Tải bản đầy đủ (.pdf) (10 trang)

Số hóa trong công tác quản lý sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật - Đại học Đà Nẵng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (332.07 KB, 10 trang )

SỐ HĨA TRONG CƠNG TÁC QUẢN LÝ SINH VIÊN NGOẠI TRÚ TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Nguyễn Hữu Thành
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật - Đại học Đà Nẵng
Tóm tắt: Cơng tác quản lý sinh viên giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động
quản lý quá trình đào tạo và nâng cao chất lượng quá trình đào tạo ở các trường đại học và
giáo dục chuyên nghiệp. Trong đó, quản lý sinh viên ngoại trú là một trong những vấn đề được
sự quan tâm, lo lắng của nhà trường, gia đình và cả xã hội.
Trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, việc đổi
mới, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đang trở thành vấn đề cấp bách. Trong
những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT), các tổ chức quản lý giáo dục đặc biệt
quan tâm tới công tác sinh viên, hàng loạt những quy định, quy chế trong công tác sinh viên
được sửa đổi và ban hành nhằm nâng cao chất lượng quản lý, giáo dục sinh viên đáp ứng yêu
cầu của việc cung cấp nguồn nhân lực trong thời kỳ mới.
Việc quản lý sinh viên ngoại trú là một vấn đề phức tạp, luôn được nhà trường, gia đình
và tồn xã hội quan tâm, lo lắng. Bài viết trình bày thực trạng và đề xuất một số biện pháp
nhằm số hóa trong cơng tác quản lý sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật
- Đại học Đà Nẵng
Từ khóa: cơng nghệ thơng tin, tăng cường, quản lý, sinh viên, ngoại trú.
1. Đặt vấn đề
Quản lý sinh viên là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của hệ thống tổ chức
quản lý sinh viên thông qua các quy định, quy chế, các chính sách và bằng các phương pháp,
biện pháp cụ thể, với những nội dung cụ thể nhằm đạt được các mục đích và u cầu.
Giáo dục ln là vấn đề trung tâm của đời sống xã hội, vì nó quyết định tương lai của
mỗi con người cũng như của cả dân tộc. Xác định được vị trí và tầm quan trọng của giáo dục
nên trong chiến lược phát triển giáo dục, ngành Giáo dục đã và đang thực hiện đổi mới một
cách toàn diện và đồng bộ. Một trong những đổi mới cơ bản, quan trọng, cấp thiết của giáo dục
hiện nay là đổi mới công tác quản lý giáo dục.
Trong hoạt động quản lý của các trường đại học, quản lý sinh viên (QLSV) giữ vai trò
đặc biệt quan trọng bởi sinh viên là đối tượng của quá trình đào tạo. Quản lý được đối tượng
này sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Trong nội dung


QLSV có nội dung QLSV ngoại trú. QLSV ngoại trú là vấn đề phức tạp, luôn nhận được sự
quan tâm, lo lắng của nhà trường, gia đình và tồn xã hội. Bởi sinh viên ngoại trú sinh sống
rải rác trên nhiều địa bàn rộng lớn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mắc các tệ nạn xã hội, là đối
tượng dễ bị kích động, lơi kéo tham gia vào các hoạt động âm mưu diễn biến hòa bình của

