VAI TRỊ CƠNG NGHỆ THƠNG TIN TRONG BỐI CẢNH
CHUYỂN ĐỔI SỐ GIÁO DỤC TẠI VIỆT NAM
Nguyễn Thị Thanh Hà
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Lâm Đồng
Tóm tắt: Cuộc Cách mạng cơng nghiệp của tồn thế giới đang dần bước vào ngưỡng
5.0, trải qua bốn cuộc cách mạng công nghiệp đã mở ra nền tảng và xu thế phát triển các lĩnh
vực trên toàn cầu. Ở Việt Nam, chuyển đổi số trong giáo dục đang được dần thay thế cho giáo
dục truyền thống. Điều này giúp cho giáo dục Việt Nam bắt kịp với xu thế giáo dục toàn cầu.
Đồng thời, chính nó giúp cho người học nắm bắt và hình thành kỹ năng học tập, thích ứng với
sự biến đổi giáo dục - tri thức mới. Để có thể tiếp cận, lĩnh hội và không ngừng làm chủ bản
thân trong môi trường giáo dục mới. Chúng ta phải phát triển công nghệ thông tin một cách hệ
thống và bài bản. Trong bài viết này, tác giả làm rõ vai trị của cơng nghệ thơng tin trong
chuyển đổi số giáo dục tại Việt Nam. Từ đó, đưa ra một vài định hướng giúp công nghệ thông
tin trong chuyển đổi số giáo dục trở thành công cụ hữu hiệu trong xu hướng chuyển đổi số giáo
dục ở Việt Nam.
Từ khóa: công nghệ thông tin, chuyển đổi số, giáo dục Việt Nam
1. Đặt vấn đề
Trong giai đoạn hậu Covid-19, kinh tế thế giới và Việt Nam đang dần phục hồi và phát
triển. Nguồn nhân lực số trong giai đoạn này cực kỳ quan trọng, nhưng thực tế ở Việt Nam rất
khan hiếm. Để có thể đáp ứng nguồn nhân lực cũng như bắt kịp xu thế giáo dục trên thế giới,
Việt Nam cần có sự thay đổi bằng một chiến lược đào tạo giáo dục với mơi trường chuyển đổi
số tồn điện. Công nghệ thông tin sẽ là cầu nối giúp cả hệ thống giáo dục Việt Nam chuyển
mình trong bối cảnh mới. Với cách tiếp cận và khả năng hiểu biết của mình, tác giả sẽ làm rõ
vai trị của công nghệ thông tin trong chuyển đổi số giáo dục tại Việt Nam; từ đó, đưa ra vài
định hướng để chuyển đổi số trở thành công cụ hữu hiệu, phát huy được thế mạnh của mình
trong việc giảng dạy và truyền tải kiến thức. Đồng thời, người học nắm bắt tri thức và sáng tạo
nó trong mơi trường học cũng như mơi trường làm việc sau này.
2. Vai trị của công nghệ thông tin trong bối cảnh chuyển đối số giáo dục tại Việt Nam
2.1. Khái niệm công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giáo dục
Dù tiếp cận và hiểu theo nhiều nghĩa ở những góc độ khác nhau, chúng ta có thể hiểu
về khái niệm cơng nghệ thơng tin theo hướng sau:
“Công nghệ thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information technology hay viết tắt
là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu
trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin.
Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ thông tin được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết
49/CP ký ngày 04/8/1993 của Chính phủ: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp
khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn
468
thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài ngun thơng tin rất
phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội".
Thuật ngữ “Công nghệ thông tin” xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất
bản tại Tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình
luận: “Cơng nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng. Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin
(Information Technology - IT).”
