MƠ HÌNH PHỊNG HỌC, PHỊNG LÀM VIỆC ĐA PHƯƠNG TIỆN
- MỘT ĐỀ XUẤT NHẰM ĐÁP ỨNG CHO NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ
Lê Thành Khơi
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Tóm tắt: Bài tham luận này đề xuất việc xây dựng phòng học hoặc phòng làm việc được
trang bị các thiết bị hiện có nhằm đa phương tiện hóa các kênh tiếp thu tri thức; biến q trình
học tập dưới tác động của đa phương tiện trở nên hấp dẫn, thú vị hơn, nhằm chuẩn bị tâm thức,
tri thức tốt hơn nhằm chuyển mình một cách có hiệu quả trong cơng cuộc chuyển đổi số.
Từ khóa: phịng học, đa phương tiện, số hóa, chuyển đổi số
1. Đặt vấn đề
Trên thế giới, công cuộc chuyển đối số được nhắc đến nhiều vào khoảng năm 2015 và
phổ biến hơn từ năm 2017. Ở Việt Nam, công cuộc chuyển đổi số bắt đầu được nhắc đến nhiều
vào năm 2018 và Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia vào
ngày 03/6/2020 [1]. Hệ quả tất yếu là nhu cầu về phòng học đa phương tiện trở nên cực kỳ phổ
biến và lan rộng ra các cơ sở giáo dục vào đào tạo. Bởi lẽ, phòng học dạng này tuy có tốn kém
kinh phí đầu tư ban đầu nhưng đem lại hiệu quả học tập cao. Phòng học đa phương tiện khơng
chỉ là phịng học thơng minh, có thể nghe - nhìn hình ảnh từ các phương tiện kỹ thuật hiện đại,
mà còn là tập hợp kiến thức như một “Thư viện mini”, bám sát nội dung bài học và có thể thay
đổi nhiều hình thức khác nhau. Đây là một hình thức phịng học đem lại nhiều thuận lợi trong
quá trình nghiên cứu, giảng dạy của giáo viên và học tập cho học sinh.
Bản thân từ “đa phương tiện” đã nói lên phần nào bao quát về cơng dụng và chức năng của
phịng học này. Nhưng vẫn cần khẳng định lại một lần nữa khi sử dụng loại phịng học đa phương
tiện này, mọi người có thể linh động thay đổi công năng: từ học cá nhân sang làm việc nhóm, từ dạy
thành học, từ học thành tự học, thậm chí là từ học tập, nghiên cứu sang vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi,…
Về cơ bản, phịng học đa phương tiện đa dạng hóa và sẽ đáp ứng được hầu hết nhu cầu
tiếp nhận thông tin thơng qua các giác quan: nghe, nhìn, đọc, nói… Điều này sẽ làm tăng thêm
hiệu quả của hoạt động học tập và làm việc của mỗi người.
2. Khái quát về số hóa
Khái niệm số hóa
Bối cảnh cuộc Cách mạng 4.0 có thể nói là bối cảnh chuyển đổi số cho hoạt động trong
đời sống của con người mà bước đi ban đầu có thể coi là việc số hóa. Số hóa là khái niệm mà
bản thân nó cũng dễ bị nhầm lẫn bởi lẽ có đến hai hình thức số hóa là: Số hóa dữ liệu
(Digitization) và Số hóa quy trình (Digitalization).
Trước tiên, số hóa dữ liệu (Digitization) là hình thức chuyển đổi thông tin, dữ liệu, tài
liệu từ dạng vật lý, analog sang định dạng kỹ thuật số. Ví dụ: scan giấy tờ, tài liệu dạng giấy
sang lưu ở dạng file PDF, lưu trong máy chủ hoặc đẩy lên đám mây của công ty.
201
Trong khi đó, số hóa quy trình (Digitalization) có thể được coi là việc sử dụng các dữ
liệu, tài liệu đã được chuyển sang định dạng kỹ thuật số để cải tiến, thay đổi quy trình vận hành,
các quy trình làm việc, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chẳng hạn, tài liệu liệu sau khi
được lưu tại máy chủ sẽ được tải lên nền tảng đám mây. Mọi người có thể dễ dàng tìm kiếm,
truy cập, chia sẻ, cộng tác những tài liệu này. Quá trình làm việc được tiến hành nhanh chóng
và thuận tiện hơn nhờ vào việc tiếp cận dữ liệu nhanh chóng, thống nhất, đồng bộ hơn.
