Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO QUYỀN ĐÁNH GIÁ CHO SINH
VIÊN TRONG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO KỸ NĂNG MỀM TẠI UFM:
MỘT SỐ KINH NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ TRONG MÔI TRƯỜNG
ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN
ThS. Trần Hữu Trần Huy1
TÓM TẮT
Hoạt động giảng dạy nếu muốn đạt chất lượng thì khơng thể thiếu các hoạt động đánh
giá đa dạng. Công tác đào tạo kỹ năng mềm tại Trường Đại học Tài chính – Marketing cũng
vậy, thậm chí các hoạt động và bài tập trong đánh giá quá trình có số lượng rất phong phú
và hình thức hết sức đa dạng tùy theo đặc thù của từng môn học. Tuy nhiên, đa phần từ trước
đến nay hoạt động đánh giá chủ yếu là do giảng viên đánh giá sinh viên. Trong nghiên cứu
này, tác giả thử nghiệm một hướng đi khác là chuyển giao quyền đánh giá bài tập quá trình
cho sinh viên thay vì là giảng viên đánh giá. Việc thử nghiệm đã được tiến hành với hơn 400
sinh viên thuộc nhiều lớp đào tạo kỹ năng mềm khác nhau trong 2 học kỳ giữa và cuối năm
2021 tại trường Đại học Tài chính – Marketing trong mơi trường đào tạo trực tuyến trên
Microsoft Teams với công cụ hỗ trợ Padlet. Kết quả thu được của nghiên cứu thực nghiệm
thông qua khảo sát sau thực nghiệm đã cho thấy những tín hiệu hết sức khả quan.
TỪ KHĨA
Đánh giá q trình; Giao quyền đánh giá cho sinh viên; Mơ hình đánh giá kỹ năng
mềm.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đánh giá trong quá trình đào tạo là việc mà hầu hết các giảng viên đều dành thời gian
để làm bởi nếu không có đánh giá thì giảng viên khơng thể cung cấp phản hồi cho sinh viên
và cho chính giảng viên (Moon, 2000). Có nhiều loại đánh giá như đánh giá khởi đầu (Initial
assessment), đánh giá quá trình (Formative assessment) và đánh giá cuối kỳ (Sumative
assessment) và cũng có nhiều phương thức, công cụ đánh giá cho các loại đánh giá này. Tuy
nhiên, trên thực tế người giảng viên đánh giá kết quả học tập của sinh viên thông qua các bài
kiểm tra giữa kỳ và cuối kỳ và sinh viên chưa được trao quyền tự đánh giá năng lực trừ khi
có sự cho phép của giảng viên. Hay nói cách khác, việc kiểm tra đánh giá này được thực hiện
một chiều (giảng viên đánh giá sinh viên) mà chưa có sự đánh giá giữa sinh viên với nhau
hoặc sinh viên tự đánh giá bản thân. Vì vậy, sinh viên ít có cơ hội tự đánh giá và đánh giá lẫn
nhau trong q trình học trong lớp và kể cả ngồi lớp. Nếu họ được tự đánh giá, họ sẽ nhận
thức được sự tiến bộ của chính bản thân và họ hiểu được điều cần phải đạt, kết quả phải đạt
được hay là cái đích đến trong q trình học tập (Mill, 2011). Sinh viên sẽ dần dần biết cách
tự học và năng lực học tập được nâng cao và vì vậy họ mới có thể đạt được kết quả tốt vào
cuối khóa học. Khi đó các phương pháp giảng dạy mới có thể phát huy tác dụng và hiệu quả.
1
Viện Nghiên cứu kinh tế ứng dụng, Trường Đại học Tài chính-Marketing
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
7
Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
Hơn thế, khi quan điểm lấy sinh viên làm trung tâm được đề cao trong quá trình dạy
học thì sinh viên cần được biết họ sẽ học những gì, thực hành và vận dụng như thế nào, và
liệu rằng họ có thể tự đánh giá được việc học của mình trong quá trình học tập hay khơng.
Theo mơ hình dạy học minh họa Bloom của Trung tâm dạy và học Bok Center thuộc đại học
Havard (Bok Center for Teaching and Learning), mục đích của việc học gồm sáng tạo
(creating), đánh giá (evaluating) và phân tích (analyzing). Trong đó, đánh giá là trung tâm
của sáng tạo và phân tích.
