ĐỔI MỚI CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC TRƯỚC BỐI CẢNH
CỦA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Nguyễn Thu Hà
Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Tri thức con người là một nguồn lực không bao giờ cạn và được tái sinh với
chất lượng ngày càng cao hơn. Chính vì vậy, khơng phải ngẫu nhiên mà những nhà quản trị
nguồn nhân lực hàng đầu thế giới cho rằng: “Con người là tài sản quan trọng nhất của chúng
ta” (Susan R. Meisinger, 2011) và “Lợi thế cạnh tranh bền vững duy nhất trong tương lai chính
là nguồn nhân lực” (Kathleen Barclau - Thomas Thivierge, 2007). Điều này xuất phát từ vai
trị vơ cùng quan trọng của nguồn nhân lực, đây được xem là động lực phát triển của địa
phương, là nhân tố đáp ứng yêu cầu cải cách công vụ, công chức cũng như việc tinh giản bộ
máy hành chính. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, tồn cầu hóa đã mang lại những thay đổi
nhanh chóng trong cuộc sống của chúng ta, đặt ra những thách thức to lớn trong các khía cạnh
xã hội, chính trị, văn hóa, kinh tế và mơi trường. Vì vậy, đổi mới chất lượng giáo dục tại các
trường đại học sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng, đào tạo ra một đội ngũ
nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho xã hội. Bài viết dưới đây sẽ tập trung chủ yếu phân
tích thực trạng đào tạo nguồn nhân lực tại các trường đại học từ đó đề xuất các giải pháp nhằm
đổi mới phương pháp đào tạo trước bối cảnh chuyển đổi số và tác động của Cuộc cách mạng
cơng nghiệp lần thứ tư.
Từ khóa: nguồn nhân lực, giáo dục đại học, Cách mạng công nghiệp 4.0
1. Đặt vấn đề
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã mang lại những thay đổi to lớn trong đời sống xã hội,
từ đó đặt ra những yêu cầu mới trong việc đổi mới phương pháp đào tạo, giáo dục. Trong đó, vai
trị của các trường đại học sẽ đóng vai trị quan trọng, khơng chỉ đơn thuần là cơ sở đào tạo, giảng
dạy kiến thức, rèn luyện kỹ năng, mà phải nhằm phát triển các phẩm chất, năng lực của người học.
Giáo dục phải tạo cơ hội để người học tiếp cận và trau dồi các kỹ năng sống, nuôi dưỡng các giá
trị và thái độ để hướng đến một tương lai tốt hơn cho tất cả mọi người, đồng thời thúc đẩy đổi mới
và sáng tạo cho người học, đáp ứng những yêu cầu đặt ra cho công dân trong thời đại mới. Cách
tiếp cận này không chỉ liên quan đến cá nhân, mà cả cộng động, xã hội và tồn cầu.
Thực tiễn cho thấy, q trình đào tạo tại một số trường đại học đang thiếu những kỹ
năng mềm. Kiến thức (lý thuyết, lý luận) có thể giỏi, nhưng kiến thức thực tiễn, kỹ năng diễn
đạt, diễn thuyết, hợp tác làm việc nhóm, chia sẻ ý tưởng, làm việc dưới áp lực lớn, kỹ năng thực
hành, làm việc theo quy trình cịn hạn chế. Do đó, hiệu quả cơng việc chưa cao, mất đi nhiều
cơ hội, khơng có khả năng cạnh tranh với nguồn nhân lực nước ngoài (những vị trí quan trọng
như: quản lý, vị trí có thu nhập cao). Điều này xuất phát từ mơ hình, mục tiêu và phương pháp
đào tạo, một số cơ sở đào tạo còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành - kỹ năng, ít chú trọng
hình thành các kỹ năng, nhất là các kỹ năng mềm, khi ra trường, người lao động thiếu kỹ năng,
doanh nghiệp sử dụng phải mất thời gian đào tạo thêm (thậm chí là đào tạo lại). Do đó, cơng
175
tác đào tạo đại học trong thời gian tới cần phải được đặt trong môi trường, điều kiện thực tiễn
và yêu cầu của sự phát triển chung của ngành và xã hội.
