Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

Hoạt động thực tập sản xuất ngành Cơ khí tại trường Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (411.97 KB, 9 trang )

HOẠT ĐỘNG THỰC TẬP SẢN XUẤT NGÀNH CƠ KHÍ
TẠI TRƯỜNG CAO ĐẰNG NGHỀ VIỆT NAM – SINGAPORE
Bùi Hồng Phúc1
Email:

TĨM TẮT
Thời đại kinh tế thị trường, các nước có nền cơng nghiệp phát triển có xu hướng chuyển
dịch cơng nghệ sản xuất, hoạt động sản xuất về các nước đang phát triển để tận dụng nguồn
lao động nhiệt huyết, có tiềm năng phát triển với chi phí vừa phải. Việt Nam trong quá trình
hội nhập kinh tế Quốc tế cũng là nơi nhận được sự dịch chuyển này nhờ nguồn lao động dồi
dào, nhiệt huyết, có tinh thần học hỏi, đặc biệt là chi phí nhân sự cạnh tranh hơn các thị trường
khác như Ấn Độ, Trung Quốc... Nhu cầu về lực lượng lao động chất lượng cao, có chuyên mơn,
có kỹ năng thực hành sản xuất đủ tốt để đáp ứng nhu cầu kinh tế, xã hội trở nên cấp thiết trong
bối cảnh hiện nay. Nghiên cứu thực hiện tại địa bàn trường Cao đẳng nghề Việt Nam –
Singapore, Bình Dương. Thực hiện nghiên cứu bằng nhiều phương pháp như nghiên cứu sản
phẩm hoạt động của người học tại Trường, phỏng vấn lãnh đạo, giảng viên, học viên khoa Cơ
khí... nhằm đánh giá thực trạng hoạt động thực tập sản xuất ngành cơ khí của Trường. Cụ thể
là hoạt động thực tập sản xuất tại Trường và thực tập sản xuất tại doanh nghiệp trong quá trình
học tập tại Trường của học viên.
Từ khóa: Cao đẳng nghề; Cơ khí; Giáo dục nghề nghiệp; Thực tập sản xuất.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế tồn cầu, cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hiện
nay đang có sự chuyển dịch công nghệ sản xuất, hoạt động sản xuất từ các quốc gia có nền kinh
tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ phát triển như Mỹ, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc... sang các quốc
gia có trình độ phát triển kém hơn nhưng có nguồn lao động dồi dào như Philippin, Indoneshia,
Ấn Độ,... Ở Việt Nam sự chuyển dịch này đang diễn ra khá mạnh mẽ nhờ lực lượng lao động
trẻ, có nhiệt huyết, có tinh thần học hỏi và nguồn chi phí cho nhân sự hợp lý hơn. Hội nhập
Quốc tế làm cho nền kinh tế Việt Nam phát triển năng động, nhưng cũng làm cho thị trường
lao động mang tính quốc tế hóa rất cao. Chun mơn của người lao động cần được nâng lên.
Tính phức tạp và yêu cầu của công việc càng cao, mức độ cạnh tranh ở thị trường lao động, môi
trường làm việc ngày càng gay gắt hơn, môi trường xã hội ngày càng phức tạp,… buộc năng


lực của người lao động phải được phát triển. Điều đó địi hỏi các cơ sở giáo dục phải quan tâm
nhiều hơn đến chất lượng đầu ra của người học về kiến thức, kỹ năng và thái độ để đáp ứng nhu
cầu của xã hội, của doanh nghiệp... mà trong đó nhu cầu về kỹ năng thực hành sản xuất là nhu
cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.
318


Tại Việt Nam, năng lực của lao động nói chung chưa đáp ứng được kỳ vọng về trình độ
kỹ thuật, công nghệ sản xuất của các nước phát triển. Do đó, nhiều năm qua vấn đề đào tạo
nhân sự có trình độ chun mơn, kỹ thuật cao rất được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XIII năm 2021 của Đảng đã đề ra một trong những nhiệm vụ nhằm
góp phần thực hiện thành công mục tiêu đưa đất nước phát triển bền vững, đó là việc nghiên
cứu bổ sung, hồn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực, trong đó có nhân lực chất lượng
cao là một nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài. Nghị quyết có đoạn viết: “Phát triển nguồn nhân
lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác
lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh
mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi
ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học-công
nghệ, đổi mới sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy
giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. (Đại hội đảng XIII, 2021).
Trường Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore ra đời với sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao đáp ứng nhu cầu kinh tế, xã hội. Đến thời điểm hiện tại, mặc dù đã trải qua nhiều
giai đoạn phát triển nhưng nhiệm vụ trọng tâm của Trường vẫn xoay quanh việc tổ chức đào
tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở các trình độ cao đẳng nghề, trung cấp
nghề và sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với
trình độ đào tạo, có sức khỏe, đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công
nghiệp, tạo điều kiện cho người học tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc
tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động. Các ngành nghề đào tạo
của Trường cũng mang tính thực hành cao như: Điện công nghiệp, Cơ điện tử, Điện tử công