Nhận thấy sự đổi mới trong quan điểm giáo dục của thế giới, Bộ Giáo dục và Đào tạo
liên tục nhiều năm đổi mới từ 2014 đến 2017 và 2018 các chương trình phát triển giáo dục
phổ thông tổng thể, giáo dục trung học sơ sở, trung học phổ thông, cao đẳng, đại học đã luôn
nêu rõ quan điểm đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng
lực, cụ thể chuyển từ đánh giá chú trọng nội dung sang đánh giá năng lực vận dụng một cách
tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ của sinh viên để giải quyết một nhiệm vụ học tập
(Nguyễn Thành Ngọc Bảo, 2017).
Định hướng đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả của sinh viên có các nội dung quan
trọng: phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ, giữa đánh giá của giáo viên
và tự đánh giá của học sinh,…; chuyển từ chủ yếu đánh giá kết quả cuối môn học sang sử
dụng các loại hình thức đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ sau từng chủ đề, từng
chương nhằm mục đích phản hồi điều chỉnh q trình dạy học (cịn gọi là đánh giá q trình);
chuyển đánh giá từ một hoạt động gần như độc lập với quá trình dạy học sang việc tích hợp
đánh giá vào q trình dạy học, xem đánh giá như là một phương pháp dạy học; và có cơng
cụ đánh giá thích hợp nhằm giúp giáo viên và học sinh điều chỉnh kịp thời việc dạy và học.
Năm 2021 với những diễn biến phức tạp tồn cầu vì ảnh hưởng của dịch Covid-19,
giáo dục là ngành bị tác động trực tiếp khi mọi người đều phải sống cách ly và tất cả các cơ
sở giáo dục đều phải đóng cửa trong thời gian dài. Việc đào tạo trực tuyến đã trở thành giải
pháp thay thế duy nhất cho việc tiếp tục duy trì học tập của mọi người, kể cả sinh viên. Các
phần mềm, ứng dụng liên tục được ra đời và nâng cấp ngày càng phục vụ tốt hơn cho nhu
cầu học trực tuyến của xã hội. Trong tình hình chung đó, Trường Đại học Tài chính –
Marketing (UFM) cũng đã triển khai hoạt động dạy học trực tuyến trong suốt 2 học kỳ của
năm 2021. Đây vừa là khó khăn cho giảng viên trong việc truyền đạt kiến thức cho sinh viên
nhưng đồng thời cũng là yếu tố thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy
của giảng viên nhằm nâng cao chất lượng của việc học tập trực tuyến. Q trình giảng dạy
trực tuyến có u cầu rất cao trong việc tương tác giữa người dạy và người học để đạt kết quả
học tập cao, do đó việc vận dụng tốt công nghệ thông tin cũng giải quyết được nhu cầu tương
tác này theo nhiều hướng rất tích cực.
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý thuyết
Khi nói đến mục tiêu kiểm tra đánh giá, trước hết người ta nhận thấy kiểm tra đánh
giá là một phần không thể thiếu được của quá trình dạy học thì ít nhất nó phải vì sự tiến bộ
của học sinh hay chính là vì sự phát triển của người học. Đánh giá vì sự tiến bộ của người
học nghĩa là giúp người học liên tục được cung cấp những thơng tin phản hồi để biết mình
mắc lỗi, thiếu hoặc yếu ở điểm nào, để biết mình tiến bộ đến đâu, những mảng kiến thức/kỹ
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
8
Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
năng nào có sự tiến bộ, mảng kiến thức/kỹ năng nào còn hổng... để điều chỉnh q trình dạy
và học. Và khi nói đến đánh giá là vì sự tiến bộ của người học thì đánh giá phải làm sao để
người học khơng sợ hãi, không bị thương tổn, không mất tự tin... tạo cơ hội để thúc đẩy người
học nỗ lực, nuôi dưỡng hứng thú học đường. Đánh giá vì sự tiến bộ của người học cịn có
nghĩa là sự đánh giá phải diễn ra trong suốt quá trình dạy - học, giúp người học so sánh phát
hiện mình thay đổi, tiến bộ thế nào trên con đường đạt mục tiêu học tập của cá nhân đã đặt
ra.
