Tải bản đầy đủ (.pdf) (12 trang)

Thực trạng tư vấn nghề nghiệp cho học sinh – sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (426.49 KB, 12 trang )

THỰC TRẠNG TƯ VẤN NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH – SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT NAM -SINGAPORE
Phạm Thị Soa1
1. Lớp CH21QL01. Email:
TĨM TẮT
Có thể nói tư vấn nghề và định hướng nghề cho học sinh sinh viên là việc làm đóng vai
trị quan trọng và thiết yếu, bởi sau khi ra trường hầu hết học sinh sinh viên đều mong muốn
kiếm được việc làm tốt, ổn định và thu nhập cao. Để xác định được điều đó đòi hỏi đối với mỗi
học sinh sinh viên phải bỏ ra nhiều công sức, thời gian, tâm huyết và sự kiên trì để có thể tìm
được một cơng việc phù hợp. Cho nên ngay khi các em đang còn ngồi trên ghế nhà trường hãy
cố gắng học tập và rèn luyện các kỹ năng để đem lại hiệu quả cho bản thân trong tương lai.
Đối với nhà trường thì cần có những giải pháp như ngay từ khâu tuyển sinh phải bố trí người
am hiểu tư vấn nghề nghiệp rõ ràng để các em xác định mục đích học tập, học xong làm được
việc gì?; Phân loại lực học sinh ngay từ đầu để chia lớp, chọn giáo viên có trình độ chuyên
môn và nghiệp vụ sư phạm tốt để chủ nhiệm, giảng dạy lớp có học sinh yếu, kém; Tất cả cán
bộ giáo viên trong nhà trường phải cùng có ý thức hợp tác, phối hợp đồng bộ trong các hoạt
động bằng tất cả lòng yêu nghề, yêu công việc và tinh thần trách nhiệm, tận tâm tận lực với
nghề và hết lòng với học sinh; Cần khuyến khích, khen thưởng những giáo viên sau một năm
học đã có cơng giáo dục học sinh cá biệt, học sinh yếu kém; Giáo viên chủ nhiệm liên lạc
thường xuyên với phụ huynh học sinh để nắm tình hình; Nhà trường xây dựng kế hoạch hoạt
động ngoại khóa nhiều hơn nữa để thu hút học sinh đến trường; Nhà trường cần bổ sung trang
thiết bị dạy học mới, những mơ hình thực tế đồng thời chú trọng đổi mới phương pháp dạy học
để giáo viên - học sinh hứng thú đam mê nghề hơn.
Từ khóa: Tư vấn nghề nghiệp; Học sinh –sinh viên; Trường Cao đẳng nghề
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tư vấn nghề nghiệp là một hoạt động quan trọng trong xã hội hiện nay. Nhận được sự tư
vấn kịp thời và đúng đắn sẽ tạo cơ hội cho học sinh sinh viên trong việc lựa chọn được ngành
nghề phù hợp với mong ước và năng lực của bản thân. Tuy nhiên với điều kiện kinh tế khó khăn
chung của đất nước như hiện nay thì việc tư vấn nghề và chỉ tiêu tuyển sinh của các Trường
Cao đẳng, đại học lại càng khó khăn hơn và đang giảm sút gây rất khó khăn cho công tác tuyển
sinh đặc biệt là đối với học sinh –sinh viên học nghề, việc tuyển được các em vào trường, đủ


số lượng để mở lớp, đảm bảo chỉ tiêu do cấp trên giao cho đã thể hiện sự nỗ lực cố gắng hết sức
của cả tập thể lãnh đạo và cán bộ giáo viên nhà trường. Ấy vậy mà khi nhập học được một thời
gian thì các em lại bỏ học, nghỉ học không lý do, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sĩ số lớp, đến
công tác tổ chức giảng dạy và đặc biệt là khi các em nghi học, dễ phát sinh nhiều tật xấu, thiếu
kiến thức kỹ năng, khó xin việc làm, gây áp lực thiếu nhân lực lao động cho xã hội.
204


