KỶ YẾU CÁC CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHUN NGÀNH HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU
HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐA U TUỶ XƯƠNG
CÓ SUY THẬN VỚI PHÁC ĐỒ CÓ BORTEZOMIB
TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI GIAI ĐOẠN 2019 – 2022
Nguyễn Thị Nga1, Phạm Phương Thảo1,2,
Vũ Hồng2, Vũ Minh Phương1,2
TĨM TẮT
40
Mạng lưới Ung thư tồn diện đã đưa phác đồ
có Bortezomib lên mức khuyến cáo cao nhất (IA)
trong điều trị đa u tuỷ xương.
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị đa u tuỷ
xương có suy thận bằng phác đồ chứa
Bortezomib tại bệnh viện Bạch Mai giai đoạn
2019 – 2022
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu
quan sát thuần tập, tiến hành trên 45 bệnh nhân
đa u tuỷ xương có suy thận điều trị bằng phác đồ
chứa Bortezomib tại bệnh viện Bạch Mai giai
đoạn 2019 – 2022.
Kết quả: 45 bệnh nhân đa u tuỷ xương có
suy thận, tuổi trung bình là 58,8±8,. Có 10 bệnh
nhân (22,2%) ở giai đoạn ISS-II, và 35 bệnh
nhân (77,8%) ở giai đoạn ISS-III. IgG chiếm
28,9% và chuỗi nhẹ (kappa:26,7%; lambda:
20%). Tỷ lệ bệnh nhân cải thiện chức năng thận
là 68,9%. Tỷ lệ đáp ứng điều trị đa u tuỷ là
68,9% (n = 31), trong đó tỷ lệ đáp ứng một phần
rất tốt có sự khác biệt so với nhóm khơng suy
thận, p = 0,01. Tỷ lệ sống thêm bệnh không
không tiến triển thời điểm 2 năm là 50%, so với
Trường Đại học Y Hà Nội
Bệnh viện Bạch Mai
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Nga
SĐT: 0972.528.187
Email:
Ngày nhận bài: 15/8/2022
Ngày phản biện khoa học: 15/8/2022
Ngày duyệt bài: 05/10/2022
1
2
340
nhóm không suy thận là 88%, p =0,015. Tỷ lệ
sống thêm tồn bộ 2 năm là 71%, kém hơn nhóm
khơng suy thận (97%), p = 0,012.
Kết luận: Bortezomib có hiệu quả trong việc
cải thiện chức năng thận. Tỷ lệ đáp ứng một phần
rất tốt, thời gian sống thêm toàn bộ và sống thêm
bệnh khơng tiến triển của nhóm đa u tuỷ xương
có suy thận có sự khác biệt so với nhóm khơng
suy thận (p=0,01).
Từ khóa: đa u tủy xương, suy thận,
Bortezomib
SUMMARY
EFFECTIVE OF BORTEZOMIB
REGIMENS FOR MULTIPLE
MYELOMA WITH RENAL FAILURE
AT BACH MAI HOSPITAL (2018–2022)
Background: The National Comprehensive
Cancer Network introduced bortezomib protocol
to the highest recommended level (IA) in the
treatment of multiple myeloma.
Objectives: Evaluation of results of
treatment of multiple myeloma with renal failure
with Bortezomib-containing regimen at Bach
Mai hospital from 2018 – 2022.
Methods: Prospective cohort study
Results: Fourty-five patients (27 males and
18 females) were identified and the median age
was 58,8±8,1. There were 10 patients (22.2%) in
stage ISS-II, and 35 patients (77,8%) in stage
ISS-III. The most common type of myeloma was
IgG (28,9%), followed by light chain
(kappa:26,7%; lambda: 20%). The proportion of
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 520 - THÁNG 11 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2022
individuals whose renal function had improved
was 68.9%. Overall response rate was 68,9%
(n=31), in which the very good partial response
rate was a difference compared with the group
without renal failure, p=0,01. The progressionfree survival rate at 2 years was 50%, compared
with the group without renal failure was 88%, p
= 0.015. The overall 2-year survival rate was
71%, worse than the group without renal failure
(97%), p = 0.012.
Conclusions: Bortezomib appears to be an
effective treatment for patients with advanced
MM and renal failure irrespective of performance
status and age. The rate of partial response was
very good, the overall survival and progressionfree survival of the multiple myeloma group with
renal failure were different compared with the
group without renal failure (p=0.01).