Vì vậy, việc đào tạo kỹ năng mềm với đặc thù có hệ thống bài tập thực hành phong
phú và xuyên suốt quá trình học dù là 1 hay 2 học phần đã mang lại môi trường hết sức thuận
lợi để tiến hành các nghiên cứu về việc giao quyền đánh giá và tự đánh giá cho sinh viên
trong quá trình học.
Để tiến hành hoạt động chuyển giao quyền đánh giá cho sinh viên trong quá trình học,
tác giả đã thiết kế các hoạt động đánh giá và tự đánh giá theo mơ hình sau:
Hình 1. Key Components of Integrated Course Design, Fink 2013 (70)
Nguồn: Khảo sát của tác giả
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng mơ hình trên, tác giả đã thiết kế và đưa vào nghiên cứu thực nghiệm việc
chuyển giao quyền đánh giá cho sinh viên trong quá trình giảng dạy kỹ năng mềm tại Trường
Đại học Tài chính – Marketing trong các học kỳ giữa và học kỳ cuối năm 2021, môi trường
tiến hành thực nghiệm là môi trường đào tạo trực tuyến trên Microsoft Teams và công cụ hỗ
trợ là Padlet. Các môn học tiến hành thực nghiệm là Kỹ năng Quản lý Thời gian, Kỹ năng
Tư duy sáng tạo, Kỹ năng Làm việc nhóm, Kỹ năng Thuyết trình và Kỹ năng Giải quyết vấn
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
9
Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
đề. Mơ hình thực nghiệm được thiết kế theo qui trình 12 bước như sau cho phạm vi các bài
tập trong quá trình học:
1. Giảng viên căn cứ mục tiêu bài học xây dựng bài tập tình huống dựa trên mơ
phỏng thực tế công việc tại Doanh nghiệp và Xã hội.
2. Giảng viên thiết kế khung chấm điểm chi tiết cho tối thiểu 10 tiêu chí theo thang
điểm 100/100.
3. Giao bài tập cho sinh viên / nhóm sinh viên.
4. Cơng bố mục tiêu của bài tập và khung chấm điểm cho sinh viên / nhóm sinh viên
và giải thích phản hồi (nếu có).
5. Sinh viên / Nhóm sinh viên thực hiện bài tập và đồng loạt nộp bài làm trên Padlet
khi đến hạn.
6. Sinh viên / Nhóm sinh viên sẽ trình bày bài làm của mình cho cả lớp nghe.
7. Tất cả sinh viên / nhóm sinh viên sẽ tham gia bình luận / đặt câu hỏi.
8. Tất cả sinh viên / nhóm sinh viên sẽ chấm điểm cho bài vừa trình bày trên Padlet.
9. Giảng viên chấm lại và phân tích các yếu tố đúng sai trong bài làm để hướng dẫn
cách chấm bài cho sinh viên / nhóm sinh viên.
10. Sinh viên / nhóm sinh viên tiến hành chấm lại bài theo hướng dẫn của giảng viên.
11. Kết quả chấm bài dựa trên điểm bình quân của giảng viên và cả lớp chấm sau đó
cơng bố cơng khai cho cả lớp biết.
12. Sinh viên / Nhóm sinh viên tự viết kết luận rút ra và tự đánh giá sau quá trình
được chấm điểm.
Kết thúc giai đoạn thực nghiệm, tác giả đã tiến hành khảo sát ý kiến sinh viên với tổng
số mẫu là 408 bằng công cụ Google Forms.
Các câu hỏi khảo sát tập trung vào các vấn đề: Cảm xúc của sinh viên khi được giao
quyền đánh giá là gì?; Để đánh giá chính xác và cơng bằng, đâu là những điều kiện cần thiết
khi thực hiện giao quyền đánh giá cho sinh viên?; Quá trình đánh giá của sinh viên nên tiến
hành như thế nào để đảm bảo không gây ra những tiêu cực tâm lý cho sinh viên?; Tỉ lệ bài
tập quá trình giao quyền cho sinh viên đánh giá bao nhiêu là phù hợp với môn học kỹ năng
mềm?; Độ tin cậy và sự hào hứng của sinh viên đối với kết quả đánh giá khi được giao quyền
như thế nào?