nghiệp, Cắt gọt kim loại, Nguội sửa chữa máy công cụ, Cơng nghệ ơ tơ, Quản trị mạng máy
tính... nên hoạt động thực hành sản xuất luôn được sự quan tâm từ lãnh đạo nhà trường. Đặc
biệt, khoa cơ khí của Trường có các nghề như “Nguội sửa chữa máy cơng cụ” được xem là
nghề trọng điểm Quốc gia và “Cắt gọt kim loại” là nghề trọng điểm Quốc tế...
Theo tác giả Nguyễn Thị Ban “Mỗi một nghề đều được cấu thành bởi hai yếu tố cơ bản
là kiến thức nghề và kỹ năng thao tác nghề. Nghĩa là, người làm nghề nào cũng phải có năng
lực hội đủ cả hai yếu tố ở trình độ nhất định” (Nguyễn Thị Ban, 2012). Với nghề cơ khí, đó
chính là kiến thức về chuyên môn cơ khí và kỹ năng thực hành sản xuất. Như vậy, chương trình
đào tạo nghề cơ khí cũng phải bao gồm 2 nhóm yếu tố trên mà trong thao tác thực hành sản
xuất có chứa đựng cả kiến thức nghề nên muốn biết người học có được kiến thức và kỹ năng
nghề hay khơng thì chỉ cần quan sát thao tác thực hành sản xuất của họ trong thực tiễn. Theo
đó, việc thực tập sản xuất nên được dạy song song với chương trình lý thuyết tại các cơ sở giáo
dục nghề nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng nghề của người học tại các cơ sở giáo dục
nghề nghiệp nói chung và kỹ năng thực hành sản xuất đối với người học nghề cơ khí nói riêng.
Tác giả tiến hành nghiên cứu “hoạt động sản xuất ngành cơ khí của trường Cao đẳng nghề
Việt Nam – Singapore” để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thực tập sản xuất ngành
cơ khí của Trường, kết quả thu được sẽ phản ánh đúng thực trạng từ đó có thể bàn luận thêm
các biện pháp cải tiến trong tương lai.
319


2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Năm 2019, trên 精密工学会誌 - Tạp chí cơ khí chính xác của Nhật Bản, Các tác giả có
nhắc đến vai trò quan trọng của việc thực hành sản xuất trong ngành cơ khí chính xác: “Hiện
nay, làm thế nào để đào tạo ra được người học có đủ kỹ năng sản xuất trong ngành cơ khí chính
xác được nhiều cơ sở giáo dục và doanh nghiệp quan tâm. Cơ sở giáo dục sẽ trang bị cho người
học những kiến thức và kỹ năng sản xuất cơ bản của nghề Các doanh nghiệp sẽ đào tạo người
lao động theo cách riêng của họ để phục vụ sản xuất, tạo ra sản phẩm như mong đợi trong

