lý thuyết về
sinh viên, đánh giá, kỹ năng, kỹ năng mềm thông qua thống kê, tổng hợp nguồn nghiên cứu
của các tác giả chuyên sâu từ các các sách, báo, tạp chí và website. Phần nội dung chính của
bài nghiên cứu, nhóm tác giả sẽ trả lời cho 2 câu hỏi chính đặt ra ban đầu để “Luận bàn về
Ngày 23 tháng 10 năm 2021

21


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

vai trò của sinh viên trong hoạt động đánh giá kết quả kỹ năng mềm”. Thực hiện phần này,

nhóm tác giả đã dùng phương pháp thống kê, phân tích, giải thích, minh chứng và tổng luận
vấn đề. Phần cuối của bài nghiên cứu, nhóm tác giả thực hiện phương pháp nội để đề xuất
một vài kiến nghị nhằm trả lời cho câu hỏi cuối cùng: “Kiến nghị gì để phát huy vai trị của
sinh viên trong hoạt động đánh giá kết quả kỹ năng mềm?”.
3. VAI TRÒ CỦA SINH VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KỸ
NĂNG MỀM
3.1. Thực tiễn về hoạt động đào tạo kỹ năng mềm Giáo dục đại học hiện nay
Tính đến tháng 5/2020, trên khắp cả nước hiện có khoảng 460 trường đại học, cao đẳng với
hơn 2,5 triệu sinh viên (Theo số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2020). Nhưng thực trạng
cho thấy số lượng sinh viên rất đông nhưng chất lượng chưa tương xứng. Do vậy, sinh viên ra trường
rất khó tiếp cận thị trường lao động do không đủ năng lực, trình độ để đảm nhận các vị trí trong
doanh nghiệp, không đáp ứng được yêu cầu mà các nhà tuyển dụng đưa ra. Một trong những nguyên
nhân dẫn đến hạn chế trên là sinh viên mới ra trường thường thiếu các kỹ năng mềm. Trên tờ
Bloomberg, 2018 (Mỹ) cũng vừa đưa ra những con số về tình trạng thất nghiệp của người trẻ Việt
Nam dựa trên trình độ học vấn (Hình 1). Sinh viên tốt nghiệp đại học có tỷ lệ thất nghiệp lên tới 17%,
là đối tượng thất nghiệp cao nhất trong số người trẻ từ 15-24 tuổi ở Việt Nam.

Hình 1. Biểu đồ tỷ lệ thất nghiệp của người trẻ Việt Nam từ 15 - 24 tuổi theo
trình độ học vấn

Nguồn: Ảnh Bloomberg
Theo báo cáo của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Tổ chức Lao động quốc tế
(ILO), 8/2020 thì số thanh niên từ 15 - 24 tuổi thất nghiệp ở Việt Nam chiếm tới 30,7% với
410.300 người/tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên cao gấp gần 3,6 lần so
với tỷ lệ thất nghiệp của dân số trưởng thành.
Một số điều tra khác cũng chỉ ra rằng, đối tượng cử nhân trong vịng 3 năm kể từ sau
khi tốt nghiệp thì trên 20% cử nhân vẫn thất nghiệp hoặc chưa có việc làm ổn định. 60% sinh
viên trên cả nước khi ra trường khơng làm đúng ngành được đào tạo, thậm chí rất nhiều đối