Các lĩnh vực chính của cơng nghệ thơng tin bao gồm quá trình tiếp thu, xử lý, lưu trữ
và phổ biến hóa âm thanh, phim ảnh, văn bản và thơng tin số bởi các vi điện tử dựa trên sự kết
hợp giữa máy tính và truyền thơng. Một vài lĩnh vực hiện đại và nổi bật của công nghệ thông
tin như: các tiêu chuẩn Web thế hệ tiếp theo, sinh tin học, điện tốn đám mây, hệ thống thơng
tin tồn cầu, tri thức quy mô lớn và nhiều lĩnh vực khác. Các nghiên cứu phát triển chủ yếu
trong ngành khoa học máy tính.” 16
(Nguồn: Interrnet)
Cũng giống như khái niệm Cơng nghệ thông tin, khái niệm Chuyển đổi số trong giáo
dục được hiểu như sau:
“Chuyển đổi số trong giáo dục là một thay đổi trong đó có áp dụng cơng nghệ thơng
tin hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của học sinh, sinh viên, giảng viên
và các trường học; tạo ra một môi trường học tập nơi mà mọi thứ được kết nối. Đây là một hệ
sinh thái kết hợp công nghệ, dịch vụ và bảo mật để thu hẹp khoảng cách kỹ thuật số; tạo ra trải
nghiệm học tập hợp tác, tương tác và cá nhân hóa.” 17
“Chuyển đổi số trong ngành giáo dục, nghĩa là việc áp dụng cơng nghệ, dựa vào mục
đích, cơ cấu của doanh nghiệp giáo dục. Hiện tại, chuyển đổi số trong ngành giáo dục được ứng
dụng dưới ba hình thức chinh, bao gồm:
Công
nghệ
thông
tin,
truy
cập
trang
web
( Truy cập ngày 15/07/2022)
17
Lưu Thị Thuỳ Chi, “Chuyển đổi số trong giáo dục: Biến thách thức thành cơ hội”, đăng ngày 16/4/2021, truy
cập trang web />(truy cập ngày 15/7/2022)
16
469
- Ứng dụng công nghệ trong phương pháp giảng dạy: lớp học thơng minh, lập trình…
vào việc giảng dạy.
- Ứng dụng công nghệ trong quản lý: công cụ vận hành, quản lý
- Ứng dụng công nghệ trong lớp học: công cụ giảng dạy, cơ sở vật chất.” 18
“Chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo (GDĐT) tập trung vào hai nội dung chủ
đạo là chuyển đổi số trong quản lý giáo dục và chuyển đổi số trong dạy, học, kiểm tra, đánh
giá, nghiên cứu khoa học (NCKH). Chuyển đổi số trong quản lý giáo dục bao gồm: số hóa
thơng tin quản lý, tạo ra những hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) lớn liên thông, triển khai các
dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng các Công nghệ 4.0 (AI, Blockchain, phân tích dữ liệu,...)
để quản lý, điều hành, dự báo, hỗ trợ ra quyết định trong ngành GDĐT một cách nhanh chóng,
chính xác. Trong dạy, học, kiểm tra, đánh giá gồm: số hóa học liệu (sách giáo khoa điện tử,
bài giảng điện tử, kho bài giảng E-learning, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm), thư viện số,
phịng thí nghiệm ảo, triển khai hệ thống đào tạo trực tuyến, xây dựng các trường đại học ảo
(cyber university)”.19
2.2 .Vai trị của cơng nghệ thông tin trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục tại Việt Nam
Chúng ta thấy rằng hiện nay công nghệ thông tin được ứng dụng trong chuyển đổi số
giáo dục một cách nhanh chóng. Đặc biệt, trong những năm gần đây, nhiều trường học đã thực
hiện quản lý bằng phần mềm chun biệt. Từ việc phân cơng thời khóa biểu, học bạ điện tử và
phổ biến là ứng dụng vnEdu thơng báo tình hình học tập. Điều này đã một lần nữa khẳng định
vai trị của cơng nghệ thơng tin trong chuyển đổi số ở những góc độ sau
(Nguồn: Interrnet)
“Thực trạng chuyển đổi số trong giáo dục tại Việt Nam”, truy cập trang web
o/chuyen-doi-so-trong-giao-duc/ (truy cập ngày 15/7/2022)
19
“Chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: Thực trạng và giải pháp”, truy cập trang web
(truy cập ngày 15/7/2022)
18
470
Thứ nhất, sử dụng công nghệ để vận hành, quản lý hệ thống giáo dục bao gồm các
trường thuộc khối Nhà nước và Tư nhân. Trường học là một hệ thống kết nối nhiều bộ phận,
phịng khoa và thậm chí nhiều bộ phận nhỏ lẻ khác, nên hầu hết các trường học đều có sự kết
nối chặt chẽ với nhau bằng các phần mềm quản lý. Có phần mềm quản lý điểm, tính lương,
thậm chí là quản lý tham gia bảo hiểm xã hội. Đặc biệt, trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19,
việc học trực tuyến và làm bài tập trên nền tảng số hóa. Điều này ngoải việc đảm bảo an tồn
xã hội trong thời gian cách ly và cịn đảm bảo kiến thức của học sinh, sinh viên.