tương lai. Trong đó, 高専(Kousen) - trường Cao đẳng nghề là một hệ thống giáo dục, đào tạo
dựa trên tính thực hành cao trên cơ sở cho người học thực hành sản xuất và đo kiểm trên các
thiết bị, máy móc hiện đại trong ngành” [SHINOZAKI, SAKAMOTO, ISHIBASHI,
NAKASHIMA, 2019].
Năm 2020, trong nghiên cứu “Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo nghề ở trường Cao
đẳng Việt – Đức Nghệ An”, tác giả Nguyễn Khắc Toàn cho biết: “Hiện nay, đào tạo nghề
thường tích hợp giữa lí thuyết và thực hành. Sự tích hợp thể hiện ở chỗ thực hiện đào tạo đòi
hỏi người dạy phải vừa chuyên sâu về kiến thức, mặt khác phải thành thục về kĩ năng tay nghề
từ đó truyền thụ lại cho người học; Người học trong cùng một thời điểm vừa tiếp thu kiến thức,
vừa thực hiện các thao tác trong chuỗi hoạt động tạo ra, hoàn thành sản phẩm cuối cùng. Đào
tạo nghề cung cấp cho học sinh những kiến thức, kĩ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết khi
còn trên ghế nhà trường. Về kiến thức, học sinh hiểu được cơ sở khoa học về vật liệu, dụng cụ,
trang thiết bị, quy trình thực hiện, biện pháp tổ chức quản lí sản xuất và an tồn lao động để
người học có thể thích ứng với thực tiễn lao động sản xuất. Học sinh được trang bị kiến thức
và kĩ năng nghề nghiệp trong cả quá trình đào tạo như kĩ năng sử dụng công cụ hỗ trợ; gia
công vật liệu; các thao tác kĩ thuật; xây dựng kế hoạch từ khối lượng cơng việc; tính tốn, thiết
kế và quan trọng nhất là khả năng ứng dụng linh hoạt vào thực tiễn. Đó là những cơ sở ban
đầu hình thành kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp; phát huy tính sáng tạo và song song với đó là hình
thành kỉ luật, tác phong lao động cho các học sinh sinh viên” (Nguyễn Khắc Toàn, 2020).
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Mục đích: Xây dựng cơ sở lý luận về hoạt động thực tập sản xuất ngành cơ khí tại cơ sở
giáo dục nghề nghiệp.
- Nội dung: Các văn bản, tài liệu, sách báo, cơng trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động
thực tập sản xuất ngành cơ khí tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
- Cách thức thực hiện: Nghiên cứu, tổng hợp các văn bản, tài liệu, sách báo, các cơng trình
nghiên cứu liên quan đến đề tài. Hệ thống lại những nội dung đã nghiên cứu để làm cơ sở lý luận
cho việc nghiên cứu hoạt động thực tập sản xuất ngành cơ kh tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
2.2.2.1. Phương pháp phỏng vấn

- Mục đích: Tìm hiểu về thực trạng hoạt động thực tập sản xuất ngành cơ khí tại trường
Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore. Thông tin thu được từ các cuộc phỏng vấn sẽ làm rõ
320


thêm thực trạng hoạt động thực tập sản xuất ngành cơ khí tại Trường cũng như làm rõ thêm các
biện pháp cải tiến được đề xuất.
- Nội dung: Thực trạng hoạt động thực tập sản xuất ngành cơ khí, những thuận lợi, khó
khăn, ưu điểm hạn chế và nguyên nhân của thực trạng. Từ đó đề xuất các biện pháp quản cải
tiến hoạt động thực tập sản xuất ngành cơ khí tại trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore.
- Cách thức thực hiện: xây dựng hệ thông câu hỏi để phỏng vấn Hiệu trưởng/ Phó hiệu
trưởng, Trưởng phịng đào tạo/ Trưởng khoa cơ khí, giáo viên, học viên có tham gia tổ chức
hoạt động thực tập sản xuất ngành cơ khí cho học viên tại Trường.
2.2.2.2. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
- Mục đích: Thu thập thông tin từ các sản phẩm của hoạt động thực tập sản xuất ngành cơ
khí nhằm hỗ trợ các phương pháp làm rõ vấn đề hơn.
- Nội dung: Các hồ sơ liên quan đến hoạt động thực tập sản xuất ngành cơ khí như kế
hoạch thực tập sản xuất trong chương trình học, kết quả đánh giá thực tập của giáo viên hướng
dẫn, kế hoạch thực tập sản xuất tại doanh nghiệp, kết quả đánh giá thực tập sản xuất của doanh
nghiệp, sản phẩm mẫu do học viên sản xuất... và các hồ sơ liên quan khác.
- Cách thức thực hiện: Thu thập, hệ thống và phân tích các thơng tin, dữ liệu từ hồ sơ có
liên quan đến đề tài nghiên cứu ở phòng đào tạo, khoa cơ khí và các khoa, ngành có liên quan
tại trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Tổng quan về trường Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore
Trường Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore (tên giao dịch quốc tế: Vietnam –
Singapore Vocational College) có tiền thân là Trung tâm Đào tạo Kỹ thuật Việt Nam –
Singapore, được thành lập từ năm 1997 theo Dự án hợp tác đào tạo giữa hai Chính phủ Việt
Nam và Singapore.
Trong quá trình thực hiện dự án, Trung tâm Đào tạo Kỹ thuật Việt Nam – Singapore đã khẳng