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 là cuộc cách mạng dựa trên nền tảng công nghệ số
nhằm xây dựng thế giới siêu kết nối và tích hợp các cơng nghệ thơng minh để tối ưu hóa quy
trình, phương thức sản xuất. Những công nghệ đột phá, tiên tiến nhất hiện nay là: Trí tuệ nhân
tạo (AI), Dữ liệu lớn (Big Data), Công nghệ in 3D, Xe tự lái, Người máy cao cấp, Internet kết
nối vạn vật (IoT), Công nghệ nano, Công nghệ vật liệu mới và cảm biến, Công nghệ sinh học...
Thành tựu của Cách mạng công nghiệp 4.0 đã tạo cơ hội cũng như đặt ra yêu cầu tất yếu phải
xây dựng nền giáo dục 4.0 [2]. Theo đó, giáo dục trở thành một hệ sinh thái mà mọi người có
thể cùng học tập mọi lúc, mọi nơi với các thiết bị được kết nối. Các trường đại học, các tổ chức
giáo dục trở thành một hệ sinh thái tạo sản phẩm sáng tạo mang tính cá thể, với kiến thức và
năng lực đổi mới, sáng tạo riêng của cá nhân.
Các trường đại học đóng vai trị quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong nền kinh tế tri thức, nhân lực chính là nguồn tài ngun
vơ tận. Trong đó, nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận của nguồn nhân lực, là những
người có trình độ học vấn và chun mơn kỹ thuật cao, có năng lực, có kỹ năng lao động giỏi
và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của xã hội, có khả năng làm
việc hiệu quả, khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào
quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao. Phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn
nhân lực biểu hiện ở sự hình thành và hồn thiện từng bước về thể lực, kiến thức, kỹ năng, thái
độ và nhân cách nghề nghiệp đáp ứng những nhu cầu hoạt động, lao động của cá nhân và sự
phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương nói riêng và của đất nước nói chung.
2. Thực trạng chất lượng đào tạo tại các trường đại học
Q trình tồn cầu hóa địi hỏi các quốc gia muốn tiến vào cuộc Cách mạng công nghiệp
4.0 cần phải có một nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng ứng dụng những tiến bộ khoa
học công nghệ của cuộc cách mạng vào thực tiễn sản xuất để có thể đáp ứng được yêu cầu phát
triển đặt ra. Vì thế, ngay từ trên giảng đường đại học, nhà trường, các thầy cô giáo phải giúp
cho sinh viên tích lũy tri thức về cơng nghệ thơng tin, cập nhật kịp thời và ứng dụng những tiến
bộ khoa học kỹ thuật mới nhất của thế giới vào cuộc sống, trang bị ngoại ngữ và các kỹ năng
mềm thì các em sinh viên khi ra trường mới có cơ hội cạnh tranh việc làm, mở ra cánh cửa để
bước vào sân chơi tồn cầu hóa. Giáo dục là một trong những lĩnh vực chịu sự tác động này
nhanh hơn cả bởi chính giáo dục cũng sẽ tạo ra những phiên bản mới của các cuộc cách mạng
công nghiệp tiếp theo. Công nghiệp 4.0 hứa hẹn những bước đột phá mới trong hoạt động đào
tạo, thay đổi mục tiêu đào tạo, mơ hình đào tạo truyền thống bằng cách chuyển tải và đào tạo
kiến thức hoàn toàn mới. Sự phát triển công nghệ thông tin, công cụ kỹ thuật số, hệ thống mạng
kết nối và siêu dữ liệu sẽ là những công cụ và phương tiện tốt để thay đổi cách thức tổ chức và
phương pháp giảng dạy.
Trong đó, giải pháp đổi mới phương pháp dạy học được xem là khâu vô cùng quan trọng
hiện nay ở tất cả các cơ sở giáo dục. Có thể nói rằng, đổi mới phương pháp giảng dạy không
176
phải là thay đổi từ cách giảng dạy này bằng cách giảng dạy khác mà là sử dụng những phương
pháp dạy và học hiện tại như thế nào để tạo ra được những giờ học có hiệu quả thật sự. Tự thân
từng phương pháp giảng dạy sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu nó khơng được vận dụng một cách
đúng lúc, đúng nơi và đúng đối tượng. Thực trạng quá trình dạy học ngày nay tại các trường
đại học vẫn cịn một số tồn tại như:
Thứ nhất, chương trình học còn nặng với thời lượng lớn. Một thống kê và so sánh cho
thấy, thời gian học 4 năm ở một lớp đại học tại Việt Nam là 2.138 giờ so với Mỹ là 1.380 giờ [1].