Thứ hai, Người học số (Digital learner): Công nghệ thông tin đã tạo ra một nền tảng
học tập với không gian học tập rộng lớn thông qua hệ thống internet. Người học có thể học ở
mọi lúc và mọi nơi, thậm chí cả việc đánh giá môn học cũng thông qua hệ thống quản lý học
tập và thi cử. Người học trở thành trung tâm trong việc lựa chọn và định hướng theo theo nhu
cầu học tập. Người học được thoải mái trải nghiệm kiến thức theo những gì tốt nhất. Hệ thống
kiến thức được cập nhập nhanh nhất và mang tính tồn cầu hóa. Người học vào các mơi trường
thực tế ảo để giải quyết vấn đề đã giúp học liệu số khơng chỉ cịn thuần túy cung cấp thơng tin,
nội dung học tập mà còn tạo khả năng tương tác mạnh với những nội dung đó cho người học.
Chính điều nay làm cho người học có tư duy sáng tạo, tiếp cận và xử lý nhanh chóng những
vấn đề liên quan đến nghề nghiệp của mình sau này.
Thứ ba, Mơi trường học tập số (Digital learning environment) và Người dạy số (Digital
teacher/educator): Sự kết nối giữa của kỷ nguyên công nghệ trong Bigdata, IoT, Blockhain đã
làm cho người dạy và người học quyền tự chủ nắm bắt tri thức. Quá trình tương tác của người
học với các sản phẩm của trí tuệ nhân tạo (AI), ứng dụng Robot trong dạy học, công nghệ nhận
diện khuôn mặt (Face recognition), tâm trắc (Biometrics), nhận diện cảm xúc (Emotive
recognition)… sẽ tạo ra các cơ hội tiếp cận thông tin mới mẻ, đa dạng và hiệu quả hơn đối với
học tập cá nhân hóa. Bigdata giúp lưu trữ mọi kiến thức lên mạng internet. IoT giúp nhà trường,
giáo viên theo dõi hoạt động của học sinh trong mọi hoạt động và học tập. Blockchain giúp nhà
trường quản lý thông tin, hồ sơ học bạ của học sinh một cách bài bản. Cho phép quản lý, chia
sẻ dữ liệu từ nhiều trường khác nhau, ghi chép lại lịch sử học, bảng điểm để đảm bảo thông tin
được minh bạch.