Ngày 23 tháng 10 năm 2021


22


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

tượng học xong chuyển sang đi làm công nhân hoặc phổ biến hơn là chuyển hướng sang chạy
xe ôm công nghệ.
“Tốt nghiệp là thất nghiệp” – đây là một lời giải khó của thị trường lao động. Nhưng
trước hết, nó bắt nguồn từ trạng thái bị động của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Mà Trong đó,
một phần là do thiếu kỹ năng mềm. Do vậy, kỹ năng mềm thực sự rất quan trọng mà sinh
viên cần một quá trình dài để rèn luyện và tích lũy. Vậy, thực trạng sinh viên đã rèn luyện kỹ
năng mềm như thế nào khi còn trên ghế nhà trường mà vẫn chưa đạt hiệu quả thực sự.
Mặc dù, hiện nay các trrường đại học lớn nhỏ đều đã coi trọng, chú trọng đào tạo, rèn
luyện kỹ năng mềm cho sinh viên, tuy nhiên vẫn còn khá nhiều bất cập nên hoạt động đào
tạo kỹ năng mềm cho sinh viên chưa thật sự hiệu quả, có thể kể đến là:
Thứ nhất, xem nhẹ quá trình: hiện nay nhiều trường đại học đã đưa kỹ năng mềm vào
chương trình chuẩn đầu ra, tuy nhiên xét trên nhiều khía cạnh ta thấy: (1) Kỹ năng mềm là
cả một quá trình khơng chỉ ngày một ngày hai huống hồ chỉ trong bấy nhiêu tiết dạy. Ở nhiều
nước trên thế giới, họ đã chú ý rèn kỹ năng này từ khi còn là một đứa trẻ và đưa vào tất cả
các cấp học thông qua các hoạt động trải nghiệm, thực tế linh hoạt; (2) Khơng ít trường đưa
vào chương trình nhưng là đào tạo cho có, cho đủ hoặc là theo đúng quy định của bộ, ngành,
vẫn thiên về lý thuyết, vẫn khơng có chỗ cho sinh viên được áp dụng, trải nghiệm thực tế mà
chỉ là trên bàn giấy. Bên cạnh đó, đơi khi chính giảng viên dạy kỹ năng tuy giàu kiến thức
chuyên môn nhưng chưa được đào tạo qua trường lớp dạy kỹ năng, khơng có nhiều cơ hội
học tập và rèn luyện kỹ năng trước khi đứng lớp.
Thứ hai, ít được thực hành, thiếu trải nghiệm thực tế: Phần lớn sinh viên học kỹ năng
mềm những vẫn chỉ chú trọng nhiều vào lý thuyết suông, vào sách vở mà khơng hề có các
trải nghiệm, các kĩ năng, kỹ xảo. Chỉ gói gọn trong những tiết học, buổi học mà không coi
trọng rèn luyện ngay cả trong thực tiễn sinh hoạt hàng ngày. Điển hình, khơng ít sinh viên

ngay từ khâu phỏng vấn đã rớt, hoặc sau khi được nhận thì khơng chịu được áp lực, sợ vất
vả, sợ bị mắng, kêu ca phàn nàn, đụng đâu hư đó, gần như các doanh nghiệp lại phải đào tạo
lại để dần thích nghi cơng việc.
Thứ ba, học kỹ năng mềm một cách thụ động, chỉ mục đích qua môn: Thái độ này bắt
nguồn từ nhiều lý do như thiếu định hướng nghề nghiệp, khơng có mục tiêu rõ ràng trong tự
lập nghiệp, cái gì cũng chỉ nhớ lơ mơ và không chú tâm rèn luyện. Trên thực tế, chỉ có khoảng
20 - 30% sinh viên có tham gia vào các hoạt động xã hội như cơng tác Đồn – Hội, thiện
nguyện,… khi còn học tập tại các trường (theo Giáo sư Phạm Minh Hạc, nguyên là Bộ trưởng
Bộ GD&ĐT).
Thứ tư, khơng phát huy được vai trị chủ động của người học trong khâu đánh giá kết
quả hoạt động kỹ năng mềm: điều này ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực tự học, tự khám
phá và tư duy của sinh viên. Bản thân sinh viên cũng chưa nhận thức được vai trị của mình
trong khâu đánh giá. Thực trạng này sẽ trình bày thành một mục riêng 3.2 như dưới đây.
3.2. Thực tiễn phải nâng cao vai trò của sinh viên trong hoạt động đánh giá kết quả
kỹ năng mềm
Mỗi sinh viên sau khi tốt nghiệp đều mong muốn sẽ được làm đúng ngành, đúng nghề
với một mức lương cao, vị trí tốt. Kỹ năng mềm sẽ góp phần giúp sinh viên rút ngắn thời gian
Ngày 23 tháng 10 năm 2021

23


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

cho việc chờ đợi để thực hiện những mong muốn trên. Vậy, ngay khi cịn trong mơi trường
đại học, ngồi việc phát huy vai trò chủ động trong học tập kỹ năng mềm, thì trong khâu đánh
giá kết quả kỹ năng mềm, sinh viên cũng cần phải chú trọng.
Như đã phân tích ở trên, đánh giá là một khâu cực kỳ quan trọng, đối với kỹ năng mềm
cũng vậy. Tuy nhiên, trên thực tế, sinh viên thường không mấy lưu tâm đến hoạt động đánh
giá... Thậm chí nhiều sinh viên chỉ quan tâm đến điểm số, khơng màng tới việc từ đâu có

