KỶ YẾU CÁC CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHUN NGÀNH HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HUYẾT TƯƠNG TƯƠI ĐÔNG LẠNH
SAU ĐIỀU CHẾ VÀ SAU MỘT NĂM BẢO QUẢN
TẠI TRUNG TÂM TRUYỀN MÁU CHỢ RẪY
Nguyễn Việt Hải1, Vũ Hồng Ý1, Hồ Trọng Hiếu1,
Lê Thanh Hải1, Nguyễn Đình Ngọc Huân1, Nguyễn Mạnh Cầm1,
Nguyễn Chí Bảo1, Nguyễn Thị Mỹ Linh1, Thân Thị Nhung1,
Lê Minh Hiếu1, Lê Hồng Oanh1
TĨM TẮT
28
Mục tiêu: Máu và các chế phẩm máu cần
phải được kiểm tra chất lượng định kỳ để đảm
bảo luôn đạt chất lượng cũng như hạn chế nguy
cơ đến mức thấp nhất khi truyền cho bệnh nhân.
Theo tiêu chuẩn, khối huyết tương tươi đông lạnh
(HTTĐL) được kiểm tra chất lượng định kỳ hàng
tháng với các chỉ tiêu chất lượng như: cảm quan,
thể tích, nồng độ FVIII và Fibrinogen. Theo
nghiên cứu này, HTTĐL được đánh giá chất
lượng ở thời điểm sau khi điều chế và thời điểm
cận hạn sử dụng (sau 01 năm).
Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu. Từ
tháng 01/2019 đến tháng 12/2021, 240 HTTĐL
điều chế từ 350ml máu toàn phần đạt chuẩn được
kiểm tra chất lượng theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế
(thông tư 26/2013) và tiêu chuẩn Châu Âu. Từ
tháng 01/2019 đến tháng 12/2019, hàng tháng sẽ
có 10 HTTĐL cùng ngày và cùng lô điều chế
được lấy ngẫu nhiên và chia thành 2 lô A và A’,
mỗi lô 05 đơn vị. Lô A sẽ được kiểm tra chất
lượng về nồng độ FVIII và Fibrinogen. Cịn lơ A’
tiếp tục được bảo quản từ âm 18oC (-18oC) đến
1
Trung tâm truyền máu Chợ Rẫy
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Việt Hải
SĐT:0909822480
Email:
Ngày nhận bài: 28/7/2022
Ngày phản biện khoa học: 01/8/2022
Ngày duyệt bài: 31/8/2022
246
âm 25oC (-25oC) trong 1 năm, được rã đông và
kiểm tra chất lượng về các chỉ tiêu như lô A. Từ
tháng 01/2020 đến tháng 12/2020, thực hiện
tương tự với lô B và B’. Kết quả kiểm tra được
so sánh với tiêu chuẩn Bộ Y tế (Thông tư
26/2013) và tiêu chuẩn Châu Âu. Dữ liệu thu
thập từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2021 và
được xử lý bằng phần mềm Excel.
Kết quả: 240 khối HTTĐL có tỷ lệ đạt tiêu
chuẩn về cảm quan, thể tích, nồng độ FVIII và
fibrinogen lần lượt là 99.6%, 97.5%, 91.67%,
76,67%. Nồng độ trung bình fibrinogen và
FVIII lần lượt là 264 ± 66 mg/dL và 0.81 ± 0.44
IU/ml. Nồng độ FVIII sau 1 năm bảo quản giảm
với tỷ lệ là 10.4% trong năm 2019, và 10.5%
trong năm 2020. Nồng độ fibrinogen sau 1 năm
bảo quản giảm với tỷ lệ là 18.6% trong năm
2019, và 4.5% trong năm 2020. Trong 4 nhóm
máu hệ ABO, HTTĐL nhóm máu O có nồng độ
FVIII thấp nhất với nồng độ trung bình là 0.70 ±
0.43 IU/ml.
Kết luận: HTTĐL điều chế tại Trung tâm
truyền máu Chợ Rẫy đáp ứng tiêu chuẩn chất
lượng theo tiêu chuẩn Bộ Y tế và tiêu chuẩn
Châu Âu về chỉ tiêu nồng độ FVIII (>0.7 IU/mL)
và Fibrinogen (>200 mg/dL) sau điều chế và sau
01 năm bảo quản ở điều kiện <-18oC, tỷ lệ
HTTĐL đạt yêu cầu ≥75% số lượng chế phẩm
được kiểm tra.