103


các thế lực thù địch, gây mất an ninh trật tự. Công tác QLSV ngoại trú đã và đang gặp phải
những khó nhất định liên quan đến: tình hình an ninh chính trị thế giới và khu vực có nhiều
diễn biến phức tạp, việc chuyển đổi hình thức đào tạo của nhà trường theo học chế tín chỉ,
số lượng sinh viên ngoại trú của trường quá đông, nhiều sinh viên có thói quen thay đổi chỗ
ở, một số nhà trọ khơng có chủ nhà trực tiếp QLSV,… ảnh hưởng khơng nhỏ đến công tác
quản lý và giáo dục sinh viên.
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật hiện nay có hơn 750 sinh viên (trong tổng số trên
4.000 sinh viên) được ở nội trú (chiếm 18,2%). Như vậy, còn 82,8% sinh viên đang ở ngoại trú
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Sinh viên của trường chủ yếu ngoại trú tại các phường trên địa
bàn quận Hải Châu, Thanh Khê... Trong nhiều năm qua, Nhà trường đã làm tốt công tác QLSV
ngoại trú, tuy nhiên, khi chuyển đổi mơ hình đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ, cơng tác
QLSV ngoại trú của nhà trường đang đứng trước những khó khăn, thách thức nhất định.
2. Nội dung
2.1. Thực trạng công tác quản lý sinh viên ngoại trú
Công tác sinh viên là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, chủ yếu trong tồn bộ q
trình tổ chức đào tạo ở các trường đại học. Xác định rõ tầm quan trọng, ý nghĩa của công tác
sinh viên, Đảng và Nhà nước rất quan tâm tới công tác sinh viên. Cùng với sự chỉ đạo thay đổi
Luật Giáo dục cho phù hợp với thực tiễn giáo dục và sự phát triển của kinh tế - xã hội.
Xuất phát từ nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong thời đại 4.0, xác định được tầm
quan trọng của công tác QLSV ngoại trú, Đảng uỷ và Ban Giám hiệu Nhà trường đã thường
xuyên quan tâm chỉ đạo sát sao và tích cực triển khai, thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị
quyết của cấp trên về tăng cường, đảm bảo công tác an ninh trật tự, giữ vững nền nếp, kỷ

cương trường học, quy chế nội, ngoại trú của Bộ -Giáo dục và Đào tạo. Nhà trường đã xác
lập được mối quan hệ tốt với chính quyền địa phương nơi sinh viên cư trú, đặc biệt là với
cảnh sát khu vực.
Với tính chất phức tạp của công tác QLSV ngoại trú và hướng đến mục tiêu đào tạo con
người toàn diện, trong thời gian qua, Nhà trường từng bước đầu tư kinh phí, tăng cường lực
lượng cho công tác QLSV ngoại trú. Hiện nay, công tác QLSV ngoại trú thuộc chức năng,
nhiệm vụ của Phịng Cơng tác sinh viên, chỉ đạo trực tiếp hoạt động của Phịng Cơng tác sinh
viên là Phó Hiệu trưởng, Nhà trường cử một cán bộ chuyên trách công tác sinh viên ngoại trú.
Hàng tháng, cán bộ chuyên trách đến nắm tình hình ở các phường có đơng sinh viên thuê trọ
một lần và lập kế hoạch, tổ chức phối hợp với các tổ chức đồn thể, cơng an phường duy trì
việc kiểm tra thường kỳ và đột xuất đối với sinh viên ngoại trú.
Công việc QLSV ngoại trú bao gồm: Lập kế hoạch hàng năm để thực hiện công tác
QLSV ngoại trú, phổ biến các quy định của Bộ GD-ĐT, Nhà trường về công tác ngoại trú của
sinh viên, hướng dẫn và tư vấn thủ tục đăng ký tạm trú ngay từ khi nhập học. Phối hợp với tổ
chức Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, các tổ chức chính
104


trị - xã hội khác có liên quan để tư vấn, hỗ trợ, giúp đỡ, tổ chức thực hiện công tác sinh viên
ngoại trú. Phối hợp với chính quyền địa phương, cơ quan cơng an, các ngành có liên quan nhằm
đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội cho sinh viên
ngoại trú. Lập sổ sinh viên ngoại trú, cập nhật đầy đủ, kịp thời việc thay đổi nơi cư trú của
sinh viên ngoại trú. Việc lập sổ sinh viên ngoại trú được thực hiện thông qua việc cho sinh
viên kê khai nơi tạm trú vào mẫu của Nhà trường, khi thay đổi chỗ ở, sinh viên phải báo
cáo với Nhà trường (trực tiếp là cán bộ phụ trách công tác sinh viên ngoại trú thuộc Phịng
Cơng tác sinh viên). Nhà trường giao cho lớp phó phụ trách đời sống trực tiếp QLSV ngoại
trú theo đơn vị lớp.
2.2. Đánh giá chung về công tác quản lý sinh viên ngoại trú tại Trường
2.2.1. Ưu điểm
Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường luôn đánh giá cao tầm quan trọng của công tác