Kết quả khảo sát được thu thập bằng Google Forms và xử lý bằng Microsoft Excel.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Sự quan tâm của sinh viên đối với việc được giao quyền đánh giá
Điều quan trọng đầu tiên của khảo sát là sinh viên có thái độ như thế nào đối với việc
họ được thông báo là sẽ được giao quyền đánh giá kết quả bài tập của các sinh viên / nhóm
sinh viên khác. Câu hỏi này đặt ra để xác định giá trị cần thiết của việc giao quyền đánh giá
nên rất quan trọng đối với khảo sát này.
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
10
Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
Hình 2. Sự quan tâm của sinh viên khi được giao quyền đánh giá.
Nguồn: Khảo sát của tác giả
Kết quả của khảo sát cho thấy có đến 87,7% sinh viên thích thú và quan tâm đến việc
được giao quyền chấm điểm cho các bài tập của người khác. Điều này làm cho họ có cảm
giác trưởng thành và sẽ rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm từ quá trình đánh giá mà họ
đã được thực hiện ít nhất 5 lần trong một buổi học. Đây là cơ sở hết sức quan trọng để tác giả
tiến hành các khảo sát tiếp theo nhằm làm rõ nguyên nhân và kết quả của việc giao quyền
đánh giá cho sinh viên.
3.2. Mức độ quan trọng của việc hướng dẫn trước đánh giá từ giảng viên:
Câu hỏi khảo sát nhằm xác định mức độ quan trọng của bước 4 trong qui trình 12 bước
nêu trên để đánh giá chính xác tầm quan trọng của việc hướng dẫn trước khi thực hiện giao
quyền đánh giá cho sinh viên.
Hình 3. Tầm quan trọng của việc hướng dẫn trước khi giao quyền
Nguồn: khảo sát của tác giả
Kết quả cho thấy đến 85,2% sinh viên cho rằng việc hướng dẫn trước khi giao quyền
đánh giá cho sinh viên là quan trọng và rất quan trọng, trong khi chỉ có 1,4% sinh viên cho
rằng không quan trọng. Vậy nên trước khi giao quyền đánh giá cho sinh viên, giảng viên cần
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
11
Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
xây dựng bộ tiêu chí chấm điểm và hướng dẫn thật rõ cho sinh viên để đảm bảo độ chính xác
của kết quả đánh giá.
3.3. Các tiêu chí cần thiết để việc đánh giá của sinh viên được diễn ra thuận lợi và
chính xác là gì?
Để tiếp tục làm rõ mức độ quan trọng của các tiêu chí trong hước dẫn chấm của giảng
viên dành cho sinh viên, tác giả thực hiện khảo sát với 8 tiêu chí và sử dụng thang đo Likert
từ 1 đến 5 với các ý nghĩa “Không Đồng ý” và “Hồn tồn đồng ý”.
Bảng 1. Các tiêu chí cần thiết cho việc đánh giá của sinh viên
Tiêu chí số
Nội dung câu hỏi
1
Sinh viên phải biết trước mục tiêu của bài tập là gì?
2
Câu trả lời phải làm rõ có bao nhiêu phần được chấm điểm
3
Phải có chỉ dẫn cụ thể cho việc chấm điểm
4
Các tiêu chí chấm phải rõ ràng và đo lường được
5
Thang điểm chấm phải được chia nhỏ
6
Cần thiết kế sẵn phiếu chấm điểm
7
Giảng viên nên chấm mẫu 1 bài trước
8
Giảng viên nên phân tích mẫu 1 bài đã chấm
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Các kết quả thu được như sau:
Hình 4. Mức độ quan trọng của các tiêu chí đánh giá
Nguồn: Khảo sát của tác giả
Kết quả khảo sát cho thấy các tiêu chí số 1, 4 và 8 được sinh viên cho là quan trọng
và rất quan trọng với tỉ trọng cao và rất cao. Điều này làm rõ yếu tố để thực hiện hoạt động
chuyển giao quyền đánh giá cho sinh viên thì cơng tác chuẩn bị của giảng viên là hết sức
quan trọng, trong đó cần tập trung làm thật tốt các việc sau:
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
12
Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
• Làm rõ và phân tích cho sinh viên biết rõ mục tiêu bài tập
• Thiết kế khung chấm điểm với các tiêu chí rõ ràng và đo lường được
• Giảng viên nên phân tích mẫu 1 bài đã chấm trước khi chuyển giao quyền
đánh giá cho sinh viên.