Từ khoá: chất lượng chế phẩm huyết tương
tươi đông lạnh.
TạP CHí Y học việt nam tP 520 - tháng 11 - sè ĐẶC BIỆT - 2022
SUMMARY
QUALITY ASSESSMENTOF FRESH
FROZEN PLASMA AFTER
PROCESSING AND AFTER ONE YEAR
OF STORAGE IN CHO RAY BLOOD
TRANSFUSION CENTER
Purpose: Blood and blood products need to
be periodic quality assessed to ensure high
quality products that are maximum efficacy and
minimal risk to the recipients. As per standard
guidelines, fresh frozen plasma (FFP) is monthly
tested for observation, volume, factor VIII and
fibrinogen level. According to this study, quality
assessment FFP is carried out at the time of
preparation and at the end of its shelf life (one
year).
Methods: Retrospective study. 240 FFP
units were prepared from 350ml of whole blood
which were testing for quality control, according
to the standards of the Ministry of Health
(Circular 26/2013) and European. From January
2019 to December 2021, 240 FFP units were
prepared from 350ml of whole blood which were
testing for quality control, according to the
standards of the Ministry of Health (Circular
26/2013) and European. From January 2019 to
December 2019, 10 FFP in the same batch of
modulation are randomly selected every month
and divided into 2 lots A and A’, each lot of 5
units. Lot A will be tested the quality control.
And lot A’ continues to be stored (-18oC to -25
o
C ) a year, is defrosted and quality checked for
the same criteria as batch A. From January 2020
to December 2020, do the same with lots B and
B'. Data was collected from January 2019 to
December 2021 and processed using Excel.
Results: 240 FFP units had the standard rate
of appearance, volume, FVIII and fibrinogen
concentrations of 99.6%, 97.5%, 91.67%, and
76.67%, respectively. The average values of
fibrinogen and FVIII concentrations were 264 ±
66 mg/dL and 0.81 ± 0.44 IU/ml. The Fibrinogen
levels of the FFP after a year of storage
decreased by 10.4% in 2019, and 10.5% in 2020.
The FVIII levels of the FFP after a year of
storage decreased by 18.6% in 2019, and 4.5% in
2020. The O blood group has the lowest
concentration of
FVIII with an average
concentration of 0.70 ± 0.43 IU/ml.
Conclusion: The FFP prepared at Cho Ray
Blood Transfusion Center meets the quality
standards according to the regulations of the
Ministry of Health and European standards for
the levels of factor VIII (>0.7IU/mL) and
Fibrinogen (>200 mg/dL) after prepared and at
the end of the shelf life (1 year at -18oC to -25
o
C). The rate of FFP units achieving the standard
is ≥75% of total products tested.
Keywords: Quality standard of Fresh Frozen
Plasma
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Huyết tương tươi đông lạnh (HTTĐL) là
huyết tương được điều chế từ máu toàn phần
trong thời gian tối đa 18 giờ kể từ khi lấy
máu, và được làm đơng trong vịng 08 giờ kể
từ thời điểm bắt đầu việc đông lạnh ở nhiệt
độ từ âm 25oC (-25oC) trở xuống [1]. Trong
HTTĐL có chứa nhiều yếu tố VIII, yếu tố
IX, yếu tố Von Willebrand và các yếu tố
đông máu khác, được chỉ định truyền trong
bệnh lý thiếu hụt yếu tố đông máu, trong mất
máu số lượng lớn, trong bệnh lý về gan và
một số bệnh lý khác. Do đó, đảm bảo được
chất lượng HTTĐL là yếu tố quan trọng,
giúp tối ưu hiệu quả điều trị cho bệnh nhân
được truyền khối HTTĐL.
Việc kiểm tra chất lượng chế phẩm máu
nhằm đảm bảo chế phẩm máu điều chế được
luôn đạt chất lượng. Theo tiêu chuẩn tại
trung tâm truyền máu Chợ Rẫy, HTTĐL cần
được kiểm tra chất lượng 0,1%-1% trong
247
KỶ YẾU CÁC CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHUN NGÀNH HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU
tổng số điều chế được hoặc tối thiểu 04 đơn
vị mỗi tháng [1]. Trong đó, tiêu chí quan
trọng nhất để đánh giá chất lượng HTTĐL là
nồng độ yếu tố VIII (tối thiểu 0.7 UI/ml) và
nồng độ fibrinogen (tối thiểu 200 mg/dL) [1]
[2]. Việc đánh giá và theo dõi chất lượng
HTTĐL nói riêng và chế phẩm máu khác nói
chung là cần thiết nhằm đảm bảo chế phẩm
cung cấp luôn đạt chất lượng, đáp ứng hiệu
quả điều trị bệnh cũng như giảm tối đa rủi ro
cho người nhận máu.