định được uy tín trong lĩnh vực đào tạo nghề, được các doanh nghiệp quốc tế đánh giá rất cao về
chất lượng chuyên môn cũng như tác phong làm việc của học sinh sau khi tốt nghiệp ra trường.
Đến thời điểm hiện tại, mặc dù đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển nhưng nhiệm vụ trọng
tâm của Trường vẫn xoay quanh việc tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất,
dịch vụ ở các trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học
năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đạo đức lương tâm nghề
nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho người học tốt nghiệp có khả năng
tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao
động. Các ngành nghề đào tạo của Trường cũng mang tính thực hành cao như: Điện công nghiệp,
Cơ điện tử, Điện tử công nghiệp, Cắt gọt kim loại, Nguội sửa chữa máy công cụ, Công nghệ ô tô,
Quản trị mạng máy tính... nên hoạt động thực hành sản xuất luôn được sự quan tâm từ lãnh đạo nhà
trường. Đặc biệt, khoa cơ khí của Trường có các nghề như “Nguội sửa chữa máy công cụ” được
xem là nghề trọng điểm Quốc gia và “Cắt gọt kim loại” là nghề trọng điểm Quốc tế... Trong phạm
vi bài viết này chúng tơi chủ yếu tập trung phân tích các ngành nghề thuộc khoa cơ khí của Trường.
321


Khoa cơ khí của Trường đào tạo nhiều ngành nghề, nhiều hệ đào tạo khác nhau đáp ứng
được nhu cầu lao động đa dạng của nghề cơ khí nói chung. Các ngành nghề đang được đào tạo
như: nguội sửa chữa máy cơng cụ (cịn được biết đến với tên gọi bảo dưỡng công nghiệp) – là
nghề trọng điểm quốc gia, cắt gọt kim loại (hay cơ khí chế tạo máy) – là nghề trọng điểm quốc tế,
bảo trì thiết bị cơ điện, công nghệ ô tô, chế tạo khuôn mẫu. Các hệ đào tạo cũng đa dạng như cao
đẳng, trung cấp và sơ cấp. Ngồi ra, cịn có các lớp liên thông từ sơ cấp nghề, thợ lên trung cấp, từ
trung cấp lên cao đẳng; các lớp đào tạo theo yêu cầu của doanh nghiệp, đặc biệt là có 1 lớp hệ cao
đẳng đang thí điểm học theo chuẩn Quốc tế được chuyển giao từ Cộng hòa liên bang Đức, với
chương trình đào tạo 3 năm rưỡi sẽ tốt nghiệp trong năm 2022 hứa hẹn sẽ mang đến nhiều cơ hội
cho học viên, khoa cơ khí và cả trưởng Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore trong tương lai.
Đội ngũ nhân sự có chun mơn và kinh nghiệm trong nghề bao gồm 18 giảng viên hợp
đồng dài hạn với khoảng 40% giảng viên là thạc sỹ, 60% giảng viên là kỹ sư. Bên cạnh đó là
20 giảng viên cơ hữu, các bộ lãnh đạo với khoảng 70% cán bộ, giảng viên có trình độ thạc sỹ.

Cơ sở vật chất được trang bị khá tốt với các phân xưởng thực hành sản xuất được phân
chia theo chức năng thực hành rõ ràng cùng với số lượng máy móc thiết bị đáp ứng đủ nhu cầu
thực hành sản xuất của học viên.
Về các máy móc thiết bị phục vụ hoạt động thực hành sản xuất ngành cơ khí của Trưởng
đáp ứng đủ về số lượng và chủng loại như: 25 máy tiện cơ, 2 máy tiện CNC, 30 máy phay cơ,
3 máy phay CNC, 1 máy cắt dây CNC, 2 máy bắn điện, máy in 3D, máy quét 3D,... các thiết bị
đo như thước cặp, panme, thước đo chiều sâu lỗ... cũng được trang bị đầy đủ. Các Xưởng thực
hành được bố trí theo chức năng các nhóm ngành như sau:
TT
1
2
3
4