Keywords: Multiple myeloma, renal failure,
bortezomib
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh đa u tủy xương (ĐUTX), còn được
gọi là bệnh Kahler, là một bệnh ác tính dịng
lympho đặc trưng bởi sự tích luỹ các tương
bào (tế bào dịng plasmo) trong tuỷ xương,
sự có mặt của globulin đơn dòng trong huyết
thanh và/hoặc trong nước tiểu gây ra huỷ
hoại các cơ quan. Trong đó nhóm bệnh nhân
(BN) ĐUTX có suy thận là nhóm có tiên
lượng khơng tốt, cần được can thiệp điều trị
sớm, nhằm cải thiện thậm chí đảo ngược suy
thận nếu có thể. Các nghiên cứu cho thấy
rằng sử dụng sớm Bortezomib, ghép tế bào
gốc tự thân và điều trị duy trì Bortezomib có
thể cải thiện kết quả đáng kể ở những BN
mắc ĐUTX có nguy cơ cao [1]. Nghiên cứu
này chúng tôi muốn đánh giá về tỷ lệ đáp
ứng của nhóm BN ĐUTX có suy thận, đồng
thời so sánh thời gian sống với nhóm khơng
suy thận khi sử dụng phác đồ có Bortezomib
tại bệnh viện Bạch Mai trong giai đoạn 20182022.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả BN mới chẩn đoán ĐUTX, điều trị
tại Trung tâm Huyết học – Truyền máu,
Bệnh viện Bạch Mai từ 12/2018 đến
04/2022.
Tiêu chuẩn chọn bệnh
BN mới chẩn đoán ĐUTX từ 12/2018
đến 05/2022 theo tiêu chuẩn của IMWG
2014, được chia hai nhóm có suy thận và
khơng suy thận, đang điều trị bằng phác đồ
có Bortezomib và đồng ý tham gia nghiên
cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
BN không tuân thủ điều trị, bỏ điều trị,
chuyển điều trị nơi khác mà nghiên cứu
không theo dõi được.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu quan sát thuần tập.
Phương pháp thực hiện
87 bệnh nhân chia làm 2 nhóm: 45 BN
lần đầu chẩn đốn ĐUTX có suy thận (nhóm
bệnh) và 42 BN lần đầu chẩn đốn ĐUTX
khơng có suy thận (nhóm chứng).
Các biến số
Các thơng tin như giới, tuổi, giai đoạn
bệnh ISS, đáp ứng điều trị dựa theo tiêu
chuẩn của Hiệp hội nghiên cứu đa u tuỷ
xương quốc tế (IMWG) [2]. Lựa chọn phác
đồ điều trị dựa trên Hướng dẫn chẩn đoán và
điều trị một số bệnh lý huyết học của Bộ Y tế
năm 2015 gồm 2 phác đồ VTD (Bortezomib,
Thalidomide, Dexamethasone) và VCD
(Bortezomib,
Cyclophosphamid,
Dexamethasone) [3].
Phương pháp xử lý số liệu
341
KỶ YẾU CÁC CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHUN NGÀNH HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU
Số liệu được được thu thập nhờ sử dụng
phần mềm hỗ trợ Kobotoolbox, phân tích
bằng phần mềm thống kê STATA 17 và
Microsoft Excel 2021. Thống kê mô tả dùng
cho các biến mô tả đặc điểm bệnh nhân, giai
đoạn bệnh, phác đồ và đặc điểm đáp ứng
điều trị. Kết quả biến định tính được trình
bày dưới dạng tần số, tỷ lệ. Các giá trị thời
gian sống xây dựng theo phương pháp
Kaplan-Meier, sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê với p < 0,05.