QLSV ngoại trú, từ đó có sự chỉ đạo, lãnh đạo cơng tác QLSV ngoại trú của Nhà trường một
cách chính xác. Cán bộ liên quan đến công tác QLSV ngoại trú đã biết kế thừa những kinh
nghiệm trong QLSV của các thế hệ đi trước trong quá trình xây dựng và phát triển Nhà trường,
học hỏi kinh nghiệm QLSV ngoại trú của các trường đại học khác. Từ đó, họ có nhiều tham
mưu cho Ban Giám hiệu trong việc xây dựng kế hoạch, ban hành những quy định cụ thể, tạo
hành lang pháp lý cho công tác QLSV ngoại trú.
Cán bộ QLSV ngoại trú tâm huyết, đội ngũ cán bộ, giảng viên làm cố vấn học tập lớp
và đội ngũ cán bộ lớp, Đồn Thanh niên, Hội sinh viên nhiệt tình, năng nổ trong công tác phối
hợp QLSV ngoại trú. Sinh viên được phổ biến và quán triệt kịp thời, đầy đủ các quy chế của
Bộ GD-ĐT, quy định của Nhà trường đối với công tác sinh viên ngoại trú ngay từ khi nhập học.
Đây là một nội dung quan trọng trong “Tuần sinh hoạt công dân sinh viên”.
Nhà trường đã tạo được mối quan hệ tốt với địa phương, đặc biệt là phường Thanh Bình,
nơi trường đóng và các phường có đơng sinh viên của Trường cư trú. Trong cơng tác QLSV
ngoại trú, nhà trường có sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền, cơng an, tổ chức đồn thể xã
hội, gia đình cho sinh viên thuê trọ..., đặc biệt Nhà trường đã biết chọn đơn vị trực tiếp QLSV
là khối phố, dưới sự chỉ đạo, quản lý của Ủy ban nhân dân (UBND) phường để thiết lập mối
quan hệ và phối hợp QLSV ngoại trú.
2.2.2. Hạn chế
Phạm vi cũng như địa bàn ngoại trú của sinh viên rộng lớn, một bộ phận sinh viên ý
thức tự giác chưa cao, lại tạm trú trên nhiều địa bàn phức tạp về an ninh trật tự, về tệ nạn xã
hội, hộ gia đình cho th trọ lấy mục đích kinh doanh là chính. Cơ chế QLSV ngoại trú lại chưa
được hồn thiện, thống nhất, những tiêu cực từ đời sống xã hội ảnh hưởng đến quá trình học
tập và rèn luyện, nhất là sinh viên ngoại trú không được nhà trường quản lý trực tiếp, thường
xun. Vì vậy, cơng tác QLSV ngoại trú gặp nhiều khó khăn.

105


Việc phối hợp, quan hệ giữa Nhà trường với địa phương, nhất là những địa phương có
khoảng cách địa lý xa trường chưa được thường xuyên, liên tục. Điều này cũng dẫn đến khó