Vì vậy, chúng tơi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Đánh giá chất lượng huyết tương
tươi đông lạnh sau khi điều chế và sau một
năm bảo quản tại TTTMCR”. Với các mục
tiêu nghiên cứu sau:
− Đánh giá chất lượng của HTTĐL sau
khi điều chế và sau 01 năm bảo quản.
− Phân tích tỷ lệ nồng độ Fibrinogen và
FVIII giảm sau 01 năm bảo quản.
− Sự khác nhau về nồng độ FVIII giữa
các nhóm máu.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
− Trong nghiên cứu này, 240 khối
HTTĐL điều chế từ máu toàn phần 350ml,
bảo quản 1 năm ở âm 18oC (-18oC) đến âm
25oC (-25oC), được kiểm tra chất lượng từ
tháng 01/2019 đến tháng 12/2021.
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
− Nghiên cứu hồi cứu.
− Thời gian thu thập dữ liệu: Từ tháng
01/2019 đến tháng 12/2021.Thực hiện tại
Trung tâm truyền máu Chợ Rẫy – Bệnh viện
Chợ Rẫy.
− Phương pháp thu thập dữ liệu: Từ
tháng 01/2019 đến tháng 12/2021, tổng cộng
có 240 HTTĐL điều chế từ 350ml máu tồn
phần đạt chuẩn được kiểm tra chất lượng. Cụ
thể là từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2019,
248
hàng tháng sẽ có 10 HTTĐL cùng ngày và
cùng lô điều chế được lấy ngẫu nhiên và chia
thành 2 lô A và A’, mỗi lô 05 đơn vị. Lô A
sẽ được rã đông kiểm tra chất lượng về cảm
quan, thể tích, nồng độ FVIII và Fibrinogen
sau khi điều chế khối HTTĐL. Cịn lơ A’
tiếp tục được bảo quản -18oC đến -25oC
trong 1 năm, sau đó được rã đông và kiểm tra
chất lượng về các chỉ tiêu như lô A. Từ tháng
01/2020 đến tháng 12/2020, thực hiện tương
tự với lô B và B’.
− Thiết bị bảo quản là hệ thống kho lạnh
lớn khoảng nhiệt từ -18oC đến -25oC, được
bảo trì hàng tháng và kiểm tra nhiệt độ mỗi 4
giờ/1 lần. Nhiệt kế kiểm soát nhiệt độ được
kiểm chuẩn 1 lần/năm. HTTĐL được giải
đông trong bể ấm (JSWB-11T) ở 37oC đến
khi tan hồn tồn và khơng q 45 phút,
quan sát độ đục, đỏ, kiểm tra rò rỉ, cân đo,
sau đó vuốt dây lắc trộn 3 lần để lấy 2ml
mẫu. Thiết bị Stago RMAX được sử dụng để
đo FVIII và Fibrinogen.
− Dữ liệu thu thập từ tháng 01/2019 đến
tháng 12/2021.
− Phân tích thống kê: Sử dụng phần mềm
WPS Office để phân tích dữ liệu.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Chất lượng của HHTĐL sau điều
chế và sau 01 năm bảo quản
HTTĐL được kiểm tra chất lượng về
cảm quan, thể tích, nồng độ Fibrinogen và
nồng độ FVIII. Kết quả đánh giá cho thấy:
− Cảm quan: Đánh giá HTTĐL về màu
sắc, độ đục, tình trạng rị rỉ. Kết quả cho thấy
239/240 khối có cảm quan bình thường
(chiếm 99.6%). 01 khối khơng đạt chất lượng
do q đục.
− Thể tích: Có 235 khối HTTĐL đạt yêu
cầu về thể tích (170-230ml), chiếm 97,5%.