Y đức
Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng
Đạo đức của Đại học Y Hà Nội
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu
Bảng 1. Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu (N=87)
Suy thận
Không suy
Chung
(n=45)
thận (n=42)
Đặc điểm
Tỉ
Tần số
Tần số Tỉ lệ Tần số Tỉ lệ
lệ
(n)
(n)
(%)
(n)
(%)
(%)
Tuổi (X̅±SD)
58,8±8,1
59,3±8,0
59,0±8,0
< 60
19
42,2
24
57,1
43
49,4
Nhóm tuổi
60-79
26
57,8
17
40,5
43
49,4
≥ 80
0
0,0
1
2,4
1
1,2
Nam
28
62,2
16
38,1
44
50,6
Giới tính
Nữ
17
37,8
26
61,9
43
49,4
IgG
13
28,9
25
59,4
37
42,6
IgG-Kappa
3
6,7
1
2,4
4
4,6
IgG-Lambda
2
4,4
0
0,0
2
2,3
IgA
3
6,7
10
23,8
13
14,9
Thể bệnh
IgA-Kappa
1
2,2
2
4,8
3
3,4
IgA-Lambda
2
4,4
1
2,4
3
3,4
Kappa
12
26,7
2
4,8
14
16,1
Lambda
9
20,0
1
2,4
10
11,5
I
0
0,0
9
21,4
9
10,3
Giai đoạn bệnh
II
10
22,2
24
57,1
34
39,1
theo ISS
III
35
77,8
9
21,4
44
50,6
< 60 ml/phút
14
31,1
Mức lọc cầu thận
< 30 ml/phút
6
13,3
lúc chẩn đoán
< 15 ml/phút
21
46,6
Tuổi trung bình của bệnh nhân tham gia nghiên cứu: nhóm 45 bệnh nhân ĐUTX có suy
thận là 58,8±8,1 và 42 bệnh nhân ĐUTX không suy thận là 59,3±8,0. Trong đó nhóm suy
thận BN là nam giới chiếm đa số (62,2%). Immunoglobulin (Ig) phổ biến nhất là IgG
(28,9%).
342
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 520 - THÁNG 11 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2022
3.2. Kết quả điều trị
Bảng 2. Phân bố điều trị theo phác đồ (N=87)
Suy thận
Không suy thận
Chung
(n=45)
(n=42)
Phác đồ điều trị
Tần số
Tỉ lệ
Tần số
Tỉ lệ
Tần
Tỉ lệ
(n)
(%)
(n)
(%)
số (n)
(%)
14
31,1
12
28,6
26
29,9
VCD
VTD
28
62,2
23
54,8
51
58,6
VTD, VCD + Ghép
3
6,7
7
16,7
10
11,5
Nhóm ĐUTX suy thận có 28 BN được điều trị với phác đồ VTD (62,2%) và 3 BN điều trị
với phác đồ VTD, VCD và ghép tế bào gốc ngoại vi (6,7%). Nhóm ĐUTX khơng suy thận có
23 BN điều trị với phác đồ VTD (54,8%).
Bảng 3. Hiệu quả thay đổi chức năng thận của nhóm suy thận (N=45)
Phác đồ
eGFR
Mức độ
Tổng Tổng
VTD
VCD
VD+
(ml/ phút)
(n,%)
(n,%) ghép TBGNV cộng cộng
50-89 → ≥ 90
Hồi phục hoàn toàn
18 (64,3) 5 (35,7)
3 (100,0)
26
< 50 → ≥ 60
Hồi phục một phần
< 15 → 30-59
1 (3,6) 2 (14,3)
0 (0,0)
3
31
<15 → 15-29
15-29 → 30-50
Hồi phục tối thiểu
2 (7,1)
0 (0,0)
0 (0,0)
2
Lọc thận →
Không lọc thận
Không hồi phục
7 (25,0) 7 (50,0)
0 (0,0)
14
14
Tổng cộng
28
14
3
45
45
Phác đồ VTD giúp cải thiện chức năng thận là 21 BN (chiếm 75%). Phác đồ VCD giúp
cải thiện chức năng thận được 7 BN (chiếm 50%). Như vậy phác đồ có Bortezomib giúp cải
thiện chức năng thận 31/45 BN (68,9%), trong đó cải thiện hoàn toàn là 26/31 BN (63,4%).
Bảng 4. Đáp ứng hồi phục bệnh đa u tủy (N=45)
Suy thận
Không suy
Tổng đáp ứng
(n=45)
thận (n=42)
(N=87)
Đặc điểm
p
Suy
Không
Tần số Tỉ lệ
Tần
Tỉ lệ
thận suy thận
(n)
(%) số (n) (%)
n(%)
n(%)
Đáp ứng một phần
20
29
20
44,5
29
69,1
rất
tốt
(44,5)
(69,1)
Đáp
Đáp ứng một phần
11
24,4
4
9,5
ứng
0,01
điều
Không thay đổi
1
2,2
2
4,8
25
13
trị
(55,5)
(30,9)
Bệnh tiến triển
2
4,5
4
9,5
Tử vong sớm
11
24,4
3
7,1
343
KỶ YẾU CÁC CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHUN NGÀNH HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU
Gần một nửa số BN của chúng tôi (44,5%) đạt đáp ứng một phần rất tốt. Tổng tỷ lệ đáp
ứng là là 68,9%. BN có bệnh tiến triển, tử vong lần lượt chiếm 4,5% và 24,4%.