Trước thực trạng trên thì tập thể lãnh đạo nhà trường đã đề xuất nhiều biện pháp nhằm
cải thiện tình trạng bỏ học như: nâng cao tinh thần trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm trong
việc theo dõi, quản lý lớp nhắc nhỏ hay đi học, phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình
trong quản lý học tập của các em. Đồng thời, nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên trên
lớp, tạo động cơ, hứng thú cho người học, giúp các em dễ dàng tiếp thu bài học, giảm thiểu sự
nhân chấn trong các tiết học để thu hút người học. Tuy nhiên, qua đánh giá của Phịng Cơng tác
học sinh sinh viên và nhận định của Ban giám hiệu thi tình trạng bỏ học của học sinh sinh viên
vẫn còn chiếm tỉ lệ cho. Tỉ lệ học sinh sinh viên nghỉ học với nhiều lý do khác nhau đặc biệt
trong đó có lý do học sinh sinh viên nghỉ học vì học nghề khơng phù hợp và thường đặt ra nhiều
câu hỏi như là không rõ ngành học của mình ra trường làm nghề gì? hoặc nghề nghiệp mình
thích sẽ làm những cơng việc cụ thể như thế nào? Khơng rõ ngành của mình có cơ hội phát triển
nghề nghiệp trong tương lai không? Cảm thấy áp lực, quá tải, chán nản với ngành hiện tại và
muốn thay đổi nhưng không biết làm thế nào? Và cuối cùng là muốn bỏ học giữa chừng hoặc
chuyển sang học ngành khác.
Vì mong muốn định hướng cho học sinh sinh viên chọn đúng ngành, nghề trước khi vào
Trường học nên tôi đã chọn đề tài “ Thực trạng tư vấn nghề nghiệp cho học sinh –sinh viên
Trường Cao đẳng nghề Việt Nam –Singapore”
2. NỘI DUNG
2.1. Vai trò của tư vấn nghề nghiệp với học sinh sinh viên học nghề
Ngày nay, hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều coi nhân tố con người, nguồn lực con
người hay nguồn nhân lực (NNL) là yếu tố cơ bản, có vai trò quyết định nhất đến sự phát triển
nhanh và bền vững ở từng quốc gia. Các nhà kinh tế đã khẳng định răng đầu tư cho con người

thông qua các hoạt động giáo dục đảo tạo, chăm sóc sức khỏe, các chương trình đảm bảo việc
làm và an ninh xã hội... là đầu tư có hiệu quả nhất, quyết định khả năng tăng trưởng kinh tế nhanh
và bền vững của đất nước. Nhờ có sự ưu tiên đầu tư cho giáo dục nhằm phát triển NNL mà nhiêu
nước chi trong một thời gian ngắn đã nhanh chóng trở thành nước công nghiệp phát triển.
Tư vấn nghề nghiệp là một phần quan trọng trong giáo dục nghề nghiệp, giúp học sinh
sinh viên lựa chọn nghề phù hợp với bản thân và nhu cầu của thị trường lao động.
Đổi với giáo dục nghề nghiệp, tư vấn nghề nghiệp (TVNN) có vai trị vơ cùng quan trọng,
thế hiện các khía cạnh chính sau:
* Tư vấn nghề nghiệp giúp người học đáp ứng yêu cầu việc làm và thị trường lao
động trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Tư vấn nghề nghiệp có mục tiêu hàng đâu là tạo điều kiện cho người học có khả năng tìm
việc làm, tự tạo việc làm thơng qua lời khuyên, tư vấn năng lực từmg cá nhân, sao cho phù hợp
với những nhu cầu và yêu cầu của thị trường lao động trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội.
Hơn bất cứ phân hệ giáo dục nào, giáo dục nghề nghiệp (GDNN) nói chung và tư vấn nghê nghiệp
nói riêng gắn liền chặt chẽ với nhu cầu lao động về số lượng, cơ cầu trình độ, ngành nghề, vùng
miền, với nhu cầu học tập và việc làm của hssv, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong
phạm vi toàn quốc lần vùng miễn, địa phương. Đó là một trong nhữmg vấn đề cốt lôi trong tư vấn
nghề nghiệp theo quy luật cung-cầu của thị trường lao động (TTLĐ) và việc làm.
205