TạP CHí Y học việt nam tP 520 - tháng 11 - sè ĐẶC BIỆT - 2022
Bảng 1: Kết quả kiểm tra chất lượng HTTĐL
Mean ± SD
Min
Sau điều chế
(lô A,B)
276 ± 66
170
Fibrinogen
N=120
(mg/dL)
Sau 01 năm
Tiêu chuẩn
(lô A’,B’)
246 ± 71
135
200mg/dL
N=120
N=240
264 ± 66
135
Sau điều chế
(lô A,B)
0.86 ± 0.47
0.35
FVIII
N=120
(IU/ml)
Sau 01 năm
Tiêu chuẩn
(lô A’,B’)
0.76 ± 0.39
0.24
0.7IU/ml
N=120
N=240
0.81 ± 0.44
0.24
− Nồng độ Fibrinogen của HTTĐL sau
khi điều chế là và sau 01 năm bảo quản đều
đạt yêu cầu chất lượng(>200 mg/dL). Số đơn
vị đạt tiêu chuẩn là 220/240, chiếm tỷ lệ
91.67%.
− Nồng độ FVIII: Sau điều chế, nồng độ
FVIII trung bình là 0.86 ± 0.47IU/ml, trong
đó có 94/120 khối HTTĐL có nồng độ đạt
tiêu chuẩn, chiếm tỷ lệ là 78.33 %. Sau 01
năm bảo quản, kết quả kiểm tra chất lượng
cho thấy nồng độ FVIII trung bình là 0.76 ±
Max
Số đơn vị đạt
Tỷ lệ đạt
480
114
95 %
608
106
88.33 %
608
220
91.67 %
3.98
94
78.33 %
3.48
90
75 %
3.98
184
76.67 %
0.39 IU/ml, số đơn vị HTTĐL là 90/120
khối chiếm tỷ lệ là 75%. Do đó, tỷ lệ đạt
chung là 184/240 đơn vị, chiếm tỷ lệ là
76.67%.
− Theo kết quả có được, HTTĐL đều đạt
chất lượng theo tiêu chuẩn quy định về cảm
quan, thể tích, nồng độ FVIII của Bộ Y tế [1]
và nồng độ FVIII theo tiêu chuẩn chất lượng
Châu Âu [2].
3.2. Nồng độ Fibrinogen và FVIII giảm
sau 01 năm bảo quản
Bảng 2: Nồng độ fibrinogen, FVIII sau điều chế và sau 01 năm bảo quản
NĂM 2019
NĂM 2020
Sau điều chế
Sau 1năm
Sau điều chế
Sau 1năm
(Lô A) n=60
(Lô A’) n=60
(Lô B) n=60
(Lô B’) n=60
Fib
Fib
Fib
Fib
FVIII
FVIII
FVIII
FVIII
(mg/d
(mg/d
(mg/d
(mg/d
(IU/ml)
(IU/ml)
(IU/ml)
(IU/ml)
L)
L)
L)
L)
Min
170
0.35
135
0.24
183
0.47
136
0.30
Max
485
3.98
400
1.69
401
2.49
608
3.48
Mean±S 278 ±
0.86 ±
249 ±
0.70 ±
275 ±
0.88 ±
246 ±
0.84 ±
D
65
0.55
58
0.30
55
0.39
82
0.46
p
0.009
0.004
0.009
0.004
0.02
0.05
0.02
0.05
249
KỶ YẾU CÁC CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHUN NGÀNH HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU
Tiêu
chuẩn
Nồng độ
giảm
% nồng
độ giảm
Số đơn
vị đạt
Tỷ lệ
đơn vị
đạt
NĂM 2019
Sau điều chế
Sau 1năm
(Lô A) n=60
(Lô A’) n=60
Fib
Fib
FVIII
FVIII
(mg/d
(mg/d
(IU/ml)
(IU/ml)
L)
L)
≥200
≥0.7IU/
≥200
≥0.7IU/
mg/dL
ml
mg/dL
ml
Fib
(mg/dL)
FVIII (IU/ml)
Fib
(mg/dL)
FVIII (IU/ml)
29
0.16
29
0.04
10.4%
18.6%
10.5%
4.5%
56
48
53
44
58
46
53
46
93.3%
80%
88.3%
73.3%
96.6%
76.7%
88.3%
76.7%
Trong năm 2019, nồng độ Fibrinogen và
FVIII ban đầu có giá trị trung bình là 278 ±
65 mg/dL và 0.86 ± 0.55 IU/ml. Sau 1 năm
bảo quản, nồng độ Fibrinogen và FVIII là
245 ± 58 mg/dL và 0.70 ± 0.30 IU/ml, giảm
với tỷ lệ lần lượt là 10.4% và 18.6% (có ý
nghĩa về mặt thống kê với p<0.05).