Như vậy, chương trình học ở Việt Nam dài hơn 60% so với Mỹ. Thời gian học nhiều như vậy
nên người học khó tránh khỏi việc rơi vào trạng thái ln bị áp lực hồn thành các chương trình
mơn học, ít có thời gian để tự học, tự nghiên cứu, hoặc tham gia các hoạt động xã hội khác. Nhìn
chung, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chương trình giáo dục đại học tại Việt Nam hiện nay đã
cải cách dạy và học theo hệ thống tín chỉ; tuy nhiên, trên thực tế, khả năng liên thông kiến thức
giữa các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế, ít thừa nhận và tiếp nhận
các kết quả đào tạo của nhau, nên người học rất khó khăn khi chuyển trường, ngành học.
Thứ hai, về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học đại học. Mặc dù, những năm gần
đây, theo chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhiều trường đại học, cao đẳng trong cả nước
đã áp dụng phương pháp dạy học tích cực, dựa trên nền tảng công nghệ, với quan điểm: “Lấy
người học làm trung tâm”, đề cao vai trò của người học, tạo điều kiện tối đa cho người học có thể
tự học, tự nghiên cứu. Tuy nhiên, tính chủ động của sinh viên vẫn còn yếu kém, kỹ năng xử lý
vấn đề đặt ra trong cuộc sống chưa được vận dụng vào tiễn. Sự đổi mới về phương pháp giảng
dạy trong các trường đại học ở nước ta hiện nay nhiều khi chỉ mang tính hình thức. Các thiết bị
giảng dạy, như máy chiếu, video... chỉ là phương tiện hỗ trợ để nâng cao chất lượng giảng dạy,
điều quan trọng hơn cả là sự nhận thức rằng giáo dục phải mang tính sáng tạo, tinh thần trách
nhiệm thể hiện qua việc cải tiến về phương pháp và chương trình học vẫn chưa được chú trọng.
Thứ ba, việc đổi mới phương pháp dạy học phải tổ chức triển khai có mục tiêu và lộ
trình rõ ràng. Muốn đổi mới phương pháp giảng dạy nhưng lại tổ chức triển khai thiếu phương
pháp và vội vàng sẽ phản tác dụng, hiện nay các trường đại học, cao đẳng người dạy đã sử dụng
rất nhiều các phương pháp dạy học như: dạy học dựa trên vấn đề (problem-based learning), dạy
học dựa trên dự án (project-based learning), nghiên cứu trường hợp điển hình (case study), thảo
luận nhóm (group discussion), dạy học mô phỏng (simulation teaching), phương pháp
seminar… nhưng cách hiểu và vận dụng các phương pháp này như thế nào để mang lại hiệu
quả thì cịn chưa thực sự thống nhất. Đơn cử có một số trường, phong trào đổi mới phương pháp
giảng dạy được quy chiếu về một khía cạnh hồn tồn kỹ thuật là sử dụng trang thiết bị hiện
đại phục vụ giảng dạy. Chẳng hạn, nhiều nơi lao vào phong trào triển khai việc sử dụng các
phương tiện hỗ trợ trực quan như: overhead projector, LCD projector, 3D presentation projector
trong giảng dạy một cách ồ ạt, vừa lãng phí chi phí đầu tư vừa làm méo mó bản chất của hoạt
động đổi mới phương pháp giảng dạy, gây ra những hiệu ứng phản cảm trong người học [5]. Ở
Việt Nam hiện nay, ngay chính trong ngành giáo dục, kể cả ở bậc giáo dục đại học, đang tồn
tại những nhầm lẫn hết sức kỳ lạ như nhầm lẫn “bài giảng sử dụng phần mềm trình chiếu
PowerPoint” thành “bài giảng điện tử”, “giáo trình điện tử”, thậm chí có nơi cịn gọi đó là “giáo
án điện tử”… chưa kể học “trực tuyến qua mạng” và “học từ xa”…
177
Thứ tư, chưa có sự gắn kết giữa nhà trường với doanh nghiệp, nhà tuyển dụng. Hiện
nay, việc đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp diễn ra rất nhanh, trong khi chương trình
đào tạo ở rất nhiều trường hiện nay vẫn chưa bắt kịp được nhu cầu thực tế từ phía các doanh
nghiệp. Đã từ lâu, các chuyên gia giáo dục Việt Nam cảnh báo về tình trạng chương trình giảng
dạy ở các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam vẫn chưa bám sát với nhu cầu thực tế, khiến
các sinh viên khi tốt nghiệp vẫn khó có thể xin được việc làm theo đúng ngành/chuyên ngành
được đào tạo. Các chương trình đào tạo thường được giảng dạy hết năm này qua năm khác,
trong khi nhu cầu của doanh nghiệp thay đổi theo từng năm. Nguyên nhân này có thể là do các
cơ sở đào tạo vẫn chưa xác định được khoảng cách giữa cung (tăng rất chậm) và cầu (đang ngày
càng tăng nhanh) do chưa có sự phân tích nhu cầu lao động cũng như yêu cầu của thị trường
lao động về chất lượng lao động. Do đó, một hệ thống phân tích nhu cầu lao động từ phía doanh
nghiệp cũng như cập nhật liên tục các yêu cầu của thị trường lao động về chất lượng lao động
là rất cần thiết, từ đó các cơ sở đào tạo có thể có những điều chỉnh cần thiết trong nội dung
chương trình đào tạo để từng bước giảm sự mất cân đối giữa đào tạo và sử dụng lao động, đứng
từ góc độ các cơ sở đào tạo.