*Tư vấn nghề nghiệp gắn chặt chẽ với quá trình lao động nghề nghiệp thực tế và
công việc sau này của người học
Trong tư vấn nghề nghiệp, về thực chất, người học được tư vấn, học để hình thành những
kĩ năng, kiến thức và thái độ LĐNN cần thiết cho việc thực hành thành cơng q trình lao động
thực tế sau khi tốt nghiệp. Muốn vậy, người học cần được giải thích, hướng dẫn và thực hành
ngay trong quá trình lao động thực tế đó. Có ba cách thúc để thực hiện quá trình đào tạo trong
tư vấn nghề nghiệp: quá trình lao động được đưa vào trong các cơ sở GDNN, người học được
tham gia vào quá trình lao động thực tế và kết hợp hai cách thức trên.
Ba mơ hình thể hiện mối quan hệ gắn kết chặt chẽ này là: mơ hình hoạt động, mơ hình

nhân cách và mơ hình đào tạo, với quan hệ mật thiết theo tiếp cận đào tạo theo năng lực thực
hiện. Mô hình hoạt động thể hiện tồn bộ nhiệm vụ và công việc cụ thể của người lao động theo
một nghề nhất định với cấp độ năng lực nghề nghiệp tương ứng. Mơ hình nhân cách bao gồm
kiến thức, kĩ năng, và thái độ mà người học cần có thể thực hiện nhiệm vụ, cơng việc mà q
trình lao động thực tế địi hỏi. Mơ hình nhân cách được xác định thông qua việc phân tích kĩ
từng công việc, cho biết thông tin sát thực tế rằng để thực hiện được từng cơng việc đó theo u
cầu, tiêu chuẩn thực hiện của cơng việc thì người học cần có những kiến thức, kĩ năng và thái
độ gì... Mơ hình đào tạo thể hiện những gì cần được trang bị để sinh viên đạt được những kiến
thức, kĩ năng và thái độ, hình thành nên nhân cách người lao động tương lai.
2.2. Nội dung tư vấn nghề nghiệp [1]
Bộ phận tư vấn nghề nghiệp được đặt trong từng cơ sở GDNN với các nội dung chung và
cơ bản sau đây:
2.2.1. Tư vấn phương pháp học tập
Tư vấn nghề nghiệp diễn ra trong cơ sở GDNN, gắn với quá trình vận hành của trường
và sự phát triển toàn diện của người học. Phương pháp học tập, hướng dẫn cách học hiệu quả,
kết hợp với nhiều phương pháp học hiện đại khác nhau: trực tuyến, lên giảng đường, kèm cập
tại vị trí thực hành.
2.2.2. Tư vấn trang bị các kỹ năng cần thiết cho công việc trong tương lai
Thế kỷ XXI là kỷ nguyên dựa vào kỹ năng, sự thành công của mỗi người phụ huộc vào
việc thực hiện và kết hợp hài hòa giữa kỹ năng cúng (chuyên môn về nghề được đào tạo) và kỹ
năng mềm trong cuộc sống cũng như công việc. Nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
(Klaus, Marcel M.Robler, Huỳnh Văn Sơn...) cho rằng kỹ năng mềm (KNM) quyết định 75% sự
thành cơng của mỗi người. KNM có vai trò quan trọng đối với hssv trong các cơ sở GDNN. Trong
nhà trường, KNM có vai trị quan trọng đối với hssv trong các cơ sở GDNN. Trong nhà trường,
KNM giúp người học học tập một cách tích cực, chủ động, tạo lập mối quan hệ với thầy cô, bạn
bè và cộng đồng. Ra khỏi cơ sở đào tạo, nêu khơng có KNM, người học sẽ khơng thể thích nghi
với mơi trường mới. Họ cần có kỹ năng giao tiếp, thích ứng… để vượt qua những thách thức mà
nhà tuyển dụng đặt ra. Khi đã trúng tuyển và được làm việc, mỗi người đều mong muốn trở thành
chuyên gia trong lĩnh vực của mình, kỹ năng làm việc nhóm, tư duy phản biện và giải quyết vấn
đề và nhiều kỹ năng khác là chìa khóa vàng mở cánh cửa thành công. KNM không chỉ giúp mỗi

người trưởng thành trong cơng việc mà cịn quyết định chất lượng của q trình thiết lập mối
quan hệ và phát triển cuộc sống của mỗi người. Vì thế, giáo dục KNM cho người học là một yêu
206


cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Qua thực tế cho thấy, một phần khơng nhỏ người học có
chun môn giỏi đã trúng tuyển vào các cơ sở sử dụng lao động nhưng khơng có kỹ năng để thích
ứng với môi trường và áp lực công việc dẫn đến tình trạng bị sa thải hoặc phải chuyển chỗ làm.
2.2.3. Định hướng nghề nghiệp tương lai và con đường lập nghiệp
Tư vấn nghề là một hoạt động rất quan trọng nhằm mục đích sau cùng là đưa ra lời khuyên
phù hợp cho đối tượng dang "bâng khuâng đứng giữa nhiều dịng nước". Khi một người nào đó
hoặc một người học nào đó cần tư vấn nghề, thì chắc chắn đối tượng ấy có những khiếm khuyết
mà bản thân họ hoặc không biết, biết không đầy đủ, hoặc hiểu sai; hoạt động này sẽ giúp định
hướng nghề nghiệp tương lai phù hợp và con đường lập nghiệp thành công.
2.2.4. Nghề nghiệp tương lai- cơ hội, rủi ro và thách thức
Tư vấn nghề nói chung và tư vấn nghề cho người học nói riêng đã có lịch sử hình thành
và phát triển ở các nước phát triển từ hàng trăm năm nay. Nhìn chung, định hướng nghề nghiệp
và tư vấn nghề đã trở thành một phương pháp tiếp cận liên nghành để lại nhiều thành tựu lý
thuyết và thực tiễn quan trọng. Ở các nước phát triển, định hướng nghề và tư vấn nghề đã trở
thành mang đầy đủ các yếu tố: chính trị theo nghĩa (kinh tế chính trị), pháp lý, kinh tế, xã hội,
y học, văn hóa và đạo đức,… Thành tưu các nghiên cứu định hướng nghề và tư vấn nghề đã
giúp đỡ rất nhiều người nói chung và giới trẻ nói riêng đi tìm đúng con đường “mưu cầu hạnh
phúc” thông qua quyết định lựa chọn nghề nghiệp.
Các văn bản của Nhà nước về định hướng nghề nghiệp và tư vấn nghề hãy còn mới mẻ và
vẫn còn nhiều bất cập hay chồng chéo lẫn nhau. Về mặt kinh tế chính trị, chúng ta chưa thực sự
có một chính sách kinh tế khuyến khích phát triển khoa học dự báo về sự tiến triển hay biến đổi
của các nghề căn cứ theo chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước trong môi trường luôn luôn
biến động. Về mặt xã hội, định hướng nghề và tư vấn nghề cơ bản vẫn dựa vào gia đình, chí ít
trong việc duy trì hứng thú cho con em theo học một ngành nào đó. Do vậy, việc tiếp cận các
nghề có thể để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng: 1/người ta ở vào thế phải làm một nghề không hề

phù hợp với chun mơn hay năng lực; 2/người ta có thể bị rơi vào tình huống làm một nghề
khơng tạo ra hứng thú, đam mê hay động lực và 3/ người biết, ta có thể làm một nghề khơng phù
hợp với nhu cầu xã hội. Những hệ quả này, một khi kết hợp lại, trở thành những nguyên nhân sâu
xa về sự kém sáng tạo của người lao động, sự bất hạnh và sau cùng là sự chậm phát triển của xã
hội. Về mặt y sinh, có nhiều người khơng rõ thể chất và tâm lí của mình có phù hợp với những
nghề nào... Mà hậu quả trước mắt là người học chán nản và bỏ học chiếm tỉ lệ cao.
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tư vấn nghề nghiệp cho học sinh sinh viên trườn Cao
đẳng nghề Việt Nam – Singapore
2.3.1 Yếu tố chủ quan
* Chương trình đào tạo
Chương trình đảo tạo là biểu hiện của tư duy cũng như mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra của
nguời học sau tốt nghiệp. Thực tế hiện nay, khi xây dụng chuẩn đầu ra cho người học đều khẳng
định yêu cầu người học đạt được những kiển thức, kỹ năng, thái độ nhằm đáp ứng nhu cầu của
xã hội. Tuy nhiên, định hướng đào tạo gắn liền với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội chưn
được cụ thể hóa trong chương trình chi tiết. Thực trạng này dần đến tình trạng, khi thiết kế các
bộ chương tư vàn nghề nghiệp cho nguời học ánh hưởng trực tiếp từ chuơng trinh đào tạo.
207


* Năng lực và trách nhiệm của đội ngũ tư vấn viên
Tư vấn nghề nghiệp cho người học cần được tính hợp ngay trong chương trinh chi tiết của
từng từng mơn học, mơ đun. Ở đây, vai trị của đội ngũ giáo viên/ tư vấn viên rất quan trọng. Thực
tiễn của công tác đào tạo tại Truờng cho thấy. chúng ta mới đang trong giai đoạn chuyển đổi tư duy
giảng dạy theo hướng lấy nguời học làm trung tâm với nhiệm vụ thay đổi những hệ quả của lịch sử
truớc đấy. Làm thể nào để mỗi giáo viên thực sự là cầu nối giúp người học tiếp cận tối đa với thực
tiến xã hội theo định huớng mục tiêu tu vấn nghề nghiệp cho họ là việc làm rất quan trọng.
*Các hoạt động tập thế trong nhà trường
Một trong những yếu tố cấu thành, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình đào tạo là các hoạt
động tập thể của người học thơng qua tổ chức đồn, hội. Người học có nhiều cơ hội cọ xát, trau
dồi các kiến thức, hình thành tư vấn nghề nghiệp nhằm giải quyết công việc. Thực tế, thời gian