Tự học trong bối cảnh số hố
Bản chất của cơng việc tự học là quá trình nhận thức một cách tự giác, tích cực, tự lực
khơng có sự tham gia hướng dẫn trực tiếp của giáo viên nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ
nhận thức.Bên cạnh đó, tự học cịn giữ vai trò lớn lao trong việc nâng cao khả năng hiểu biết
và tiếp thu tri thức mới của mỗi người. Nhiều nhà giáo dục nổi tiếng đã nêu lên sự cấp thiết
phải khéo léo tổ chức việc tự học cho sinh viên.
Tự học với sự nỗ lực, tư duy sáng tạo đã tạo điều kiện cho việc tìm hiểu tri thức một
cách sâu sắc, hiểu rõ bản chất của chân lý. Trong quá trình tự học, người học sẽ gặp nhiều vấn
đề mới và việc đi tìm giải đáp cho những vấn đề ấy là cách tốt nhất để kích thích hoạt động trí
tuệ cho bản thân mình. Nếu thiếu đi sự nỗ lực tự học của bản thân sinh viên thì kết quả khơng
thể cao cho dù có điều kiện ngoại cảnh thuận lợi đến mấy (thầy giỏi, tài liệu hay). Theo
Aditxterrec: “Chỉ có truyền thụ tài liệu của giáo viên mà thơi thì dù có nghệ thuật đến đâu chăng
nữa cũng không đảm bảo được việc lĩnh hội tri thức của học sinh. Nắm vững kiến thức thực sự
lĩnh hội chân lý, cái đó học sinh phải tự mình làm lấy bằng trí tuệ của bản thân”.
Việc tự học, tự rèn luyện giúp cho người học hình thành và hồn thiện thói quen độc lập
suy nghĩ, độc lập giải quyết vấn đề khó khăn trong nghề nghiệp, trong cuộc sống, giúp cho họ
tự tin hơn trong việc lựa chọn cuộc sống cho mình. Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động
học tập suốt đời, học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến. Tự học giúp con
người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội. Bằng con đường tự học mỗi cá
nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình
huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn từ môi trường nghề
nghiệp. Từ ý nghĩa này, việc tự học sẽ giúp cho người học kịp thời bổ sung những điều giáo viên,
nhà trường chưa kịp (mà thực ra là không bao giờ kịp) trang bị. Nếu rèn luyện cho người học có
được phương pháp, kỹ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì
sẽ tạo cho họ lịng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao.
Bản thân tác giả bài viết cho rằng, việc tự học sẽ được chắp cánh, tạo điều kiện tối đa
nếu người học sử dụng phòng học đa phương tiện sẽ được trình bày ở phần sau.
Những giá trị mà số hóa mang lại
▪ Số hóa học liệu
▪ Giúp giảm không gian lưu trữ vật lý
▪ Hạn chế tối đa tình trạng mất mát, thất thốt dữ liệu lưu trữ
▪ Tài liệu không chỉ được lưu trữ và bảo tồn trọn vẹn, vĩnh viễn theo nhu cầu sử dụng
mà cịn có thể liên tục tăng lên nhờ được cập nhật theo nhiều con đường khác nhau
202
▪ Tiết kiệm thời gian tìm kiếm tài liệu
▪ Dễ dàng và nhanh chóng chia sẻ dữ liệu cho người khác
▪ Khả năng bảo mật cao
▪ Cải thiện hiệu suất làm việc nhờ thông tin được tập hợp và truyền tải kịp thời, nhanh chóng
▪ Giảm tối đa chi phí vận hành, quản lý
Những nguyên tắc cần quan tâm
Nguyên tắc 1 - Tận dụng mọi nguồn tài nguyên từ internet và nguồn lực nội sinh
Có thể nói, chỉ với một chiếc máy tính được nối mạng, mỗi con người trong thời đại này
đều có thể biết được mọi thơng tin trên tồn thế giới, ít nhất là từ góc độ lý thuyết. Nhân loại
ngày càng chia sẻ nhiều hơn những gì họ biết được qua internet và cố gắng thương mại hóa
chúng càng nhiều càng tốt. Với phương thức thanh toán qua mạng, điều này ngày càng diễn ra
thuận lợi hơn. Hiện nay, Google có thể coi là cơng cụ khơng giới hạn giúp người học, nhà
nghiên cứu truy tìm, tải về và sử dụng nguồn tài nguyên vô tận trên giao thức internet. Là một
cơng cụ tìm kiếm mạnh mẽ hàng đầu hiện nay, Google có thể coi là một cỗ máy tìm kiếm đa
năng, khá đáng tin cậy. Tuy nhiên, bên cạnh việc tìm kiếm nguồn tài liệu có từ internet, cũng
cần có sự quan tâm nhất định đến việc tạo những nguồn tài liệu nội sinh
Nguyên tắc 2 - Nhận diện trí thơng minh học tập của bản thân
Người học phải nhận diện được con người học tập của bản thân. Theo quan điểm của
Howard Gardner, có 8 loại trí thơng minh trong học tập, ứng với mỗi trí thơng minh là những
cách tìm hiểu và tiếp cận khác nhau với thế giới này:
203
Việc tìm kiếm và nhận diện được con người học tập của bản thân giúp mỗi người
tối ưu hóa được q trình cũng như cách học tập của chính mình. Điều này sẽ giúp mỗi
người tự xây dựng được cho bản thân cách thức học tập, nghiên cứu phù hợp nhất, đồng
thời cũng tìm ra được cách tương tác thơng qua sự hỗ trợ của truyền thơng đa phương tiện
thích hợp nhất.