Ngồi ra, sự chuyển dịch mơ hình cũng như cơ cấu của nền kinh tế đã khiến cho cung
và cầu trong lao động liên tục thay đổi, trong khi các ngành đào tạo trong nhà trường vẫn chưa
bắt kịp được xu hướng sử dụng lao động của doanh nghiệp (Minh Ngọc, 2018). Nguyên nhân
là do sự chưa nhạy bén của các cơ sở đào tạo, sự chưa chủ động trong việc kết nối giữa cơ sở
đào tạo và thị trường lao động trước bối cảnh chuyển dịch mơ hình và cơ cấu của nền kinh tế
cũng như các xu hướng thay đổi liên tục của thị trường lao động.
3. Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo tại các trường đại học trước
bối cảnh của Cách mạng công nghiệp 4.0
Một là, chuyển đổi cơ cấu đào tạo và điều chỉnh chương trình đào tạo, các cơ sở giáo
dục ở Việt Nam cũng cần điều chỉnh chương trình đào tạo để bám sát hơn với nhu cầu thị trường
để giảm thiểu thời gian buộc các doanh nghiệp phải đào tạo bổ sung để có thể làm việc được.
Các cơ sở đào tạo ở Việt Nam nói chung cần phải nghiên cứu, rà soát, và triển khai đo lường
kết quả thực tập tốt nghiệp ứng với các bậc học cao đẳng và đại học, dựa trên các thang đo phù
hợp khi xây dựng thang đo về kết quả của thực tập tốt nghiệp như sau: (1) tổng hợp và vận dụng
kiến thức và kỹ năng thu nhận từ nhà trường vào thực tiễn, (2) tiếp tục phát triển các kiến thức
và kỹ năng chuyên nghiệp, (3) thay đổi thái độ và hành vi đối với việc học tập, (4) tạo mối quan
hệ với cộng đồng doanh nghiệp, xã hội bên ngoài nhà trường, (5) điều chỉnh lại định hướng
nghề nghiệp. Hơn nữa, cơ cấu đào tạo cũng cần phải chuyển đổi theo hướng gia tăng các chương
trình đào tạo theo hướng ứng dụng kết hợp với việc phát triển các trung tâm/lồng ấp khởi nghiệp
ở các cơ sở đào tạo.
Hai là, đổi mới phương pháp dạy học phải bắt nguồn từ yêu cầu học tập của người học,
đòi hỏi sinh viên phải chủ động nhiều hơn trong việc học, với nguồn tài liệu đa dạng và phong
phú. Bản thân sinh viên (người học) phải cảm thấy tự hứng thú với việc học, muốn tự tìm tịi,
nghiên cứu thay vì dựa vào trí nhớ, “cầm tay chỉ việc”. Cơng việc này địi hỏi người học phải
có phương pháp học tập mới đó là “phương pháp học tập tích cực” hay cịn gọi là “học đi đôi
với hành” hay “Tôi nghe, tôi sẽ qn. Tơi nhìn, tơi sẽ nhớ. Tơi làm, tơi sẽ hiểu” [8]. Có nghĩa
178
là, trong mỗi tiết học, nếu người giảng viên biết kết hợp vận dụng linh hoạt các phương pháp
vừa sao chép, vừa phân tích, sáng tạo và người học được thực hành ứng dụng thì giờ học đó
chắc chắn sẽ có hiệu quả tốt. Do đó, đổi mới phương pháp dạy - học là một hoạt động mang
tính liên tục và sẽ khơng bao giờ có điểm dừng. Phương pháp này nhấn mạnh quá trình học tập
và tiếp thu chứ không chú trọng đến kết quả học tập. Đây cũng là phương pháp giúp cho người
học phát triển kỹ năng tự học và kỹ năng giải quyết vấn đề.