điểm số đó. Có sinh viên cũng chỉ cần giảng viên vớt vát cho qua là thỏa mãn vì đã đảm bảo
chuẩn đầu ra. Nên khâu đánh giá kết quả dường như bị xem nhẹ. Đây là một hạn chế của sinh
viên trong việc học tập và rèn luyện kỹ năng mềm.
Một thực tế là kiểm tra, đánh giá kết quả là cách để nhà trường và giảng viên rà soát
lại các định hướng, mục tiêu, kế hoạch, giúp nắm bắt được những thuận lợi, khó khăn, trở
ngại trong q trình giảng viên thực hiện hoạt động theo hướng phát triển năng lực giải quyết
vấn đề cho sinh viên để có hướng điều chỉnh kịp thời và giúp đỡ cần thiết. Tuy nhiên, một
khi sinh viên xem nhẹ nó thì nhà trường và giảng viên sẽ theo lề lối cũ, theo phong cách cũ,
theo mọi thứ được lập trình sẵn mà khơng cần cải tiến, thay đổi.
Xét sang một khía cạnh khác, chính vì thiếu quan tâm, sâu sát trong việc học tập và
rèn luyện kỹ năng mềm nên sinh viên cũng thực hiện hoạt động đánh giá một cách qua loa,
đại khái, cho có và kết quả đạt được đơi khi bị chệch mục tiêu môn học đưa ra. Điều này cũng
đồng nghĩa với việc nếu sinh viên không thay đổi thái độ trong học tập và đánh giá để tốt
hơn, thì việc tham gia hoc tập kỹ năng mền đơi khi cịn đem lại kết quả ngược do thái độ và
quan điểm sai lầm. Nó khơng chỉ làm mất thời gian của sinh viên mà còn gây tốn kém cho
xã hội.
Một khía cạnh nữa, Bộ Giáo dục và Đào tạo coi phát triển giáo dục đại học định hướng
nghề nghiệp ứng dụng là một trong những định hướng đổi mới quan trọng của giáo dục đại
học Việt Nam, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành TW về đổi
mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo cũng đã nhấn mạnh: “Coi sự chấp nhận của thị
trường lao động đối với người học là tiêu chí quan trọng để đánh giá uy tín, chất lượng của
cơ sở Giáo dục đại học, nghề nghiệp và là căn cứ để định hướng phát triển các cơ sở giáo
dục, đào tạo và ngành nghề đào tạo”. Một mặt, sinh viên cần học tập theo thực tiễn đặt ra,
cần có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, có các kỹ năng xã hội và thái độ nghề nghiệp
phù hợp. Mặt khác, chính bản thân sinh viên cũng cần phát huy vai trị chủ động của mình
trong định hướng nghề nghiệp, chủ động trong học tập nghiên cứu, và hơn thế nữa cần có
những phản hồi kịp thời các chương trình học, trong khâu đánh giá kết quả học tập để phát
huy hết vai trò trung tâm của người học trong suốt thời gian ngồi trên ghế nhà trường.
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1. Kết luận

Tất cả các quốc gia, muốn tiến vào cuộc cách mạng 4.0 đòi hỏi phải có một nguồn
nhân lực chất lượng cao với những kỹ năng thành thục để đáp áp ứng được những thách thức
mới. Kỹ năng mềm là yếu tố quan trọng và xuyên suốt để giúp sinh viên thành công trong
thế giới nghề nghiệp sau này.

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

24


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện

Phạm vi bài viết, nhóm tác giả đã sử dụng chủ yếu theo phương pháp định tính, đặt ra
3 câu hỏi lớn để bàn luận và đã biện chứng được: Thực tiễn hoạt động đào tạo kỹ năng mềm
giáo dục đại học hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập, chưa thật sự mang lại hiệu quả, nhóm tác
giả đã phân tích thực tiễn kỹ năng, việc làm, nhận định về sinh viên Việt Nam hiện nay và
trình bày tới 4 nhóm hạn chế tại mục 3.1 để minh chứng cho thực tiễn này. Đề tài cũng đã
nêu ra 4 luận điểm để giải thích cho lý do tại sao phải nâng cao vai trò của sinh viên trong
hoạt động đánh giá kết quả kỹ năng mềm. Trong phần tiếp theo, sẽ là những kiến nghị để
phát huy vai trò của sinh viên trong hoạt động đánh giá kết quả kỹ năng mềm.
4.2. Kiến nghị
Thay đổi phải bắt đầu từ tư duy của những người trong cuộc, trong đó đặc biệt phải là
chính bản thân sinh viên. Sau đây, tác giả đề xuất một vài kiến nghị như sau:
Một là, sinh viên không nên coi học phần kỹ năng mềm chỉ là chuẩn đầu ra, khơng
thực sự cần thiết và từ đó xem nhẹ rèn luyện kỹ năng này cũng như lược bỏ quyền lợi của
mình trong hoạt động đánh giá kết quả kỹ năng mềm.
Hai là, nâng cao ý thức, phát huy tính chủ động của mình trong hoạt động đánh giá
kết quả kỹ năng mềm. Đối với kỹ năng mềm, quá trình học tập, tự rèn luyện và cả trong khâu
đánh giá đều quan trọng, không nên bỏ qua mục nào. Bản thân sinh viên có quyền và cần
phát huy quyền làm chủ của mình trong hoạt động đánh giá. Có những lưu ý, nhận định, chia