khăn nhất định cho việc QLSV ngoại trú của trường.
Chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên đánh giá chưa đồng đều. Năng lực quản lý
hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ cịn hạn chế, đặc biệt một số cán bộ quản lý trẻ còn
thiếu kinh nghiệm.
Việc tổ chức thực hiện Kế hoạch công tác QLSV ngoại trú của Nhà trường chưa thật
triệt để, công tác kiểm tra, đánh giá trong quy trình quản lý còn chưa thường xuyên và chưa kịp
thời. Cơ sở vật chất, kỹ thuật, thiết bị phục vụ chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động QLSV
nói chung và QLSV ngoại trú nói riêng.
2.2.3. Nguyên nhân của hạn chế
Trong khi Nhà trường phát triển nhanh về quy mô và loại hình đào tạo thì cơ chế QLSV
nói chung và QLSV ngoại trú nói riêng vẫn theo nếp cũ, chậm đổi mới dẫn tới tình trạng chưa
sâu sát, thực chất và kém hiệu quả.
Cơng tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý cho đội ngũ cán
bộ quản lý của Nhà trường chưa được quan tâm đúng mức. Cán bộ, giảng viên ít có điều kiện,
thời gian đi tham quan, học hỏi kinh nghiệm quản lý hoạt động này ở nước ngoài, học tập kinh
nghiệm của các trường bạn. Bên cạnh đó, phần lớn đội ngũ này lại chưa tự học tập bồi dưỡng
về chun mơn. Tình trạng đó dẫn đến việc QLSV ngoại trú của trường chưa đáp ứng được đòi
hỏi ngày càng phức tạp với tính chất ngoại trú của sinh viên.
Các quy định về chính sách tiền lương của Nhà nước cịn thấp, chế độ dành cho cán bộ,
viên chức và người lao động được cử đi học còn hạn chế, chưa tạo được sự cân bằng về thu
nhập đối với các ngành nghề ngồi xã hội, nên chưa kích thích tinh thần học tập của đội ngũ
cán bộ, công nhân, viên chức và người lao động.
Do điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp lại phải đầu tư giải quyết nhiều vấn đề
quan trọng khác nên kinh phí phân bổ cho cơng tác QLSV ngoại trú còn chưa thỏa đáng.
2.3. Một số biện pháp tăng cường công tác quản lý sinh viên ngoại trú tại Trường
2.3.1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giảng viên về tầm quan trọng của công tác quản
lý sinh viên ngoại trú
Tuyên truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy chế
của Bộ GD-ĐT trong chiến lược phát triển GD-ĐT, cũng như các yêu cầu đổi mới về QLSV
nói chung và QLSV ngoại trú nói riêng để cán bộ, giảng viên nhận thức đầy đủ và có quan

điểm đúng đắn, rõ ràng về vị trí, vai trị và tầm quan trọng của cơng tác QLSV ngoại trú, cụ
thể là: Phịng Cơng tác sinh viên và cán bộ quản lý xác định rõ vai trị, chức năng quản lý của
mình đối với QLSV ngoại trú; Cán bộ, giảng viên phải nhận thức rõ chức năng, nhiệm vụ

106


trong việc xây dựng, triển khai kế hoạch QLSV ngoại trú, tham mưu cho Đảng ủy, Ban Giám
hiệu những chủ trương, biện pháp phối hợp để tạo cơ chế đồng bộ trong QLSV ngoại trú. Tổ
chức có hiệu quả cơng tác tuyên truyền về các thành quả đạt được trong hoạt động QLSV
ngoại trú để phát huy, tác động đến lòng tự trọng, danh dự của cán bộ, giảng viên và sinh
viên, tạo dư luận ủng hộ công tác QLSV ngoại trú.
Tư vấn cho cán bộ, giảng viên xây dựng động cơ đúng đắn, thấy rõ việc QLSV ngoại trú là
trách nhiệm với đất nước, với ngành, với nhà trường, vì danh dự của bản thân, để theo kịp bước phát
triển chung, qua đó khẳng định mình ở mức độ cao hơn, để sinh viên cảm phục và tin yêu.
Làm tốt công tác giáo dục tư tưởng, tạo ra động lực cho tập thể, cá nhân trong hoạt động
QLSV ngoại trú. Thông qua tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục làm cho đội ngũ cán
bộ, giảng viên nhận thức rõ QLSV ngoại trú là đòi hỏi cấp bách của cơng cuộc đổi mới giáo
dục hiện nay.
2.3.2. Hồn thiện cơ chế chính sách về quản lý sinh viên ngoại trú
Nhà trường cần xây dựng cơ chế, chính sách để đảm bảo cho hệ thống QLSV ngoại trú
vận hành hiệu quả. Về chính sách, Nhà trường tiếp tục có sự chỉ đạo, lãnh đạo, định hướng công
tác QLSV ngoại trú theo chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước, Bộ GD-ĐT đối với sự
nghiệp GD-ĐT, trong đó có mục tiêu đào tạo toàn diện sinh viên.
Về cơ chế, Nhà trường cần tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí phục vụ
cho cơng tác QLSV ngoại trú, bổ sung nguồn nhân lực cho công tác này. Hiện nay, với một
biên chế tại Phịng Cơng tác sinh viên để phụ trách theo dõi, triển khai QLSV ngoại trú là bất
cập và chưa hiệu quả. Có giải pháp hỗ trợ, phụ cấp cho đội ngũ làm công tác QLSV ngoại trú
để đội ngũ này yên tâm công tác và thực hiện nhiệm vụ được giao.
2.3.3. Đổi mới quy trình quản lý sinh viên ngoại trú