Các tiêu chí cịn lại cũng có tầm quan trọng nhất định nhưng khơng rõ ràng bằng 3
tiêu chí nêu trên.
3.4. Việc đánh giá của sinh viên nên ẩn danh hay không?
Quan tâm đến vấn đề tâm lý của sinh viên trong việc đánh giá và chấm điểm bài của
người khác đang học cùng lớp, để tránh sự thiên vị hay cả nể lẫn nhau làm sai lệch kết quả
đánh giá, tác giả sử dụng biện pháp ẩn danh cho các sinh viên trong quá trình thực hiện. Điều
này được tiến hành dễ dàng và thuận lợi khi sử dụng công cụ Padlet và kết quả thu được như
sau:
Hình 5. Việc đánh giá của sinh viên có nên ẩn danh hay khơng?
Nguồn: Khảo sát của tác giả
Kết quả khảo sát trên cho thấy rõ ràng trong sinh viên vẫn còn tồn tại sự cả nể và tính
du di, chưa kể tình huống là bản thân người chấm để cho tình cảm lấn áp những nhận định lý
trí. Vậy nên để kết quả chấm của sinh viên được chính xác và cũng tạo tâm lý thoải mái không
e ngại khi chấm điểm cho sinh viên khác, yếu tố ẩn danh là một tiêu chí cực kỳ quan trọng.
Giảng viên phải có trách nhiệm lựa chọn phương pháp hiển thị kết quả chấm nhưng vẫn đảm
bảo sự ẩn danh cho người chấm. Padlet là một công cụ hữu hiệu để giúp cho việc này – theo
đánh giá và kinh nghiệm sử dụng của tác giả.
3.5. Quá trình đánh giá và chấm điểm có nên cơng khai hay không?
Cũng nằm trong sự băn khoăn của tác giả về tâm lý sinh viên khi được giao quyền
đánh giá và chấm điểm bài làm của người khác, yếu tố công khai cũng là một tiêu chí được
đặt ra ở đây:
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
13
Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
Hình 6. Quá trình sinh viên chấm điểm có nên cơng khai khơng?
Nguồn: Khảo sát của tác giả
Kết quả này cũng cho thấy sự e ngại của sinh viên khi đánh giá và được đánh giá, điều
này rõ ràng là không phù hợp với năng lực của sinh viên, tuy nhiên do ảnh hưởng của văn
hóa và giáo dục thiếu tính phản biện của chúng ta, nên giảng viên phải lựa chọn quyết định
theo quan điểm của mình và tốt nhất cho sinh viên tùy theo lớp học. Có thể giảng viên sẽ hỏi
ý kiến sinh viên trước khi thực hiện việc giao quyền đánh giá về việc nên hay không nên công
khai quá trình đánh giá này rồi mới thực hiện.
3.6. Tỉ lệ bài tập quá trình giao quyền đánh giá cho sinh viên trong một môn học
nên bao nhiêu là hợp lý?
Trong q trình thực hiện 1 mơn học kỹ năng, đối với các lớp học 4 buổi (15 tiết – 1
tín chỉ) có ít nhất 3 bài tập q trình, đối với các lớp học 7 buổi (30 tiết – 2 tín chỉ) có ít nhất
5 bài tập q trình. Câu hỏi đặt ra là nên giao quyền đánh giá cho sinh viên bao nhiêu bài tập
là đủ? Vì thực tế cho thấy sinh viên vẫn rất cần sự đánh giá của giảng viên để đối chiếu và
hơn nữa thời gian học của mỗi buổi cũng không quá đủ để tiến hành các công tác giao quyền
đánh giá cho sinh viên?
Hình 7. Tỉ lệ bài tập được giao quyền đánh giá cho sinh viên
Nguồn: Khảo sát của tác giả
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
14
Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
Kết quả khảo sát cho thấy đa số sinh viên lựa chọn khoảng từ 40% - 60% khối lượng
bài tập thực hành trong một môn học kỹ năng là đủ để thực hiện hoạt động chuyển giao quyền
đánh giá cho sinh viên. Giảng viên có thể cân nhắc quyết định tỉ lệ tùy theo đặc thù môn học
và thời gian.