Ba là, các trường đại học khi đổi mới phương pháp giáo dục đại học phải gắn liền với
nền tảng công nghệ kỹ thuật số như: dạy học trực tuyến E-learning, phương pháp giáo dục tích
hợp khoa học, cơng nghệ, kỹ thuật và toán học (Giáo dục STEM) [6]... Đồng thời, các trường
cần đẩy nhanh q trình chuyển đổi số, đón đầu áp dụng công nghệ mới. Chuyển đổi số phải
bảo đảm 4 yếu tố, bao gồm: trao quyền cho giảng viên; tương tác với sinh viên; tối ưu hóa tổ
chức và đổi mới phương pháp. Quá trình chuyển đổi số ở trường đại học diễn ra ở cả ba giai
đoạn, bao gồm: (i) lập kế hoạch; (ii) xây dựng chiến lược một cách độc lập và thực hiện các đổi
mới sáng tạo; (iii) giám sát tác động của việc triển khai công nghệ.
Cuối cùng, bên cạnh các định hướng giải pháp dựa vào các nguyên nhân của vấn đề, về
phía nhà trường, cần phải nâng cao năng lực ngoại ngữ của người học trong xu hướng quốc tế
hóa giáo dục ngày càng đóng vai trị tất yếu. Năng lực ngoại ngữ của người học còn hạn chế
hiện nay cũng là nhân tố làm gia tăng khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng lao động. Khi năng
lực ngoại ngữ của người học bị hạn chế, các cơ sở đào tạo sẽ rất khó triển khai các chương trình
học tiên tiến mang tính quốc tế hóa cho người học, người học cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn
trong việc tiếp nhận kiến thức mới từ mơi trường bên ngồi và cũng như vận dụng kiến thức đã
học từ nhà trường vào thực tế trong tương lai khi bối cảnh thị trường lao động đang ngày càng
quốc tế hóa. Khơng những vậy, cơ sở đào tạo cũng cần nghiên cứu, phát triển và mở rộng các
hoạt động thực tập cho sinh viên ở nước ngồi, bởi vì hoạt động này sẽ nâng cao năng lực ngoại
ngữ, tạo dựng các mối quan hệ quốc tế, phát triển kỹ năng làm việc của người học khi tiếp cận
với thị trường lao động quốc tế.
4. Kết luận
Văn Kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII tiếp tục khẳng định: “Giáo dục là quốc
sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển
toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Phát
triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội” [3]. Vì vậy, đổi mới
phương pháp dạy học là vai trị quan trọng trong q trình giáo dục tại các trường đại học nhằm
tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người học, ý thức và nhân cách
công dân; khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời. Sinh viên sẽ có khả năng lựa chọn nghề
nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hồn cảnh của bản thân để tiếp tục học
lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động; khả năng thích ứng với những đổi thay
trong bối cảnh tồn cầu hóa và cách mạng cơng nghiệp mới, từ đó đóng góp cho sự phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước./.
179
Tài liệu tham khảo
1. Agre, E. (2015), Information technology in higher education: The “Global Academic
Village” and intellectual standardization, The Horizon.
2. Nguyễn Cúc (2017), Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đối với cơ sở
giáo dục đại học ở Việt Nam và gợi ý chính sách cho Việt Nam, Học viện Chính trị khu vực I,
số 03/2017, tr.16.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ XIII,
t.1, NXB Chính trị Quốc gia.
4. Michael Losey - Sue Meisinger - Dave Ulrich (2011), The future of human resource
management, NXB Thời đại, tr.105.
5. Nguyễn Đắc Hưng (2017), Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và vấn đề đặt ra
với giáo dục Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân.
6. Đặng Vũ Hoạt (2013), Giáo trình Lý luận dạy đại học, NXB Thống kê, Hà Nội.
7. Phùng Xuân Nhạ (2018), Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư, NXB Đại học Vinh.
8. Minh Ngọc (2018), Việt Nam cần giảm thiểu khoảng cách giữa giáo dục nghề nghiệp
và nhu cầu của thị trường lao động, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 02/2018, tr.35.
180