a. Đổi mới xây dựng nội dung, hình thức, kế hoạch tổ chức thực hiện QLSV ngoại trú
Chỉ đạo việc xây dựng quy trình hướng dẫn sinh viên đăng ký tạm trú, tạm vắng, đăng
ký ngoại trú của sinh viên theo hướng đổi mới hình thức đào tạo, đáp ứng nội dung của Luật
Giáo dục Đại học, Luật Cư trú, Luật Thủ đô và phù hợp nội dung yêu cầu của Thông tư số
27/2009/TT-BGDĐT ngày 19/10/2009 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về việc ban hành Quy chế
ngoại trú của sinh viên đảm bảo tính chất cơ bản, khoa học, hiện đại, cập nhật thực tiễn.
Chỉ đạo đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình, kế hoạch QLSV ngoại trú theo học
kỳ, hàng năm và từng giai đoạn.
b. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào QLSV ngoại trú
Việc ứng dụng CNTT (chuyển đổi số hóa) vào QLSV ngoại trú sẽ giúp quản lý được
toàn bộ nội dung, hình thức và quy trình QLSV ngoại trú; cũng như theo dõi và cập nhật được
đầy đủ thông tin về sinh viên ngoại trú, tránh thực hiện thủ công.

107


Xây dựng đề án ứng dụng CNTT vào quá trình quản lý giáo dục, quản lý nhà trường và
QLSV ngoại trú của Nhà trường. Triển khai cho sinh viên ngoại trú đăng ký và khai báo trực
tuyến về địa chỉ tạm trú, cập nhật những thay đổi về nơi ở khi chuyển chỗ tạm trú.
Ứng dụng CNTT trong tổng hợp, phân tích các dữ liệu, thơng tin về sinh viên ngoại trú
như: địa bàn, số lượng, điều kiện ăn ở, sinh hoạt, kết quả học tập, rèn luyện, kết quả tham gia
hoạt động phong trào tại Nhà trường cũng như địa phương...
c. Đổi mới kiểm tra, đánh giá các hoạt động QLSV ngoại trú
Kiểm tra việc thực hiện Quy chế ngoại trú: Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá,
trước hết phải kiểm tra việc thực hiện đầy đủ nội dung, quy trình, kế hoạch QLSV ngoại
trú trên cơ sở mục tiêu đã được phê duyệt. Kiểm tra, đánh giá không đơn thuần như một
công cụ để phân loại và đánh giá được kết quả rèn luyện của sinh viên mà cần thiết phải
được nhìn nhận đây như một cơng cụ thúc đẩy cơng tác giáo dục tồn diện sinh viên trong
Nhà trường.
Kiểm tra việc thực hiện Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của sinh viên. Kiểm