Biểu đồ 1. Thời gian sống thêm bệnh toàn bộ và sống thêm bệnh khơng tiến triển
của nhóm suy thận và khơng suy thận
So sánh nhóm suy thận và khơng suy thận: Tỷ lệ BN có OS ở thời điểm 24 tháng của
nhóm bị suy thận là 71% và thấp hơn nhóm khơng bị suy thận là 97%. Sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê (log-rank p= 0,012). Thời gian sống thêm bệnh khơng tiến triển của nhóm
khơng suy thận dài hơn nhóm suy thận, tại thời điểm 24 tháng của nhóm khơng suy thận là
88% và nhóm suy thận là 50%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p= 0,015.
Biểu đồ 2. Thời gian sống thêm toàn bộ và sống thêm bệnh không tiến triển
theo giai đoạn bệnh ISS
So sánh theo giai đoạn: Giai đoạn ISS-II có thời gian sống và sống thêm bệnh không tiến
triển cao hơn giai đoại ISS-III, OS thời điểm 24 tháng của nhóm ISS-II và ISS-III lần lượt là
100% và 68%. PFS thời điểm 24 tháng lần lượt là: 74% và 48%.
344
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 520 - THÁNG 11 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2022
Biểu đồ 3. Thời gian sống thêm tồn bộ và sống thêm bệnh khơng tiến triển
giữa các mức độ suy thận.
So sánh giữa các mức độ suy thận: mức độ suy thận giai đoạn III cho kết quả sống toàn bộ
và sống thêm bệnh không tiến triển cao nhất, tiếp đến là giai đoạn IV, thấp nhất là giai đoạn
V. Tuy nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
IV. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu
Trong nghiên cứu của chúng tơi, có 45
BN mới được chẩn đốn mắc bệnh ĐUTX
được đưa vào nghiên cứu trong khoảng thời
gian theo dõi 32 tháng. Tất cả các BN đáp
ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán theo IMWG
[2].
45 BN (28 nam và 17 nữ) đã được chẩn
đoán xác định và tuổi trung bình là 58,8±8,1
(Bảng 1). Theo Rajkumar SV, ĐUTX thường
xảy ra ở BN lớn tuổi, hầu hết sau 60 tuổi [2].
Tuổi BN trong nghiên cứu của chúng tôi
tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn
Thuỳ Dương là 59,06±10,63 [4]. Hay tại
Trung Quốc, tác giả Xiu Liu Cong thì tuổi
trung bình là 57 tuổi [5]. Tuổi là một yếu tố
tiên lượng bệnh, tuổi cũng là yếu tố để bác sĩ
lựa chọn phác đồ điều trị [2].
Trong nghiên cứu của chúng tơi, có 10
BN (22,2%) ở giai đoạn II, 35 BN (77,8%) ở
giai đoạn III, khơng có BN ở giai đoạn I. Kết
quả này tương tự với nghiên cứu của tác giả
Trần Thị Vân Quỳnh thực hiện năm 2020 tại
Viện Huyết học - Truyền máu TW, giai đoạn
II, III lần lượt là 33,8% và 60,9% [6]. Đây là
tình hình thực tế ở Việt Nam, BN thường
nhập viện khi tình trạng bệnh đã nặng. Càng
chẩn đốn muộn đa u tuỷ thì thời gian sống
sót càng ngắn. Trong nghiên cứu của Greipp,
BN ở giai đoạn I có thời gian sống trung bình
là 62 tháng và đối với giai đoạn II, III thì thời
gian sống trung bình lần lượt là 44 và 29
tháng [7].
Trong bảng 1, loại u tủy phổ biến là IgG
(28,9%), tiếp theo là chuỗi nhẹ (kappa:
26,7% và lambda 20%). So sánh với tác giả
Nguyễn Thị Mai Hương thì đa u tuỷ xương
IgG cũng chiếm tỷ lệ cao nhất 41,9% nhưng
tổng tỷ lệ đa u tuỷ chuỗi nhẹ là 29%, với tỷ
số kappa/lambda là 0,8 thấp hơn tỷ lệ nghiên
cứu của chúng tôi khi tổng chuỗi nhẹ là
46,7%, với tỷ lệ kappa/lambda là 1,3 [8].