Nguyên tắc 3 - Tự học thông qua việc nhận diện những đòi hỏi của thực tế
Người học cần liên tục nhận diện nhu cầu đòi hỏi của xã hội để nhanh chóng đáp
ứng được những địi hỏi đó. Đây cũng là một đòi hỏi mà các đơn vị sử dụng nhân lực đặt
ra hết sức cấp thiết đối với các cơ quan đào tạo như trường đại học, trường dạy nghề. Dù
có cố gắng thế nào thì khả năng đáp ứng của đơn vị đào tạo cũng chỉ có thể đáp ứng phần
nào những yêu cầu trên. Phần còn lại, mỗi người học phải tự trang bị cho mình thay vì
chờ đợi và ốn thán trường khơng dạy cho mình. Đó cũng là tính cấp thiết của việc tự học
ngày nay. Khoảng trống của tri thức này có thể được bù đắp thông qua việc cập nhật những
khuynh hướng công việc, việc tự đào tạo các kỹ năng vốn có thể được rèn luyện thơng qua
các khóa học từ xa mua trên internet.
3. Đặc điểm, phạm vi áp dụng phòng học đa phương tiện
Việc xây dựng phòng học đa phương tiện có thể coi là tạo ra một hệ sinh thái tương đối
hoàn chỉnh nhằm phục vụ những nhu cầu khác nhau của người sử dụng. Phòng học đa phương
tiện được xây dựng với mục tiêu biến một căn phịng học hay làm việc bình thường với các
phương tiện sẵn có nhưng rời rạc trở thành phịng làm việc đem lại hiệu ứng tối đa về mặt đa
phương tiện (âm thanh, hình ảnh, đồ họa,…). Đa phương tiện kết hợp năm loại phương tiện cơ
bản vào môi trường học tập và làm việc:
▪
▪
▪
▪
▪
Văn bản
Video
Âm thanh
Đồ họa
Hoạt hình
Năm loại phương tiện này khi được kết nối chặt chẽ với nhau sẽ cung cấp một công cụ
mới mạnh mẽ cho học tập và giảng dạy (phục vụ nhu cầu cá nhân hay nhóm).
Đặc điểm chính
Phần cứng (hardware):
▪
▪
▪
▪
▪
204
PC/ Laptop
TV/ máy chiếu
Màn chiếu
Máy in
Máy scan
▪ Micro
▪ Loa
Phần mềm (software):
▪ Hệ điều hành Windows 10 trở lên
▪ MS Office 365
▪ Phần mềm học tiếng Anh tương tác (đề xuất cài các chương trình học tiếng Anh
tương tác như Tell Me More English3 hay Rosseta Stone4 giúp người học kiểm tra được ngữ
âm của mình ngay trên máy tính
▪ Phần mềm biến file PDF thành file MS Word
▪ Công cụ dịch thuật trực tuyến (đề xuất sử dụng Google Translate để dịch tài liệu PDF
dưới 300 trang)
▪ Phần mềm InternetDownloadManager để tải các loại file văn bản và file multimedia
từ trên mạng xuống
Yêu cầu kết nối:
▪ Hình ảnh, video sẽ được kết nối từ laptop/PC ra màn hình TV/màn chiếu
▪ Micro/Camera được nối đồng bộ giữa Laptop + PC + TV + Projector
▪ Âm thanh từ laptop sẽ được xuất ra loa tạo âm thanh vòm
▪ Hình ảnh, kết quả đầu vào, đầu ra được kết xuất đồng bộ từ các thiết bị đầu vào, đầu
ra như: máy in, máy quét, Laptop, PC, TV, Projector
Phạm vi áp dụng trong thực tiễn
Đây là một mơ hình phịng đa phương tiện tương đối dễ setup đối với một cá nhân. Chỉ
cần có thêm một số trang bị bên cạnh máy tính, như: Micro/ Microphone + Loa + TV + Camera,
là có thể biến phịng làm việc có sẵn của các thầy cơ thành Phịng làm việc + Phịng Lab học
ngoại ngữ + Studio dạy học trực tuyến phục vụ nhu cầu:
▪ Cá nhân (giảng viên, học viên, sinh viên) tự học, tự nghiên cứu
▪ Nhóm (phục vụ thuyết trình và làm việc nhóm)
▪ Đơn vị (phịng họp, phịng chức năng…)