1
2
3
4
5
6
7
1
2
3
4

1

TÊN XƯỞNG
SỐ LƯỢNG

HỆ THỐNG PHỊNG HỌC CHUN MƠN, THÍ NGHIỆM
Phịng kỹ thuật cơ sở
1
Phịng thực hành máy vi tính
1
Phịng ngoại ngữ
1
Phịng thí nghiệm Fablab
1
HỆ THỐNG XƯỞNG THỰC HÀNH NHÓM NGHỀ CƠ KHÍ.
Nghề Cắt gọt kim loại
Phịng thí nghiệm vật liệu
1
Phịng thực hành đo lường
1
Phòng thực hành CAD/CAM
1
Phòng điện cơ bản
1
Xưởng nguội cơ bản
1
Xưởng gia công cắt gọt vạn năng
1
Xưởng gia công cắt gọt CNC
1
Nghề Chế tạo khn mẫu
Phịng thực hành Thiết kế khuôn mẫu
1
Xưởng Gia công trên máy công cụ
1

Xưởng Gia công trên máy CNC
1
Xưởng lắp ráp và hồn thiện khn
1
HỆ THỐNG XƯỞNG THỰC HÀNH NHĨM NGHỀ
BẢO DƯỠNG CƠNG NGHIỆP
Nghề Bảo trì thiết bị cơ điện
Xưởng Bảo trì xưởng
1

322


2
3
4
1
2
3
4
1
2
3
4

Xưởng Bảo trì máy
Xưởng Nguội
Xưởng Hàn

1

1
1

Nghề Nguội sửa chữa máy cơng cụ
Phịng thực hành lập trình CAD/CAM
Phịng thực hành Thủy lực - khí nén
Xưởng Sửa chữa Máy cơng cụ vạn năng
Xưởng sửa chữa máy CNC
HỆ THỐNG XƯỞNG THỰC HÀNH NGHỀ CƠNG NGHỆ Ơ TƠ
Xưởng động cơ
Xưởng Diesel
Xưởng gầm ơ tơ
Xưởng điện ô tô

1
1
1
1
2
1
1
1

Về số lượng học sinh sinh viên qua các khóa:
HỆ CAO ĐẲNG
Cắt gọt kim loại
Cơng nghệ ơ tơ
Bảo trì thiết bị cơ điện
Nguội sửa chữa máy cơng cụ
HỆ TRUNG CẤP

Cắt gọt kim loại
Cơng nghệ ơ tơ
Bảo trì thiết bị cơ điện
Nguội sửa chữa máy công cụ

Số lượng học viên các khóa
2016 - 2019
2017-2019
2018-2020
64
66
96
60
71
80
29
23
26
33
24
17
Số lượng học viên các khóa
2016 - 2019
2017-2019
2018-2020
49
98
120
56
60

88
33
31
35
16
34
70

Ngoài ra, trường Trung cấp nghề Dĩ An từ khi sáp nhập, được gọi là cơ sở 3 của trường
Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore cũng có số lượng học viên nghề cắt gọt kim loại tăng
hàng năm, cụ thể như sau:
HỆ TRUNG CẤP
Cắt gọt kim loại

Số lượng học viên các khóa tại cơ sở 3
2016 - 2019
2017-2020
2018-2020
16
24
43

Có thể thấy với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và UBND Tỉnh Bình Dương, cũng như
sự đầu tư về chương trình đào tạo, hạ tầng, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy nghề cơ
khí của Trường cao đẳng Việt Nam – Singapore đã đào tạo và cung cấp được một lượng lớn
lao động lành nghề cho địa bàn tỉnh Bình Dương, các tỉnh thành lân cận và các nước khác như
Nhật Bản, Đài Loan,...Từ đó cũng thu hút được sự quan tâm của người lao động có nhu cầu học
nghề, bằng chứng là số lượng học viên ngày càng tăng tại khoa cơ khí của Trường.
3.2. Thực trạng hoạt động thực tập sản xuất ngành cơ khí tại trường Cao đẳng nghề
Việt Nam – Singapore