Tương tự, trong năm 2020, nồng độ
Fibrinogen và FVIII có giá trị trung bình là
275 ± 55 mg/dL và 0.88 ± 0.39 IU/ml. Sau 1
năm bảo quản, nồng độ Fibrinogen và FVIII
là 246 ± 82 mg/đơn vị 0.84 ± 0.46 IU/ml,
giảm với tỷ lệ lần lượt là 10.5% và 4.5%(có
ý nghĩa về mặt thống kê với p<0.05).
Tỷ lệ khối HTTĐL đạt tiêu chuẩn
Fibrinogen >200 mg/dL trong năm 2019 sau
điều chế là 93.3%, tỷ lệ này giảm xuống còn
250
NĂM 2020
Sau điều chế
Sau 1năm
(Lô B) n=60
(Lô B’) n=60
Fib
Fib
FVIII
FVIII
(mg/d
(mg/d
(IU/ml)
(IU/ml)
L)
L)
≥200
≥0.7IU/
≥200
≥0.7IU/
mg/dL
ml
mg/dL
ml
83.3% sau 1 năm bảo quản; trong năm 2020
sau điều chế là 96.6%, tỷ lệ này giảm xuống
còn 83.3% sau 1 năm bảo quản. Tỷ lệ khối
HTTĐL đạt tiêu chuẩn FVIII≥ 0.7 IU/ml
trong năm 2019 sau điều chế là 80%, tỷ lệ
này giảm xuống còn 73.3% sau 1 năm bảo
quản. Tỷ lệ khối HTTĐL đạt tiêu chuẩn
FVIII≥ 0.7 IU/ml trong năm 2020 sau điều
chế là 76.7%, tỷ lệ này giữ nguyên sau 1
năm bảo quản.
Kết quả này cho thấy 2 yếu tố quyết định
chất lượng của HTTĐL là nồng độ
Fibrinogen và FVIII, cũng như số lượng đơn
vị HTTĐL đạt chất lượng, giảm dần trong
thời gian 1 năm bảo quản.
3.3. Sự khác nhau về nồng độ FVIII
giữa các nhóm máu
TạP CHí Y học việt nam tP 520 - tháng 11 - sè ĐẶC BIỆT - 2022
Bảng 3: Nồng độ FVIII của HTTĐL của các nhóm máu hệ ABO
N=240
A
B
AB
O
Số đơn vị
36
77
14
113
FVIII
0.90 ± 0.61
0.96 ± 0.34
0.84 ± 0.25
0.70 ± 0.43
IU/ml
Kết quả cho thấy, nồng độ yếu tố FVIII của khối HTTĐL nhóm máu O là thấp nhất so
với các nhóm máu A, B và AB. Nồng độ yếu tố FVIII cao nhất là nhóm B, và giảm dần theo
thứ tự từ A, AB, O.
IV. BÀN LUẬN
4.1. Chất lượng của HHTĐL sau điều
chế và sau 01 năm bảo quản
HTTĐL sau khi rã đông ở 37oC sẽ được
kiểm tra chất lượng về cảm quan như có màu
sắc bất thường, rị rỉ, có vẩn, có cục đơng ;
thể tích; nồng độ fibrinogen và nồng độ
FVIII. Tại TTTM Chợ Rẫy, HTTĐL có thể
tích 200 ml được điều chế từ 350 ml máu
toàn phần. Khối HTTĐL đạt chuẩn phải có
thể tích từ 170 - 230 ml. Những khối quá
đục, đỏ hoặc có màu sắc bất thường sẽ bị loại
bỏ. Về cảm quan và thể tích, tỷ lệ khối
HTTĐL đạt lần lượt là 99.6% và 97.5%.
Tuy nhiên, để đánh giá chất lượng của
HTTĐL thì nồng độ fibrinogen và FVIII là
hai chỉ số quyết định. Trong nghiên cứu này,
nồng độ fibrinogen trung bình của HTTĐL là
264 g/dL. thấp hơn so với nghiên cứu của
Gunjan(2019) là 304.31 mg/dL, cao hơn so
với nghiên cứu của Sultan(2018) là 247.17
mg/dL [3] [4]. Có 220/240 đơn vị được kiểm
tra có nồng độ fibrinogen đạt trên 200
mg/dL.