Điều này là do nghiên cứu của chúng tôi trên
345
KỶ YẾU CÁC CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHUN NGÀNH HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU
nhóm BN có suy thận, mà đặc điểm suy thận
trong ĐUTX thường đến từ việc lắng đọng
chuỗi nhẹ vào ống lượn xa, do đó tỷ lệ này
trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn các
nghiên cứu khác.
4.2. Về đáp ứng hồi phục chức năng
thận
Khi suy thận phải điều trị tích cực để bảo
tồn chức năng thận đặc biệt là các BN bị
ĐUTX loại chuỗi nhẹ. Phác đồ có
Bortezomib rất tốt cho các BN có suy giảm
chức năng thận bởi vì có thể dùng đủ liều
trên BN có suy giảm chức năng thận, phác
đồ giúp làm giảm nhanh sự tiết kháng thể bất
thường [9]. Theo khuyến cáo của IMWG, khi
BN có suy giảm chức năng thận nên lựa chọn
phác đồ Bortezomib để điều trị cho BN [10].
Phác đồ VTD giúp cải thiện chức năng
thận là 21 BN (chiếm 75%). Phác đồ VCD
giúp cải thiện chức năng thận được 7 BN
(chiếm 50%). Như vậy tổng cộng phác đồ có
Bortezomib giúp cải thiện chức năng thận
31/45 BN (68,9%), trong đó cải thiện hồn
tồn là 26/31 BN (63,4%) (Bảng 3).
Theo tác giả Park nghiên cứu trên 379
BN chẩn đoán mới cho thấy BN ĐUTX có
suy giảm chức năng thận chiếm 31%; sau
điều trị có 54% có đáp ứng hồn tồn chức
năng thận, có 68% có đáp ứng chức năng
thận sau điều trị bằng phác đồ VD. Thời gian
trung bình để đáp ứng chức năng thận là 5,5
tháng [11]. Nghiên cứu của MCB Thanh
Thanh năm 2016 có 50% BN trong nhóm
nghiên cứu 77 BN cải thiện được chức năng
thận [12].
4.3. Về kết quả điều trị đa u tuỷ xương
Định nghĩa về đáp ứng hoàn toàn trong
đa u tủy theo IMWG 2016 [13]: Kết hợp
miễn dịch âm tính trên huyết thanh và nước
tiểu và sự biến mất của bất kỳ
plasmacytomas mô mềm và <5% tế bào
346
plasma trong dịch tủy xương. Tuy nhiên, các
phịng thí nghiệm của chúng tơi cịn hạn chế
về kết hợp miễn dịch trên nước tiểu, vì vậy
chúng tơi không dựa vào chỉ số này để đánh
giá đáp ứng. Tỷ lệ đáp ứng tổng thể là 68,9%
(n = 31) bao gồm đáp ứng một phần rất tốt và
đáp ứng một phần (Bảng 4). Trong đó tỷ lệ
đáp ứng một phần rất tốt là 44,5% , so sánh
với nhóm khơng suy thận thì có sự khác biệt
với p =0.01.
BN đạt được đáp ứng một phần rất tốt
cộng với nguy cơ thấp, đã nhận được
Thalidomide 100 mg mỗi ngày một lần để
điều trị duy trì. BN có nguy cơ cao đạt được
đáp ứng, sẽ được duy trì bằng Bortezomib
hoặc Lenalidomide. BN được theo dõi hàng
tháng tại phòng khám.
4.4. Thời gian sống
So sánh nhóm suy thận và khơng suy
thận: Tỷ lệ BN có OS ở thời điểm 24 tháng
của nhóm bị suy thận là 71% và thấp hơn
nhóm khơng bị suy thận là 97%. Sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê (log-rank p = 0,012).
Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển
của nhóm khơng suy thận dài hơn nhóm suy
thận, tại thời điểm 24 tháng của nhóm khơng
suy thận là 88% và nhóm suy thận là 50%.
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p =
0,015 (Biểu đồ 1). Với nghiên cứu của
Suzanne MCB Thanh Thanh thì nhóm khơng
suy thận cũng có tỷ lệ sống cao hơn nhưng tỷ
lệ sống sau 24 tháng của nhóm khơng suy
thận là 76%, cịn cịn nhóm suy thận là là
51% [12].