3.2.1. Thực tập sản xuất tại các Xưởng cơ khí bên trong Trường
Hoạt động thực tập sản xuất tại các Xưởng cơ khí bên trong Trường như Tiện, Phay,
Hàn... đang được lãnh đạo Trường, Khoa và các giảng viên khoa Cơ khí quan tâm và thực hiện
một cách nghiêm túc, cụ thể là ngoài thời gian dạy lý thuyết trên lớp, toàn bộ HSSV đều được
323


vận hành máy, tham gia trực tiếp hoạt động thực tập sản xuất hằng ngày tại các Xưởng. Thêm
nữa, có một số buổi học lý thuyết còn được thiết kế giảng dạy tại Xưởng để HSSV vừa có thể
học lý thuyết vừa thao tác thực hành sản xuất, giúp HSSV hiểu nhanh và hiểu sâu hơn nghề
mình đang theo học. Theo thầy Lê Tuấn Nhật – Trưởng khoa Cơ khí của Trường thì thời lượng
thực tập sản xuất của HSSV lên đến hơn 70% khóa học.
Qua trao đổi với giảng viên và lãnh đạo khoa Cơ khí của Trường, chúng tơi có đưa ra một
số ưu điểm và hạn chế của hoạt động thực tập sản xuất của HSSV khoa Cơ khí như sau:
- Ưu điểm: học sinh sinh viên được thực hành sản xuất trực tiếp trên các máy công cụ từ
cơ bản như tiện cơ, phay cơ, đến các máy tiên tiến hơn như tiện CNC, phay CNC, bắn điện, cắt
dây CNC, in 3D... Chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn Singapore và gần đây có thêm chương
trình chuẩn Quốc tế được chuyển giao từ Cộng hòa liên ban Đức cho ngành cắt gọt kim loại hệ
Cao đẳng. Các kiến thức cơ sở cũng được giảng dạy tại nhà xưởng một cách trực quan, sinh
động với các thiết bị, dụng cụ, máy móc thực tế. Số lượng máy móc đầy đủ, đáp ứng được nhu
cầu mỗi học viên đều có đủ thời gian sử dụng máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động thực tập sản
xuất của mình. Hơn nữa, học viên cịn được có cơ hội thực tập sản xuất nhiều hơn với các
chương trình đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp như đơn đặt hàng từ công ty TNHH
CAMSO VIỆT NAM (KCN VSIP 2 mở rộng – Tân Uyên, Bình Dương) từ năm 2017, công ty
TNHH NHỰA CHINLI (KCN Việt Hương – Thuận An, Bình Dương) từ năm 2018. Bên cạnh
đó, học viên của Khoa cịn được hướng dẫn bởi các giảng viên có trình độ chun mơn cao,
thường xun được Trường cử đi đào tạo ở Singapore.
- Hạn chế: Một số máy móc đã cũ dẫn đến thời gian sản xuất cho một sản phẩm mất nhiều
thời gian hơn, mặc dù vẫn đáp ứng được nhu cầu học tập của học viên, tuy nhiên nếu thay thế
được bằng máy móc mới hơn thì sẽ tiết kiệm được thời gian thực hành hơn và học viên có thể

sản xuất được nhiều sản phẩm hơn trong một buổi học từ đó kỹ năng, kỹ xảo của học viên cũng
được nâng cao.
3.2.2. Thực tập sản xuất tại doanh nghiệp bên ngoài Trường
Ngoài thời gian thực tập sản xuất tại các Xưởng bên trong Trường, HSSV khoa cơ khí
của Trường Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore cịn có cơ hội tiếp xúc với mơi trường sản
x́t thực tế thông qua việc thực tập sản xuất tại các doanh nghiệp sản xuất. Cụ thể, trong suốt
khóa học, trung bình học viên sẽ được thực tập sản xuất tại doanh nghiệp 2 lần, mỗi lần khoảng
2 tháng. Lần 1 vào giữa khóa học, lần 2 là trước khi tốt nghiệp. Trường hợp HSSV khơng thể
tự tìm nơi thực tập sản x́t phù hợp thì nhân viên phịng Đối ngoại của Trường hoặc giảng viên
của Khoa sẽ kết nối với các doanh nghiệp phù hợp với ngành nghề theo học của HSSV, trao
đổi với doanh nghiệp để tạo điều kiện tốt nhất có thể cho HSSV trong suốt quá trình thực tập
tại doanh nghiệp. Từ kết quả các cuộc phỏng vấn đại diện phòng Đối ngoại, HSSV, giảng viên,
lãnh đạo khoa Cơ khí thì hoạt động thực tập sản xuất tại doanh nghiệp của HSSV trường Cao
đằng nghề Việt Nam – Singapore có một số ưu điểm và hạn chế như sau:
- Ưu điểm: Việc thực tập sản xuất tại doanh nghiệp với kế hoạch như đã nêu trên là điều
đáng ghi nhận mà nhà trường đã kết hợp với các doanh nghiệp để tạo điều kiện cho học viên có
thể thực hành sản xuất thực tế tại doanh nghiệp, sử dụng máy móc, trang thiết bị hiện đại hơn
phục vụ sản xuất thực tế trên thị trường mà nhà trường chưa thể trang bị được, cũng như tác phong
324