3. Định hướng áp dụng công nghệ thông tin trong chuyển đổi số giáo dục tại Việt Nam
“Đến nay, toàn ngành giáo dục đã chủ trương, xác định ứng dụng công nghệ thông tin
là một trong 9 nhóm nhiệm vụ trọng tâm triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày
04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào
tạo. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin
trong quản lý giáo dục, hỗ trợ đổi mới dạy - học, nghiên cứu khoa học triển khai trong toàn
ngành. Hàng loạt chính sách thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục được ban hành, dần hoàn thiện
hành lang pháp lý như các quy định ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào
tạo qua mạng, quy chế đào tạo từ xa trình độ đại học, quy định quản lý, vận hành sử dụng hệ
thống cơ sở dữ liệu toàn ngành”
Chuyển đối số trong giáo dục ở Việt Nam sẽ khó khăn do yếu tố kinh tế - xã hội của
chúng ta chưa theo kịp xu thế chung của các nước có nền cơng nghệ khoa học phát triển. Đặc
471
biệt, hệ thống giáo dục các nước đang phát triển đã số hóa trước Việt Nam rất lâu. Hơn nữa,
quá trình chuyển đổi số của Việt Nam diễn ra ttrong bối cảnh ảnh hưởng nặng nề của đại dịch
Covid-19 cũng như hướng phát triển giáo dục chung toàn cầu. Với thực tế như vậy, tác giả đưa
ra một vài định hướng với mong muốn chuyển đổi số trong giáo dục sẽ đem lại hiệu quả lâu dài
và mang tính bền vững.
Hình 1: Khung chuyển đổi số trong giáo dục cấp hệ thống
(Nguồn: Tia sáng)
Thứ nhất, Nhà nước và các trường đại học phải đầu tư khoa học công nghệ để đào tạo
trực tuyến. Hiện nay, đường truyền internet tại Việt Nam cịn rất chậm nên sẽ dẫn đến tín hiệu
truyền ngắt quãng. Ở Việt Nam, các đối tượng vẫn đang sử dụng 4G với dung lượng truyền dẫn
thấp, trong khi thế giới đang chuyển sang sử dụng công nghệ 5G. Các trường mặc dù đã đầu tư
công nghệ nhưng chủ yếu chỉ phục vụ cho giảng đường truyền thống. Điều này làm ảnh hưởng
rất nhiều đến quá trình chuyển đổi số của nước ta. Vì vậy, Nhà nước cần có những chính sách
và đầu tư tài nguyên mạnh mẽ vào công nghệ cho ngành giáo dục, đặc biệt là giai đoạn chuyển
đổi số trong giáo dục hiện nay.
Thứ hai, đào tạo đội ngũ giảng viên giỏi và thích ứng xu thế chuyển đổi số. Giảng viên
là người hướng dẫn, truyền tải nội dung học tập đến các sinh viên. Vì vậy, ngoài việc nắm bắt
khối lượng kiến thức, bản thân giảng viên sẽ là người xử lý kiến thức trên nền tảng khoa học
công nghệ dữ liệu. Muốn làm được điều này giảng viên là người phải giỏi về Công nghệ thơng
tin. Như vậy, ngành Giáo dục cần có những kế hoạch để đào tạo chuyên sâu cho giảng viên về
Cơng nghệ số. Trên cơ sở đó, giảng viên sẽ tiếp nhận và xử lý kiến thức sẵn có và trên nền tảng
cơ sở dữ liệu. Giảng viên sẽ hệ thống hóa số liệu kiến thức cho sinh viên cũng như cách đánh
giá, cho kiểm và thi cử.
Thứ ba, hệ thống thư viện mở dữ liệu phục vụ học tập. Khác với thư viện truyền thống,
thư viện online là một hệ thống kiến thức tồn cầu, có sự kết nối, liên kết kiến thức rộng lớn.
Đặc biệt, giáo án, bài tập, các nội dung liên quan đến quá trình học tập đều được lưu trữ trên
472
nềng tảng dữ liệu số. Sự kết nối internet sẽ là kho tàng kiến thức cho sinh viên cập nhật, học
tập và nắm giữ kiến thức một cách hệ thống nhất.
Thứ tư, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo phải ban hành những văn bản quy phạm
pháp luật, quy định về việc dạy học, đánh giá và chấp nhận kết quả trên nền tảng chuyển đổi
số. Cho đến thời điểm hiện nay, mặc dù đã có những trường thực hiện chuyển đối số trong giáo
dục dạy học; tuy nhiên, việc kiểm tra và đánh giá vẫn mang tính truyền thống. Vì vậy, các cơ
quan quản lý nhà nước cần phải có những văn bản cụ thể cơng nhận việc kiểm tra, thi cử cử
trực tuyến, tránh đi những tốn kém như giám thị coi thi, giảng viên chấm bài,…
Thứ năm, tạo những điều kiện cho sinh viên gặp khó khăn có thể mua được điện thoại
hoặc máy tính xách tay phục vụ cho việc học. Thực tế, chuyển đổi số trong giáo dục không hề dễ
nếu sinh viên không có trong tay một trong những thiết bị cơng nghệ. Vì vậy, ngành giáo dục cần
có những chính sách thực tế để tất cả người học có thể tiếp cận với các phương tiện này.