3.7. Độ tin cậy của sinh viên đối với kết quả tự đánh giá của chính sinh viên
Vấn đề được đặt ra ở đây là liệu rằng sinh viên có tin tưởng vào kết quả đánh giá của
các sinh viên khác không, khảo sát cho thấy:
Hình 8. Mức độ tin tưởng vào kết quả đánh giá của sinh viên
Nguồn: Khảo sát của tác giả
Kết quả khảo sát cho thấy đến 49,3% sinh viên tin tưởng và 22,8% sinh viên hoàn toàn
tin tưởng vào kết quả đánh giá của sinh viên. Điều này cho thấy đây là một biện pháp khá
tích cực để giúp sinh viên tự nhìn nhận và nâng cao kỹ năng tư duy phản biện của mình, đồng
thời tiếp thu tốt bài học. Để xác nhận điều này, tác giả thiết kế các câu hỏi tiếp theo liên quan
đến kết quả nhận được của sinh viên sau khi thực hiện việc giao quyền đánh giá cho sinh
viên.
3.8. Việc được giao quyền đánh giá có gây ra ảnh hưởng tích cực đối với việc học và
thực hành của sinh viên không?
Để khẳng định tính tích cực của hoạt động giao quyền đánh giá cho sinh viên trong
quá trình giảng dạy kỹ năng mềm, tác giả tiến hành khảo sát cảm nhận của sinh viên – với tư
cách là người trong cuộc, về những kết quả mà họ nhận được sau khi được trao quyền và
được thực hiện việc đánh giá cho các sinh viên khác như thế nào?
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
15
Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
Hình 9. Kết quả sinh viên nhận được sau khi thực hiện đánh giá.
Nguồn: Khảo sát của tác giả
Với tỉ lệ 44,9% đồng ý và 32.1% hoàn toàn đồng ý cho thấy sinh viên thật sự có những
thay đổi tích cực trong nhận thức và thái độ trong việc học tập kỹ năng mềm. Điều này sẽ
giúp cho môn học trở nên hữu ích hơn cho sinh viên và cũng tạo động lực tốt cho giảng viên
trong việc thiết kế các bài tập, các hoạt động hấp dẫn hơn và gần với thực tế hơn cho sinh
viên trong nội dung môn học mà mình phụ trách giảng dạy.
3.9. Việc được giao quyền đánh giá cho sinh viên có gây ra sự hứng thú cho sinh
viên khi học kỹ năng mềm không?
Một yếu tố tâm lý nữa mà nghiên cứu này quan tâm đó chính là sự hứng thú của sinh
viên khi tham gia vào thực nghiệm này hay không và kết quả nhận được như sau:
Hình 10. Sự hứng thú của sinh viên khi được trao quyền đánh giá
Nguồn: Khảo sát của tác giả
Từ kết quả trên cho thấy việc giao quyền đánh giá cho sinh viên trong quá trình thực
hiện các bài tập q trình của các mơn học kỹ năng mềm thật sự có tác động tích cực đến sự
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
16
Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
hứng thú của sinh viên đối với mơn học. Từ đó cho chúng ta thêm một kinh nghiệm đáng giá
trong việc tổ chức dạy và học kỹ năng mềm tại Trường Đại học Tài chính – Marketing.
4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1. Kết luận
Kết quả của thực nghiệm và khảo sát đã cho thấy hoạt động chuyển giao quyền đánh
giá cho sinh viên trong quá trình giảng dạy kỹ năng mềm là một cơ chế đánh giá mang lại
tính tích cực cao cho sinh viên tham gia học kỹ năng mềm tại trường Đại học Tài chính –
Marketing. Sinh viên tham gia hoạt động ban đầu có nhiều sự bỡ ngỡ nhưng đã dần quen và
thích hợp với mơ hình này. Thậm chí thơng qua q trình đánh giá và tự đánh giá, sinh viên
đã rèn luyện được cho mình kỹ năng tư duy phản biện mang tính tích cực, điều này sẽ giúp
cho sinh viên hiểu sâu hơn kiến thức đã học và có khả năng cao trong việc vận dụng nó vào
hoạt động hàng ngày của mình.