tra việc đánh giá kết quả rèn luyện của sinh viên dựa trên nội dung ý thức công dân và
quan hệ cộng đồng của sinh viên ngoại trú. Thống kê, cập nhật đầy đủ các vi phạm nếu có
của sinh viên ngoại trú để đánh giá một cách khách quan, công bằng, tạo hiệu ứng tích
cực trong QLSV.
Thơng qua tổ trưởng dân phố và công an các phường, Nhà trường nắm bắt tình hình
sinh viên ngoại trú (mỗi tháng một lần). Tổng kiểm tra sinh viên ngoại trú thường kỳ (1 lần/1
học kỳ) và đột xuất.
Tổ chức giao ban về công tác sinh viên ngoại trú giữa Nhà trường và chính quyền, cơng an
các phường có sinh viên th trọ (đặc biệt chú ý đến những phường có đơng sinh viên tạm trú: 1
lần/1 năm học).
Tổ chức đánh giá sinh viên ngoại trú cuối học kỳ. Tổng kết công tác QLSV ngoại trú
vào cuối năm học (có tuyên dương, khen thưởng...).
2.3.4. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý sinh viên ngoại trú
Tổ chức và tạo điều kiện cho cán bộ quản lý, giảng viên tham gia các lớp tập huấn, bồi
dưỡng nghiệp vụ, nhất là các kỹ năng trong quản lý, tư vấn cho sinh viên.
Có kế hoạch và hỗ trợ cán bộ, giảng viên đi tham quan học hỏi kinh nghiệm quản lý
hoạt động này ở nước ngoài, học tập kinh nghiệm của các trường bạn để góp phần nâng cao năng
lực, trau dồi kinh nghiệm và tổ chức thực hiện tốt yêu cầu, nhiệm vụ công tác QLSV ngoại trú.
Đề xuất chế độ, chính sách đãi ngộ, hỗ trợ cán bộ, viên chức và người lao động được cử
đi học để khuyến khích tinh thần học tập, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công nhân,
viên chức và người lao động.

108


Xây dựng các phong trào nghiên cứu khoa học, khuyến khích cán bộ quản lý, giảng viên
và sinh viên nghiên cứu, thực nghiệm phối hợp với các hoạt động thực tế để nâng cao kỹ năng
cho đội ngũ cán bộ quản lý.
Định kỳ tổ chức tập huấn, phổ biến về nội dung Thông tư số 27/2009/TT-BGDĐT của
Bộ GD-ĐT, các quy định của Nhà trường đối với sinh viên ngoại trú, kế hoạch công tác SV

ngoại trú của trường. Tổ chức tập huấn nghiệp vụ QLSV ngoại trú.
2.3.5. Tăng cường công tác phối hợp giữa các phịng, khoa, Đồn Thanh niên, Hội Sinh
viên nhà trường trong quản lý sinh viên ngoại trú
Tổ chức Hội nghị bàn biện pháp, tạo cơ chế phối hợp giữa các lực lượng làm công tác
QLSV ngoại trú trong nội bộ trường (Phịng Cơng tác sinh viên, Phịng Đào tạo, các khoa, bộ
mơn, Đồn Thanh niên, Hội Sinh viên).
Hàng năm, phối hợp tổ chức tổng kết hội nghị công tác QLSV ngoại trú. Tổ chức
các hoạt động phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, các hoạt động tình nguyện,
các hoạt động phịng chống tệ nạn xã hội ... tạo nhiều sân chơi bổ ích, lành mạnh cho sinh
viên tham gia hoạt động.
Tăng cường phối hợp với tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên để tư vấn, hỗ trợ,
giúp đỡ, tổ chức thực hiện công tác sinh viên ngoại trú, tổ chức các hoạt động thăm hỏi sinh
viên ngoại trú, các hoạt động giao lưu, kết nghĩa với Đồn phường nơi có nhiều sinh viên của
trường ngoại trú.
Phối hợp với Phịng Đào tạo, Đồn Thanh niên, Hội Sinh viên kiểm tra định kỳ và kiểm
tra đột xuất đối với sinh viên ngoại trú. Xử lý kịp thời những sinh viên vi phạm các quy chế,
quy định của Bộ GD-ĐT, của nhà trường, của địa phương, đồng thời đề nghị biểu dương, khen
thưởng những sinh viên có thành tích trong hoạt động tại địa phương.
2.3.6. Tăng cường cơng tác phối hợp với chính quyền địa phương nhằm đảm bảo an
ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội, phịng chống tệ nạn xã hội cho sinh viên ngoại trú
Đối với nhà trường: Tiếp cận, phối hợp với chính quyền địa phương, cơng an (các cấp
từ thành phố đến tổ dân phố trong công tác QLSV ngoại trú trên địa bàn và xác định rõ cơ chế
phối hợp công tác này.
Hàng năm, tổ chức hội nghị chuyên đề QLSV ngoại trú cho lực lượng nòng cốt làm
cơng tác QLSV của Trường và của địa phương (tình hình sinh viên ngoại trú; đăng ký tạm vắng;
biện pháp QLSV ngoại trú). Từ đó, ký các văn bản phối hợp liên tịch giữa Nhà trường với chính
quyền các địa phương để tạo cơ chế phối hợp trong công tác QLSV ngoại trú.
Tổ chức giao lưu các hoạt động phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, các hoạt
động tình nguyện, các hoạt động phịng chống tệ nạn xã hội với các Quận Đồn, Đồn Phường
có nhiều sinh viên của Trường tạm trú.