cơng nghiệp, văn hóa doanh nghiệp, kỹ năng mềm xử lý tình huống trong mơi trường sản x́t
thực tế... những điều mà chỉ có tại cơ sở sản xuất mới cho học viên được trải nghiệm tốt nhất.
Theo thầy Trần Hùng Phong – Hiệu trưởng trường Cao Đẳng nghề Việt Nam – Singapore thì hiện
tại nhà trường có mối quan hệ hợp tác với hơn 200 doanh nghiệp trong địa bàn tỉnh Bình Dương,
giúp cho học viên nơi đây có nhiều lựa chọn trong việc tìm nơi thực tập phù hợp với kỹ năng, kỹ
xảo, điều kiện nơi ở, đi lại,... cũng như nguyện vọng nghề nghiệp theo đuổi trong tương lai. Ngồi
ra, đối với các chương trình đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp thì trong quá trình học
tập tại Trường, học viên cịn được nhà trường và doanh nghiệp tạo điều kiện cho thực tập sản xuất
tại nhà máy của doanh nghiệp, sản xuất trực tiếp trên sản phẩm giao cho khách hàng của doanh

nghiệp, thực hành sản xuất từ các máy móc, thiết bị, dụng cụ thực tế mà sau khi tốt nghiệp học
viên sẽ được sử dụng trong quá trình làm việc tại doanh nghiệp.
- Hạn chế: mặc dù có được nhiều điều kiện thuận lợi như đã trình bày bên trên, vẫn cịn
đâu đó những hạn chế trong hoạt động thực tập tại doanh nghiệp bên ngoài nhà trường. Đối với
các doanh nghiệp chưa hợp tác nhiều, chưa có mối quan hệ tốt với Trường, Khoa thì đơi khi
học viên khơng được thực tập sản xuất theo đúng như mong đợi mà chỉ được giao cho các việc
ngồi chun mơn hoặc chỉ tham gia rất ít hoạt động thực tập sản xuất tại doanh nghiệp, nguyên
nhân là bởi khi doanh nghiệp chưa có được mối quan hệ hợp tác qua lại với nhà trường đủ sâu
thì vẫn cịn cảm giác e dè khi trao cho học viên cơ hội thực tập sản xuất trên sản phẩm thực,
máy móc thiết bị tân tiến có giá trị cao như máy móc nghề cơ khí. Thêm nữa, đối với một số
doanh nghiệp vừa và nhỏ thì nhân sự, máy móc chỉ đáp ứng đủ cho dây chuyền sản xuất phục
vụ khách hàng nên việc cho một học viên thực tập sản x́t trên chính máy móc thiết bị đang
phục vụ sản xuất và thêm nhân sự có chun mơn cao để hướng dẫn, giám sát hoạt động thực
tập sản xuất của học viên cũng là điều khó khăn của doanh nghiệp.
3.3. Thảo luận các vấn đề, biện pháp cải tiến
- Vấn đề về hoạt động thực tập tại Trường: Các máy móc cũ nên được thay bằng máy mới
hơn để giúp học viện có thể thực tập sản xuất được nhiều sản phẩm hơn với cùng thời gian sử
dụng máy, các máy cũ có thể dùng cho các chuyên ngành khác như bảo trì, lắp ráp, sửa chữa...
Bên cạnh đó việc giữ chân các giảng viên cũng nên được xem xét thận trọng vì với kinh nghiệm
làm nghề, kiến thức chuyên môn cao của các giảng viên thì rất dễ dàng nhận được các lời mời
làm việc có mức thu nhập, phúc lợi, đãi ngộ tốt hơn ở các doanh nghiệp trong nghề, đặc biệt là
các doanh nghiệp có yếu tố đầu tư từ nước ngồi.
- Vấn đề về hoạt động thực tập tại Doanh nghiệp: Tăng cường các chương trình hợp tác
với các doanh nghiệp, chú trọng quan tâm các chương trình đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh
nghiệp để giúp học viên có môi trường thực tập sản xuất đúng nghề đang theo học và sẽ làm
việc trong tương lai. Đối với các doanh nghiệp chưa có mối quan hệ hợp tác đủ lâu thì nên có
những hợp đồng, ký kết giữa lãnh đạo Trường, Khoa với lãnh đạo Doanh nghiệp để tạo điều
kiện cho học viên thực tập sản xuất đúng như mong đợi của học viên và nhà trường.
- Vấn đề khác: Bên cạnh việc giữ chân các giảng viên cũ thì việc tìm đội ngũ giảng viên
kế thừa cũng nên được xem xét, và nếu học viên của Trường trở thành giảng viên của Trường