Bên cạnh đó, về mặt tâm lý, sinh viên cũng đã dần bước ra được vỏ ốc của sự thiếu tự
tin của chính mình để ngày càng hồn thiện hơn. Dĩ nhiên điều này có sự góp sức hết sức
quan trọng của giảng viên trong việc tạo ra tình huống và mơi trường phù hợp để sinh viên
có thể tự do thể hiện quan điểm của mình trong hoạt động đánh giá và tự đánh giá đối với bài
làm của mình và của người khác. Mơ hình chuyển giao quyền đánh giá cho sinh viên như
được thiết kế trên hoàn toàn phù hợp cho các hoạt động giảng dạy kỹ năng mềm trong môi
trường trực tuyến. Đối với hoạt động giảng dạy trực tiếp, giảng viên cần nghiên cứu thêm để
triển khai hoạt động này hiệu quả bằng cách có thể sử dụng cơng cụ Padlet kết hợp với nội
dung giảng dạy của mình
4.2. Đề xuất
Căn cứ vào kết quả thực nghiệm và các khảo sát của nghiên cứu đã nêu trên, tác giả
có một số đề xuất sau cho công tác đánh giá trong quá trình giảng dạy kỹ năng mềm tại trường
Đại học Tài chính – Marketing như sau:
- Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đã áp dụng và nhận được phản hồi tích cực đối
với các mơn học Kỹ năng Quản lý thời gian, Kỹ năng Tư duy sáng tạo, Kỹ năng Giải quyết
vấn đề, Kỹ năng Thuyết trình và Kỹ năng Làm việc nhóm. Cịn 3 kỹ năng cịn lại trong nhóm
8 kỹ năng do Bộ mơn Kỹ năng mềm UFM quản lý thì tác giả chưa có cơ hội áp dụng là Kỹ
năng Khám phá bản thân và lập kế hoạch nghề nghiệp, Kỹ năng Giao tiếp và Kỹ năng Tìm
việc. Đề xuất các đồng nghiệp trong Bộ mơn cùng góp ý để vận dụng mơ hình chuyển giao
quyền đánh giá cho sinh viên trong 3 môn này để làm cơ sở cho việc áp dụng rộng rãi trong
Bộ mơn.
- Hiện tại, mơ hình thực nghiệm này đã bước đầu có tác dụng tốt và hồn tồn triển
khai dễ dàng trong môi trường đào tạo trực tuyến nhờ việc sử dụng Padlet. Tác giả khuyến
nghị trong môi trường đào tạo trực tiếp, có thể bước đầu vận dụng Padlet để cho phép sinh
viên / nhóm sinh viên sử dụng laptop và điện thoại di động để tham gia quá trình đánh giá
giống như học trực tuyến.
- Tổ chức 01 buổi workshop trong môi trường trực tuyến tại Bộ môn Kỹ năng mềm
với sự tham gia của tất cả giảng viên tham gia dạy kỹ năng mềm tại UFM để phân tích lại mơ
hình và cùng nhau góp ý xây dựng để mơ hình trở nên hồn hảo hơn trong học kỳ tới. Sau
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
17
Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Viện
workshop, tác giả mong muốn tất cả Thầy Cô đang giảng dạy tại Bộ môn Kỹ năng mềm UFM
sẽ triển khai thực hiện mơ hình này trong mơn học mình phụ trách với số lượng ít nhất 1 lần
trong 1 mơn học.
- Trong năm 2022, triển khai hoạt động cho cả 8 môn kỹ năng mềm đang được giảng
dạy tại Bộ môn, và nếu được thì tiến tới đề xuất tổng hợp và nghiên cứu sâu để thành đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Trường.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt:
1. Đỗ Anh Dũng, (2019), Đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng tiếp cận năng lực học
sinh. />2. Nguyễn Thành Ngọc Bảo, (2017) Rubrics đánh giá kỹ năng lập luận thông qua bài văn
nghị luận. Tạp chí khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí minh. Tập 14, số
4b: 149-158.
3. Trần Hữu Trần Huy, (2021), Khảo sát sinh viên về hoạt động giao quyền đánh giá;
/>Tiếng Anh:
4. Mills, G. E. (2011), Action Research: A Guide for the Teacher Researcher (4th ed.).
Boston, MA: Pearson.
5. Curtis, D. (2010, February), Defining, Assessing and Measuring Generic Competences
(Ph.D.). Un. of South Australia.
6. Fink, L. Dee. (2013), Creating Significant Learning Experiences: An Integrated
Approach to Designing College Courses. eBook: Jossey-Bass Higher and Adult Education
Series.
Ngày 23 tháng 10 năm 2021
18