109


Tổ chức cho sinh viên ngoại trú ký cam kết với chủ gia đình cho thuê trọ (những năm
trước đây Nhà trường chưa thực hiện).
Theo dõi thống kê số lượng sinh viên ngoại trú theo đơn vị lớp và phải gắn với địa chỉ
tạm trú của từng sinh viên, nhập số liệu thống kê địa chỉ tạm trú để thống nhất quản lý.
Theo dõi, thống kê kịp thời sự biến động nơi tạm trú của sinh viên những sinh viên di
chuyển nơi tạm trú phải có trách nhiệm báo cáo với lớp phó đời sống phụ trách QLSV ngoại
trú hoặc với nhà trường (Phịng Cơng tác sinh viên).
Tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra, đánh giá công tác QLSV ngoại trú, từ đó bồi
dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ QLSV cho lực lượng làm công tác QLSV ngoại trú.
Đối với chính quyền địa phương: Cung cấp đầy đủ các văn bản, quy định có liên
quan đến cơng tác QLSV ngoại trú. Triển khai các văn bản quy định về xây dựng phường,
phố, tổ dân phố thực hiện nếp sống văn minh, vệ sinh môi trường, đôn đốc kiểm tra thực
hiện các quy định trên. Tuyên truyền để sinh viên nắm vững và thực hiện tốt nghĩa vụ bảo
vệ an ninh trật tự, vệ sinh môi trường ở nơi sinh viên tạm trú, tạo điều kiện cho sinh hoạt lành
mạnh và học tập tốt.
Đối với công an khu vực: Cung cấp đầy đủ các văn bản, quy định có liên quan đến
công tác QLSV ngoại trú (từ cấp thành phố đến khu phố, phường). Tuyên truyền vận động
nâng cao nhận thức cho cán bộ công nhân viên, sinh viên và nhân dân về trách nhiệm đấu
tranh phòng, chống các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, giữ gìn mơi trường sống lành mạnh.
Đối với các chủ hộ cho sinh viên thuê trọ: Tham mưu cho địa phương để khi gia đình
đăng ký kinh doanh hoặc cho sinh viên thuê trọ phải mua các văn bản, quy định có liên quan
đến công tác QLSV ngoại trú. Tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà trường, các cơ quan chức năng
đến kiểm tra sinh viên trong việc thực hiện pháp luật, thực hiện các quy định của Nhà trường
và địa phương. Đảm bảo an ninh trật tự, an tồn tính mạng, tài sản cho sinh viên, tạo điều kiện
thuận lợi cho sinh viên học tập tốt và sinh hoạt lành mạnh.
Tổ chức đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định tại Nghị định số 51-CP ngày

10/5/1997 của Chính phủ về việc đăng ký quản lý hộ khẩu đối với sinh viên các trường đại học,
cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề ngay từ lúc nhập học vào trường.
Tổ chức cho sinh viên ngoại trú kê khai các thông tin liên quan, phục vụ công tác QLSV
ngoại trú của Nhà trường.
2.3.7. Thực hiện giải pháp công nghệ thông tin
Công nghệ thơng tin phát triển góp phần giúp hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao hơn.
Nhiều công nghệ tiên tiến được ứng dụng triệt để nhằm đáp ứng tốt nhất cho công tác giảng dạy