Tell Me More English là một trong những phần mềm học tiếng Anh tốt nhất trên thị trường hiện nay, nó được
đánh giá cao bởi người sử dụng và các giáo viên dạy tiếng Anh vì cơng nghệ nhận dạng giọng đọc và cá nhân hóa
khóa học ngơn ngữ. Phần mềm Tell Me More English đang được hơn 5 triệu khách hàng trên toàn thế giới tin cậy
sử dụng, được dùng trong hơn 10.000 học viện và các tổ chức hàng đầu thế giới như: chính phủ Mỹ, FBI, EDS,
Rice University, Toyota,… Tell Me More English cung cấp giải pháp học sâu, rộng và chất lượng hơn bất cứ phần
mềm học ngôn ngữ nào hiện nay. Tell Me More English kết hợp những nội dung có tính sáng tạo cao với lý thuyết
học tối ưu nhất. Các phương pháp của Tell Me More English là kết quả của hơn 20 năm nghiên cứu và phát triển
vốn đầu tư và là chương trình học ngơn ngữ có tính đột phá.
4
Rosetta Stone là chương trình học ngoại ngữ chuẩn quốc tế của Mỹ, có lịch sử 27 năm. Chương trình sử dụng trí
tuệ nhân tạo với cơng nghệ thu âm và phân tích giọng nói tiên tiến nhất hiện nay, giúp người học luyện khả năng
giao tiếp chuẩn giọng bản ngữ trong thời gian ngắn. Chương trình đã giúp hàng triệu người nói thành thạo ngơn
ngữ mới và được tin dùng bởi NASA, Bộ Ngoại giao Mỹ và rất nhiều tổ chức trên toàn thế giới.
3
205
Hiệu quả đạt được
Do các phương tiện kết nối được nêu trong giải pháp là những phương tiện tương đối
phổ biến, sẵn có, dễ trang bị cho nên sẽ khơng tốn quá nhiều kinh phí. Tuy nhiên, hiệu quả được
sẽ khá quan trọng vì phịng đa phương tiện này giúp hoạt động giảng dạy, học tập tăng thêm
những hiệu quả như sau:
▪ Làm cho hoạt động học tập, giáo dục trở nên thú vị, có mục đích và hiệu quả
▪ Đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông tin đa dạng của người học, người nghiên cứu
▪ Nâng cao hiệu quả học tập và làm việc
▪ Giảm bớt giáo viên khỏi các nhiệm vụ thơng thường
▪ Có khả năng cung cấp lợi thế của cả học tập nhóm và cá nhân
▪ Tăng hiệu quả học tập (đặc biệt là trong bối cảnh xã hội vừa giãn cách do Covid-19
kéo dài)
▪ Hấp dẫn hơn so với phòng làm việc truyền thống
▪ Cung cấp tiềm năng đáng kể trong việc cải thiện các nỗ lực truyền thông cá nhân,
giáo dục và đào tạo
▪ Giảm chi phí mua mới trang thiết bị
▪ Dễ sử dụng
4. Một số đề xuất
Để có thể triển khai ý tưởng về trang bị phòng học đa phương tiện vào hoạt động dạy
và học của cán bộ, giảng viên, học viên, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, rõ ràng những
gì được đề xuất trong khn khổ bài viết này là không đủ. Bởi lẽ chiếu theo các tiêu chuẩn của
hoạt động quản lý khoa học và công nghệ thì bài tham luận này, cùng lắm mới đề ra được những
tri thức cơ bản nhất, khái quát nhất về vai trị của hoạt động số hóa, chuyển đổi số cũng như vai
trị của các kênh truyền thơng đối với trong hoạt động học tập, nghiên cứu… Nói cách khác, tri
thức nêu trên mới dừng ở mức là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu cơ bản tự do. Lộ trình để
ra đời được sản phẩm phịng học đa phương tiện cần trải qua các giai đoạn như sau:
STT
GIAI ĐOẠN
SẢN PHẨM
CÁC BÊN
THAM GIA
HOẠT ĐỘNG
A
B
C
D
1
Nghiên cứu cơ
bản thuần túy
(Pure FR)
Bài viết đề xuất ý
tưởng
Tác giả tham luận