quan có nhiều hoạt động của Đồn - Hội thể hiện làm tốt công tác tư vấn nghề nghiệp, đóng
góp quan trọng trong việc giáo dục tư vấn nghề nghiệp cho nguời học nhumg cũng con rất nhiều
cá nhân chưa thực sự coi trọng thực chất mà nặng về hinh thức.
* Đặc điểm nhân cách của người học
Tư vấn nghề nghiệp cho người học, bên cạnh những yêu tố khách quan, không thể không
tinh đến những nhân tố chủ quan trong đó nổi bật là đặc điểm nhân cách của người học. Xét ở
góc độ cá nhân, các em vào học nghề tại Trường đang ở độ tuổi từ 15-18, đây là lứa tuổi có
nhiều thay đổi về tâm sinh lý.
2.3.2. Yếu tố khách quan
* Sự liên kết của nhà trường với các cơ sở sử dụng lao động
Khơng thể có được hiệu quả của tư vấn nghề nghiệp cho người học nếu như nhà trường
khơng có sự kết nôi với các cơ sở sử dụng lao động. Tham quan thực tế, trải nghiệm nghề nghiệp
mang lại hiệu quá tốt hơn nhiều lần so với chi tư vấn suôn.
*Truyền thông đại chúng
Bản chất của truyền thông đại chúng là hướng tới mọi đối tuợng công chúng trong xã hội.
Chính vì thể, có thể khẳng định ngay rằng, chắc chắn vai trị của chúng có ảnh huởng nhất định
đến định hướng nghề nghiệp của nguời học nghề. Tuy nhiên, cũng phải hiểu rõ rằng, tự thân
các kênh truyền thơng đại chúng khơng thể có tác động gì mà thực chất nó là một cơng cụ, cầu
nối đưa các dụng thông tin, giá trị khác nhau đến với người huởng thụ các dịch vụ truyền thông.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các kênh truyền thông cũng ngày cảng phát
triển mạnh mẽ và trong các nội dung truyền tài của nó có các nội dung liên quan tới lĩnh vực nghề
nghiệp, lao động việc làm. Trong khi đó người học nghề chính là một nhóm xã hội yếu thế, ít có
điều kiện tiếp cận với hầu hết các kênh truyền thơng. Chính vì lẽ đó truyền thông đại chúng cần
tác động mạnh đến định hướng nghề nghiệp và cung cấp về thị truờng lao động cho họ.
* Vai trị của “Bạn/ Nhóm bạn"
Việc tham gia vào các nhóm bạn bè có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mọi nguời học.
Khác với gia đình, truờng học hay các yếu tố khác, bạn và nhóm bạn là mơi trưịng tương tác
xã hội hết sức bình đẳng, cởi mở mà trong đó mỗi cá nhân người học có thể tìm thấy cho mình
sự đồng cảm, chia sẻ cũng như sự hỗ trợ thường trực về mặt tinh thần trong cuộc sống.
208