110


cũng như công tác QLSV ngoại trú. Đồng thời, sự phổ biến kiến thức trên các nền tảng số giúp
sinh viên dễ dàng tiếp cận thơng tin bổ ích, phục vụ tốt cho nhu cầu dạy và học.
Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 khiến nhiều trường học phải đóng cửa, sinh
viên khơng thể đến trường, vai trị của ngành Công nghệ thông tin lại được thể hiện rõ rệt.
Thơng qua các hình thức dạy học trên nền tảng số, sinh viên có thể học ở bất cứ đâu, bất cứ khu
vực nào, bởi vậy cho dù ở cách xa nhau thì mọi người vẫn có thể tiếp thu kiến thức một cách
linh động nhất.
Tăng cường khai thác trang web, fanpage, zalo nhóm thay vì gửi email nhiều lần cho
sinh viên và các đơn vị chức năng trong quá trình xử lý nâng cao hiệu quả sử dụng.
Khai thác hiệu quả chương trình phần mềm QLSV và kết quả tham gia hoạt động của
sinh viên, cập nhật vào phần mềm để tính điểm và xuất ra file tổng hợp điểm rèn luyện theo
từng khóa lớp vào cuối mỗi học kỳ. Phần mềm này cũng cho phép lưu trữ thông tin về các hoạt
động mà mỗi sinh viên đã tham gia qua từng học kỳ trong suốt thời gian học tập tại Trường.
Tăng cường kết nối các phần mềm khác tại các đơn vị tham gia QLSV, tăng cường
tương tác với sinh viên trong quá trình quản lý.
3. Kết luận
Với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và internet, việc ứng dụng các thành tựu nghiên
cứu của CNTT vào công tác QLSV đã đem lại khơng ít những thành cơng và hiệu quả to lớn,
tuy nhiên vẫn còn những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn.

Trong thời gian tới, để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong công tác
QLSV ngoại trú của Nhà trường cần phải triển khai rất nhiều giải pháp. Những giải pháp đưa
ra chưa phải là tất cả các giải pháp cần phải thực hiện, nhưng đó là những giải pháp cơ bản, rất
cần thiết vì xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cơng tác QLSV.
Đối với xã hội nói chung và thanh, thiếu niên nói riêng, sinh viên ln là một nhóm xã
hội hấp dẫn, được mến mộ, là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt, đang là nguồn lực chuẩn
bị cho hoạt động lao động sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội. Số ít sinh viên có cơ hội
được ở trong khu ký túc xá hoặc trong khuôn viên của Trường. Đông đảo sinh viên phải sống
ngoại trú với nhiều hình thức như sống với cha mẹ và gia đình tại nhà riêng, sống với người
thân hoặc gia đình người thân ở nhà riêng, sống tại các nhà trọ tư nhân. Việc QLSV ngoại trú
đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà trường, gia đình và chính quyền địa phương, giúp sinh
viên ngoại trú yên tâm học tập, tránh được các nguy cơ tệ nạn xã hội, sự lơi kéo, kích động của
các thế lực thù địch, để đào tạo nên nguồn lực lao động cho tương lai của đất nước. Đó vừa là
mục tiêu phấn đấu của mỗi sinh viên, đồng thời cũng là trách nhiệm của gia đình, xã hội và các
trường đại học.

111


Tài liệu tham khảo
1. Bộ GD-ĐT (2016), Thông tư số 10/2016/TT- BGDĐT ngày 05/4/2016 về việc ban
hành Quy chế công tác sinh viên đối với chương trình đào tạo đại học hệ chính quy.
2. Đặng Quốc Bảo (2002), Quản lý giáo dục tiếp cận từ những mơ hình, Trường Cán bộ
quản lý giáo dục và đào tạo.
3. Đặng Quốc Bảo (1997), Một số khái niệm về quản lý giáo dục, Trường Cán bộ quản
lý giáo dục và đào tạo.
4. Đặng Quốc Bảo (2001), Dự báo giáo dục và một số vấn đề liên quan đến công tác dự
báo giáo dục, Trường Cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo.
5. Tạp chí Phát triển Giáo dục (1998-2003).
6. Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề về giáo dục và quản lý giáo dục, NXB Giáo dục.

7. Quy chế Ngoại trú của học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp
chuyên nghiệp hệ chính quy (Ban hành kèm theo Thông tư số 27/2009/TT-BGDĐT ngày
19/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).

112



×