sẻ cá nhân, phản hồi về phương thức đánh giá của giảng viên, của nhà trường để có những
thay đổi kịp thời, phù hợp hơn trong hoạt động đánh giá và chất lượng đào tạo kỹ năng mềm.
Ba là, sinh viên khi thực hiện hoạt động đánh giá cũng cần trung thực, khách quan,
chính xác, khơng qua loa và đại khái. Thơng qua q trình thực hiện hoạt động đánh giá, sinh
viên cũng có thể rèn luyện thêm những kỹ năng khác cho bản thân.
Bốn là, để sinh viên mới ra trường sớm thích ứng với thế giới nghề nghiệp, việc tích
lũy kỹ năng mềm cần gắn lý thuyết vào thực tiễn, trang bị kiến thức xã hội và xây dựng thái
độ nghề nghiệp phù hợp. Đồng thời, sinh viên có thể tự thực hiện đánh giá kỹ năng mềm của
bản thân thông qua nhiều hoạt động thực tiễn khác như tham gia công tác xã hội, thiện
nguyện, hoạt động Đồn – Hội, thậm chí là thực hiện đánh giá kỹ năng của bản thân trong
cuộc sống thường nhật qua giao tiếp, qua trình bày, qua làm việc nhóm để tự cải thiện, hồn
thiện dần các kỹ năng.
Bên cạnh đó, nhà trường và giảng viên cũng cần mạnh dạn đổi mới hoạt động đánh
giá kỹ năng mềm ngày càng thiết thực, phù hợp với thực tiễn nghề nghiệp tương lai của người
học hơn; Tìm các giải pháp phù hợp để sinh viên có thể phát huy hết vai trị của mình trong
hoạt động đánh giá kỹ năng mềm; Chú trọng nhiều đến thực hành và thực hiện đánh giá qua
thực hành, thực tiễn của sinh viên; Có sự linh hoạt và đưa những trải nghiệm thực tiễn vào
trong đánh giá sinh viên. Đồng thời tuyệt đối khơng xem nhẹ việc đào tạo kỹ năng mềm;
Tóm lại, có nhiều biện pháp khác nhau để đẩy mạnh hơn nữa vai trò của sinh viên
trong hoạt động đánh giá kết quả kỹ năng mềm. Trên đây, nhóm tác giả chỉ dừng lại ở 4 đề
xuất liên quan trực tiếp đến sinh viên và 1 đề xuất về hướng nhà trường, giảng viên. Những
đề xuất này cần được thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, thống nhất với nhau và cùng tác
động đến sinh viên, để sinh viên có thể khai thác tối ưu “nội lực” của mình.

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

25


Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. BộGiáodụcvàĐàotạo(2019).SốliệuthốngkêGiáodụcĐạihọcnămhọc2017–2018.Báo
Giáo dục 24h.
2. Bybee, R.W. (1997). Achieving Scientific Literacy: From Purposes to Practice.
Heinemann. ED461491, ISBN-0-435-07134.
3. Hiền Bùi (2001). Từ điển giáo dục học. NXB Từ điển bách khoa.
4. Ketele, M. (1989). L'évaluation du rendement des systèmes éducatifs: apports des
concepts d'efficacité, d'efficience et d'équité. Mesure et évaluation en éducation. Vol.19,
No.3, 119 - 142.
5. Mai Hữu Khuê (1997). Kỹ năng giao tiếp trong hành chính. Kết quả nghiên cứu khoa học.
Học viện hành chính quốc gia. Tr. 21.
6. 18. Millan M. & James, H. (2003). Đánh giá lớp học những nguyên tắc và thực tiễn để
giảng dạy hiệu quả. Boston: Allyn & Bacon.
7. Nguyễn Công Khanh & Đào Thị Oanh (2015). Giáo trình kiểm tra, đánh giá trong giáo
dục. NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
8. Nguyễn Diệu Tú Uyên (2018). Tỷ lệ thất nghiệp của người trẻ Việt Nam từ 15-24 tuổi
theo trình độ học vấn. Báo Bloomberg (Mỹ).
9. Nguyễn Tiến Đạt (2004). Khái niệm kỹ năng và khái niệm kỹ xảo trong đào tạo kỹ thuật
và nghề nghiệp. Tạp chí phát triển giáo dục. Số 6/2004.- Tr.18-20.
10. Quốc Hội (2012). Luật Giáo dục đại học. NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật.
11. Peter, W. (2011). Class room assessment. McGraw – Hill Education – Europe.
12. Thomas, A & Patricia, K. (1993). Class room Assessment Techniques. The Teaching
Network. Vol. 22, No. 1, Fall 2001.
13. Trần Bá Hoành (1995). Đánh giá trong giáo dục. NXB Giáo dục.
14. Viện ngôn ngữ học Đà nẵng (1998). Từ điển tiếng Việt. NXB Đà Nẵng. Tr.501.

Ngày 23 tháng 10 năm 2021

26




×