Trong biểu đồ 3, khi so sánh thời gian
sống cịn tồn bộ và thời gian sống bệnh
không tiến triển giữa các mức độ suy thận
nhận thấy: mức độ suy thận giai đoạn III cho
kết quả sống tồn bộ và sống thêm bệnh
khơng tiến triển cao nhất, tiếp đến là giai
đoạn IV, thấp nhất là giai đoạn V. Tuy nhiên
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 520 - THÁNG 11 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2022
sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (logrank p > 0,05).
7.
V. KẾT LUẬN
Phác đồ Bortezomib có hiệu quả trong
việc cải thiện chức năng thận cho bệnh nhân
đa u tủy xương có suy thận, tổng cải thiện là
31/45 BN (68,9%).Tỷ lệ đáp ứng điều trị đa
u tuỷ ở nhóm suy thận là 68,9%, trong đó tỷ
lệ đáp ứng một phần rất tốt có sự khác biệt
với nhóm khơng suy thận (p=0,01). Tỷ lệ OS
và PFS sau 2 năm lần lượt là 71% và 50%.
8.
9.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Field-Smith A., Morgan G.J., và Davies
F.E. (2006). Bortezomib (Velcadetrade mark)
in the Treatment of Multiple Myeloma. Ther
Clin Risk Manag, 2(3), 271–279.
2. Rajkumar S.V., Dimopoulos M.A.,
Palumbo A. và cộng sự. (2014).
International Myeloma Working Group
updated criteria for the diagnosis of multiple
myeloma. Lancet Oncol, 15(12), e538-548.
3. Bộ Y tế (2015), Hướng dẫn Chẩn đoán và
Điều trị một số bệnh lý huyết học, Nhà xuất
bản Y học, Hà Nội.
4. Nguyễn Thùy Dương (2018). Nghiên cứu
đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả
điều trị trong bệnh đa u tuỷ xương chuỗi nhẹ
tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung
Ương. Luận án thạc sĩ chuyên ngành Huyết
học - Truyền máu, Đại học Y Hà Nội, 1–123.
5. Cong X., Sun X., Qian L. và cộng sự.
(2004). Clinical analysis of 43 patients with
light chain multiple myeloma. Chinese
Journal of Clinical Oncology, 1(3), 215–220.
6. Trần Thị Vân Quỳnh (2020). Ứng dụng
một số chỉ số hóa sinh và cystatin C nghiên
cứu thay đổi chức năng thận ở bệnh nhân đa
u tủy xương tại Viện Huyết học truyền máu
Trung Ương 2018-2020. Luận án thạc sĩ
10.
11.
12.
13.
chuyên ngành Huyết học - Truyền máu, Đại
học Y Hà Nội, 1–118.
Greipp P.R., San Miguel J., Durie B.G.M.
và cộng sự. (2005). International staging
system for multiple myeloma. J Clin Oncol,
23(15), 3412–3420.
Nguyễn Thị Mai Hương (2020). Đặc điểm
lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị u
tương bào ngoài tủy ở bệnh nhân đa u tủy
xương giai đoạn 2017- 2020. Luận án thạc sĩ
chuyên ngành Huyết học - Truyền máu, Đại
học Y Hà Nội, 1–108.
Dimopoulos
M.A.,
Roussou
M.,
Gavriatopoulou M. và cộng sự. (2009).
Reversibility of renal impairment in patients
with multiple myeloma treated with
bortezomib-based regimens: identification of
predictive
factors.
Clin
Lymphoma
Myeloma, 9(4), 302–306.
Ludwig H., Drach J., Graf H. và cộng sự.
(2007). Reversal of acute renal failure by
bortezomib-based chemotherapy in patients
with multiple myeloma. Haematologica,
92(10), 1411–1414.
Park S., Han B., Kim K. và cộng sự.
(2014). Renal Insufficiency in newlydiagnosed multiple myeloma: analysis
according to International Myeloma Working
Group consensus statement. Anticancer Res,
34(8), 4299–4306.
Suzanne MCB Thanh Thanh (2016). Đánh
giá đáp ứng điều trị và chức năng thận của
phác đồ có Bortezomib trong bệnh đa u tuỷ
xương. Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y
Dược Thành phố Hồ Chí Minh, 1–163.
Kumar S., Paiva B., Anderson K.C. và
cộng sự. (2016). International Myeloma
Working Group consensus criteria for
response and minimal residual disease
assessment in multiple myeloma. Lancet
Oncol, 17(8), e328–e346.
347