Tổng kết khuynh hướng
chuyển đổi số, đánh giá
những lợi ích cũng như khả
năng chuyển đổi số đối với
học tập và nghiên cứu
2
Nghiên cứu cơ
bản định hướng
(Applied FR)
Báo cáo về nhu
cầu, năng lực học
tập, nghiên cứu
trong bối cảnh
Cán bộ quản lý
Giảng viên
Sinh viên, học
viên quan tâm đến
Nghiên cứu nhằm nhận diện
nhu cầu, năng lực học tập
của các bên đã nêu cột C
trong bối cảnh chuyển đổi
206
STT
GIAI ĐOẠN
SẢN PHẨM
CÁC BÊN
THAM GIA
HOẠT ĐỘNG
chuyển đổi số…
chủ đề chuyển đổi số số
3
Nghiên cứu ứng
dụng (AR)
Mơ hình phịng
học, phịng làm
việc đa phương
tiện (cho cá nhân,
nhóm…)
Ban Lãnh đạo
Cơng ty nghiên
cứu, triển khai nhà
thông minh
Trên cơ sở những chủ
trương, yêu cầu về các loại
hình phịng học, phịng làm
việc cụ thể Ban Lãnh đạo đề
xuất, rất cần đối tác là
những công ty phát triển
nhà thơng minh có năng lực
nghiên cứu và phát triển mạnh
mẽ để biến các yêu cầu thành
các sản phẩm cụ thể
4
Triển khai Thực nghiệm
(R&D)
Phòng học đa
phương tiện (thử
nghiệm)
Ban Lãnh đạo
Đội ngũ vận
hành phòng học
Lực lượng sử
dụng phòng học
Triển khai thử nghiệm
phòng học đa phương tiện,
đánh giá những ưu điểm,
hạn chế của nó để các cơng
ty nhà thơng minh hồn
thiện, chỉnh sửa trước khi áp
dụng rộng rãi
5. Kết luận
Với xu hướng hiện nay, chuyển đổi số đã tạo ra những căn nhà, căn phịng thơng minh,
khơng chỉ có năng lực nhận lệnh và điều khiển hồn tồn bằng giọng nói, chỉnh nhiệt độ, ánh
sáng sao cho phù hợp nhất với chủ nhà mà cịn có thể thỏa mãn tối đa nhu cầu phong phú và đa
dạng của người học tập, làm việc trong căn phịng đó. Mong rằng một số nhận định ban đầu của
người viết sẽ góp phần tạo ra một phịng học thơng minh vận hành vừa theo Số hóa dữ liệu
(Digitization) và Số hóa quy trình (Digitalization). Trong đó, phịng học, phịng làm việc đa
phương tiện có thể coi là bước đi đầu tiên của q trình hưởng lợi, làm quen với mơi trường số
hóa. Và tồn bộ q trình số hố lại là bước chuẩn bị cho một bước chuyển mình quan trọng
hơn của hoạt động học tập - chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Xây dựng phòng học đa phương tiện sẽ góp phần biến hoạt động học tập, nghiên cứu
nhàm chán trước bối cảnh thông tin bùng nổ như hiện nay trở nên thú vị, hấp dẫn vì được tiếp
xúc với nhiều kênh thơng tin hơn. Mặt khác, phịng học này cũng có thể giúp người học biến
quá trình học tập của mình trở nên chủ động, tích cực hơn, tiệm cận hơn đến việc học theo
phương pháp nghiên cứu khoa học hơn.
207
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Thông tin - Truyền thông (2021), Cẩm nang chuyển đổi số, NXB Thông tin và
Truyền thông.
2. Bransford, J. D., Brown, A. L., & Cocking, R. R. (Eds.). (1999), How people learn.
Washington, DC: National Academy Press.
3. Ebner, M., & Holzinger, A. (2007), Successful implementation of user-centered game
based learning in higher education: an example from civil engineering. Computers and
Education, 49(3), 873-890.
4. Mayer, R E. (2009), MultiMedia Learning, 2nd edition, Cambridge University Press.
5. Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt
“Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
208