Thứ sáu, nghiên cứu áp dụng các mơ hình quản lý giáo dục theo tiếp cận công nghệ (IoT,
Big Data, Blockchain). Nhà trường quản lý theo hướng hướng mới, hạ tầng công nghệ và dữ liệu
cơ sở lớn, chủ động xây dựng chương trình tích hợp và giảng dạy trên nền tảng Công nghệ.
4. Kết luận
Cùng với sự phát triển không ngừng tư duy của con người, cơng nghệ khoa học ngày
càng có bước tiến xa. Điều này đòi hỏi cả xã hội phải bắt kịp xu thế phát triển của công nghệ.
Giáo dục cũng không ngoại lệ, muốn phát triển xã hội thì phải cần nguồn lực con người. Đây
là yếu tố quan trọng trong sự phát triển của cả cộng đồng. Một vấn đề lớn của chuyển đổi số
trong ngành giáo dục là việc các cơng nghệ số hiện đại khơng tương thích với mơ hình của
ngành giáo dục. Để có thể tích hợp các công nghệ hiện đại vào giáo dục, chúng ta cần phải chấp
nhận đổi mới và điều này chắc chắn sẽ đòi hỏi nhiều thời gian và nguồn lực. Đây chính là thách
thức và những cơ hội để giáo dục đại học Việt Nam vươn mình ra thế giới. Khẳng định khả
năng, vị trí của nền giáo dục Việt Nam hịa mình cùng xu thế giáo dục tồn cầu.
Tài liệu tham khảo
1. Cần Thơ online, “Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực”, truy cập trang web
(truy cập
ngày 12/4/2021)
2. Công
nghệ
thông
tin,
truy
cập
trang
web
(truy cập
ngày 15/7/2022)
3. “Chuyển đổi số và vai trò chuyển đổi số trong giáo dục”, đăng ngày 12/02/2021,
truy cập trang web (truy cập ngày 15/07/2022)
4. Đề tài “Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường phổ thông hiện
nay”, đăng ngày 09/8/2012, truy cập trang web (truy cập ngày 23/8/2022)
473
5. Lưu Thị Thuỳ Chi, “Chuyển đổi số trong giáo dục: Biến thách thức thành cơ hội”,
đăng ngày 16/4/2021, truy cập trang web (truy cập ngày 15/7/2022)
6. Nguyễn Quý Thanh - Tôn Quang Cường, “Những xu thế mới của công nghệ trong
giáo dục”, truy cập trang web (truy cập ngày 15/7/2022)
7. “Chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: Thực trạng và giải pháp”, truy
cập trang web (truy cập ngày 15/7/2022)
8. Minh Quang, “Chuyển đổi số trong giáo dục: Thuận lợi và thách thức trong năm
2021”, truy cập trang web (truy cập ngày 15/7/2022)
9. “Khái niệm và chuyển đổi số trong nghành giáo dục”, truy cập trang web
(truy cập ngày 15/7/2022)
10. Khoa học phổ thông, “Việc áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học đã có chuyển
biến lớn”, truy cập trang web (truy cập ngày 15/7/2022)
11. “Tác động của công nghệ 4.0 trong giáo dục”, truy cập trang web
(truy cập ngày 15/7/2022)
12. Tạp chí Cơng nghệ thơng tin, “Sự khác nhau của công nghệ thông tin và chuyển đổi số”,
đăng ngày 28/7/2022, truy cập trang web (truy cập ngày 23/8/2022)
474