Nồng độ FVIII trung bình của HTTĐL
trong nghiên cứu này là 0.81 ± 0.44 IU/ml,
với 184/240 khối đạt từ trên 0.7 IU/ml, chiếm
tỷ lệ 76.67%, đạt tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu
chuẩn Châu Âu. Kết quả cao hơn so với
nghiên cứu của Gunjan(2019) là 0.8 IU/ml,
thấp hơn so với nghiên cứu của Sultan(2018)
là 0.84 IU/ml. Tuy nhiên tỷ lệ đơn vị máu đạt
tiêu chuẩn của 2 tác giả này là 95-97,5%, cao
hơn so với nghiên cứu (76.67%) [3] [4].
Chất lượng của HTTĐL ảnh hưởng bởi
nhiều yếu tố, bao gồm cả chất lượng nguồn
máu toàn phần ban đầu, quá trình bảo quản
trước, trong và sau khi điều chế, quá trình
điều chế chế phẩm máu…Trong q trình thu
thập máu tồn phần, nếu khơng lắc trộn đều
túi máu sẽ hình thành cục đông thu hút các
yếu tố làm đông máu, dẫn đến giảm nồng độ
fibrinogen và FVIII cũng như các yếu tố
đơng máu khác. Bên cạnh đó, FVIII là yếu tố
rất nhạy cảm với nhiệt độ và q trình làm
đơng/giải đơng. Vì vậy, việc đảm bảo nhiệt
độ trong quá trình vận chuyển máu toàn phần
(1-10 oC), nhiệt độ khi quay ly tâm (4oC),
nhiệt độ khi làm đông (dưới âm 25oC), cũng
như nhiệt độ trong q trình bảo quản đều có
ảnh hưởng tới FVIII.
4.2. Nồng độ Fibrinogen và FVIII giảm
sau 01 năm bảo quản
Có nhiều nghiên cứu đã cho thấy hoạt
tính của các yếu tố đông máu thay đổi ở các
điều kiện nhiệt độ lưu trữ khác nhau trong
251
KỶ YẾU CÁC CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHUN NGÀNH HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU
khoảng thời gian khác nhau. Ở nghiên cứu
này, chúng tôi tập trung vào mức độ giảm
của Fibrinogen và FVIII giữa các lơ mẫu
trong q trình lưu trữ tại trung tâm truyền
máu, bảo quản ở nhiệt độ từ âm 18oC (-18oC)
đến âm 25oC (-25oC) trong 12 tháng. Kết quả
khảo sát cho thấy nồng độ Fibrinogen và
FVIII sau 1 năm bảo quản đều giảm so với
sau khi điều chế.
Chúng tôi nhận thấy tỷ lệ giảm nồng độ
Fibrinogen và FVIII ở mốc 1 năm bảo quản.
Fibrinogen có mức giảm sau 1 năm bảo quản
là 10.4% (năm 2019), và 10.5% (năm 2020)
cho thấy mức giảm theo thời gian có sự
tương đồng, có ý nghĩa về mặt thống kê với
p<0.05. FVIII có mức giảm là 18.6% (năm
2019) so với 4.5% (năm 2020) có ý nghĩa về
mặt thống kê với p<0.05. Tỷ lệ FVIII giảm
có khác biệt giữa 2 năm do có sự cải thiện về
tình trạng quản lý kho lạnh và việc siết chặt
chất lượng máu đầu vào. Trong nghiên cứu
của Rajendran Loganathan(2019), cũng cho
thấy có sự giảm dần của nồng độ Fibrinogen
và FVIII theo thời gian (1, 3, 6, 12 tháng). Tỷ
lệ giảm của tác giả Rajendran Loganathan là
18.1% ở nồng độ yếu tố VIII, 8.1% ở nồng
độ Fibrinogen. Tỷ lệ này khá phù hợp với kết
quả nghiên cứu của chúng tôi[5].
4.3. Sự khác nhau về nồng độ FVIII
giữa các nhóm máu
Nồng độ FVIII trong HTTĐL khơng
những bị ảnh hưởng bởi các yếu tố về thời
gian, nhiệt độ, mà cịn có sự khác biệt giữa
các nhóm máu. Theo nghiên cứu này, thì
nồng độ FVIII trong khối HTTĐL của nhóm
máu O là thấp nhất, cao nhất là nhóm máu B
252
trong 4 nhóm hệ ABO, kết quả này phù hợp
với nhiều nghiên cứu như của Jaewoo Song
và [6], Afrina [7]. Nồng độ FVIII trong
HTTĐL giảm dần theo thứ tự B, A, AB, O,
có khác biệt so với nghiên cứu của Jaewoo
Song (2015) và Afrina (2021) là B, AB, A,
O [6] [7], có thể là do tỷ lệ máu AB trong
nghiên cứu của chúng tơi thấp hơn nhiều so
với các nhóm máu cịn lại.