trong tương lai thì đó là câu chuyện giáo dục nghề nghiệp rất tốt để kể về nhà trường. Với quy
định chương trình đào tạo phải được cập nhật 2 năm 1 lần, cùng với sự phát triển khơng ngừng
của khoa học kỹ thuật nói chung, ngành cơ khí nói riêng thì địi hỏi các giảng viên phải được
325


cập nhật kiến thức thường xuyên, đầy đủ với các cơng cụ, sản phẩm, máy móc, cơng nghệ mới
mà thế giới đang sử dụng, môi trường cho giảng viên là các cơ sở giáo dục ở các quốc gia có
nền công nghiệp phát triển, là môi trường doanh nghiệp sản x́t... Bởi vì, khi có giảng viên có
đầy đủ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng thực hành sản xuất tốt bằng trang thiết bị hiện
đại sẽ giúp ích rất nhiều cho hoạt động thực tập sản xuất của học viên theo học tại Trường.
4. KẾT LUẬN
Thực tập sản xuất nói chung và thực tập sản xuất ngành cơ khí nói riêng là vấn đề quan
trọng và cấp thiết trong bối cảnh hội nhập kinh tế của nước ta hiện nay. Bên cạnh việc đào tạo ra
nguồn lao động có đầy đủ kiến thức, kỹ năng, thái độ để cung cấp nguồn lao động cho các doanh
nghiệp trong nước, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn phải đề ra mục tiêu cung ứng nguồn lao
động có chất lượng cao hơn với kỹ năng thực hành sản xuất có thể đáp ứng được nhu cầu chuyển
giao công nghệ, hoạt động sản xuất từ các nước phát triển đặt nhà máy sản xuất tại Việt Nam và
cả cung ứng nguồn lao động lành nghề cho các nước phát triển như Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc...
theo chương trình hợp tác lao động, thực tập sinh kỹ năng... Thông qua nghiên cứu thực trạng
hoạt động thực tập sản xuất ngành cơ khí của trường Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore, chúng
tôi nhận thấy hoạt động thực tập sản xuất của học viên tại Trường và tại các doanh nghiệp hợp
tác với trường đang thực hiện một cách nghiêm túc và đó cũng là lý do mà nhà Trường được sự
tín nhiệm cao từ các doanh nghiệp cũng như học viên theo học nơi đây. Tuy nhiên, đâu đó vẫn
cịn một số hạn chế như các vấn đề về máy móc, thiết bị, nhân sự của Trường và sự cam kết thực
hành đúng nghề tại một số doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được giải quyết trong tương lai gần để
chất lượng dạy nghề nói chung, chất lượng hoạt động thực tập sản xuất của học viên nói riêng
ngày càng được nâng cao, đáp ứng nhu cầu mong đợi của các bên liên quan.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tham khảo trong nước

1. Đại hội đảng XIII. (2021). Retrieved from daihoidang.vn: />2. Nguyễn Khắc Toàn. (2020). Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo nghề ở trường Cao đẳng Việt Đức Nghệ An. Tạp Chí Giáo Dục, Số đặc biệt kỳ 1 tháng 5/2020, tr 284-288.
3. Nguyễn Thị Ban. (2012). Tiếp cận thực tập nghề trong đào tạo giáo viên phổ thông. Tạp chí giáo
dục, Số 285 kỳ 1 tháng 5/2012, tr 18-20.

Tài liệu tham khảo nước ngoài
4. SHINOZAKI, A., SAKAMOTO, T., ISHIBASHI, D., & NAKASHIMA, M. (2019). 機械加工や測
定の基礎を学ぶ高専の機械実習教育. 精密工学会誌, Vol.85, No.6, 2019, pages 485-488.

326



×