Yếu tố von Willebrand (vWB) được tế
bào nội mơ tổng hợp và bài tiết để tạo thành
một phần của lớp đệm quanh mạch máu.
vWB là chất mang đặc hiệu của FVIII trong
huyết tương. Nó bảo vệ FVIII khỏi sự phân
hủy protein và kéo dài thời gian bán hủy
trong hệ tuần hoàn. Nồng độ yếu tố vWB
trong huyết tương thấp nhất ở người có nhóm
máu O do thiếu đường tận cùng bổ sung, dẫn
tới sự phân giải protein đối với yếu tố vWB
nhóm O nhanh hơn so với các nhóm máu
khác. Yếu tố vWB bảo vệ FVIII khỏi sự phân
hủy và kéo dài thời gian bán hủy trong huyết
tương ở các nhóm máu A, B, AB. Đây có thể
là nguyên nhân làm cho nồng độ FVIII trong
nhóm máu A, B, AB cao hơn so với nhóm O.
V. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
240 khối HTTĐL có tỷ lệ đạt tiêu chuẩn
về cảm quan, thể tích, nồng độ FVIII và
fibrinogen lần lượt là 99.6%, 97.5%, 91.67%,
76,67%. Nồng độ trung bình fibrinogen và
FVIII lần lượt là 264 ± 66 mg/dL và 0.81 ±
0.44 IU/ml, đạt tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu
chuẩn Châu Âu về FVIII. Nồng độ FVIII sau
1 năm bảo quản giảm với tỷ lệ là 10.4%
TạP CHí Y học việt nam tP 520 - tháng 11 - sè ĐẶC BIỆT - 2022
trong năm 2019, và 10.5% trong năm 2020.
Nồng độ fibrinogen sau 1 năm bảo quản
giảm với tỷ lệ là 18.6% trong năm 2019, và
4.5% trong năm 2020.Trong 4 nhóm máu hệ
ABO, HTTĐL nhóm máu O có nồng độ
FVIII thấp nhất với nồng độ trung bình là
0.70 ± 0.43 IU/ml.
5.2. Kiến nghị
− Cần có hệ thống theo dõi nhiệt độ tự
động để kiểm soát nhiệt độ chặt chẽ hơn tại
các kho lưu trữ HTTĐL, nhờ đó có thể nhanh
chóng phát hiện và xử lý sự cố xảy ra với hệ
thống dây chuyền lạnh.
− Cần có thêm hệ thống kho lạnh dự
phòng để chuyển HTTĐL sang khi có các
vấn đề kĩ thuật xảy ra với hệ thống dây
chuyền lạnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế (2013), Thông tư 26/2013/ TT-BYT
về việc hướng dẫn hoạt động truyền máu,
tr14, 25.
2. Council of Europe (2017), Guide to the
preparation, use and quality assurance of
Blood Components, 19th, t378-380.
3. Sadia Sultan (2018), Internal quality control
of blood products: An experience from a
tertiary care hospital blood bank from
Southern Pakistan, Journal of Laboratory
Physicians, t64-67
4. Gunjan Bala (2019), Quality Control of
Fresh Frozen Plasma using Factor VIII and
Fibrinogen Levels as Measure: One Year
Study in a Tertiary Care Hospital,
International Journal of Contemporary
Medical Research, h1-h3.
5. Rajendran Loganathan (2019), Assessment
and association of coagulation factors (FVIII
and fibrinogen) with the mode of collection
and storage of fresh frozen plasma, Global
Journal of Transfusion Medicine.
6. Song J et al (2015), Quantitative influence of
ABO blood group on factor VIII and its ratio
to von Willebrand factor, novel observations
from an ARIC study of 11,673 subjects.
PLoS ONE 10(8): e0132626.
7. Afrina Binte Azad (2021) ABO blood group
and their relationship with coagulation factor
VIII in healthy adults, Journal of Biosceinces
and Medicines, 9, 49-58.
253