Trong quá trinh học tập, nguời học gia nhập các nhóm có cùng sở thích, có cùng tính cách
và kết quả là họ tìm được sự chia sẻ và hỗ trợ nhất định về mặt tinh thần trong quá trình học tập
cũng như đời sống. Trong các quyết định của họ cũng có sự tham khảo ý kiến của bạn thân
đồng thời bạn bè cũng là một kênh hỗ trợ thơng tin rất hữu ích.
*Thị trường lao động
Trong q trình học tập, qua nhiều cách thức khác nhau, nguời học chịu sự tác động của
môi trường nghề nghiệp việc làm hết sức rộng lớn và phong phú. Có thể người học trực tiếp
tham gia vào các mơi trường đó thơng qua việc làm thêm, có thế gián tiếp thơng qua các kênh
trun thơng đại chúng hoặc có thể qua các sở giao dịch việc làm hay hoạt động cộng đồng mà
người học được tham dự hoặc thơng qua chính bạn bè của họ. Điều này dự báo một hệ quả tất
yêu là sự ảnh hưởng manh mà của thị trường lao động đến định hướng nghề nghiệp của người
học sau khi tốt nghiệp. Bên cạnh đó, các nội dung phân tích đã phần nào so sách được mức đô
ảnh tác giữa các yếu tố với nhau trong quá trình hình thành định hướng nghề nghiệp và trong
môi trường xã hội hóa nghề nghiệp của người học nghề.
Ngồi các yếu tố chính trên đây, một số yếu tố khác như: sự thay đổi môi trường giáo
dục, cơ sở vật chất thiết bị, vai trị của gia đình ...cũng ảnh hưởng đến quá trình tư vấn nghề
nghiệp. Tùy vào điều kiện cụ thế, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chính và các yếu tố khác
sẽ khác nhau.
2.4. Kết quả nghiên cứu
2.4.1. Thực trạng học sinh sinh viên bỏ học hiện nay
Theo báo cáo của Phòng Đào tạo, số sinh viên hệ CĐN khóa IX-9/2018 khi nhập học là
513 sinh viên, nhưng đến khi xét điều kiện thi tốt nghiệp chỉ còn 381 sinh viên, bỏ học hết 132
sinh viên, chiếm tỉ lệ 25,73%; số học sinh TC24T khóa XTV-9/2018 khi nhập học là 721 học
sinh, nhưng đến khi xét điều kiện thi tốt nghiệp chỉ còn 465 học sinh, bỏ học hết 256 học sinh,
chiếm tỉ lệ 35,51%; Qua thống kê cho thấy các nghề học sinh trung cấp bỏ học trên 50% đó là:
Điện tử cơng nghiệp, Điện cơng nghiệp và Nguội sửa chữa máy công cụ.
Bảng 3.1: Thống kê số lượng học sinh sinh viên từ khi nhập học đến khi thi tốt nghiệp.
STT


HỆ- LỚP
I. CAO ĐẲNG NGHỀ
1
LỚP C18DC1
2
LỚP C18DC2
3
LỚP C18DC3
4
LỚP C18DT1
5
LỚP C18DT2
6
LỚP C18OT1
7
LỚP C18OT2
8
LỚP C18QT1
9
LỚP C18CK2
10 LỚP C18CK2
11 LỚP C18SM1
12 LỚP C18BT1

SỐ
LƯỢNG
TUYỂN SINH
513
41

34
47
40
44
43
42
67
41
39
37
38

209

SỐ XÉT ĐIỀU
KIỆN THI TN
381
34
29
27
31
36
32
35
44
32
28
20
33


SỐ LƯỢNG
BỎ HỌC
132
7
5
20
9
8
11
7
23
9
11
17
5

TỶ LỆ BỎ
HỌC
25,73%
17,07%
14,71%
42,71%
22,50%
18,18%
25,58%
16,67%
34,33%
21,95%
28,21%
45,95%

13,16%


II. TC HỆ 24 THÁNG
1
T2181DC1
2
T2181DC2
3
T2181DC3
4
T2181DC4
5
T2181CD1
6
T2181DT1
7
T2181DT2
8
T2181DT3
9
T2181CK1
10 T2181CK2
11 T2181CK3
12 T2181SM1
13 T2181SM2
14 T2181BT1
15 T2181OT1
16 T2181OT2


721
45
52
47
44
49
43
45
42
42
39
40
46
47
45
46
49

465
30
37
29
26
37
31
31
27
32
27
18

24
25
26
32
33

256
15
15
18
18
12
12
14
15
10
12
22
22
22
19
14
16

35,51%
33,33%
28,85%
38,30%
40,91%
24,49%

27,91%
3111%
35,71%
23,81%
30,77%
55,00%
47,83%
46,81%
42,22%
30,43%
32,43%

Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường của các ngôi trường THCS hay THPT, mặc dù
các em đã được các giáo viên phổ thông định hướng cho việc lựa chọn nghề nghiệp hay có những
buổi hội thảo giao lưu, tham quan sơ bộ đến trường nghề. Nhưng dường như những điều đó quá
mơ hồ chưa giúp các em định hình được một ngành nghề phù hợp, đúng sở thích là như thế nào.
2.4.2. Thực trạng tư vấn nghề nghiệp cho học sinh sinh viên tại trường hiện nay
Có bao nhiêu phần trăm hssv trong Trường Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore hiện
nay xác định rõ ràng những nghề nào liên quan trực tiếp đến nghề mình đang học? Những yêu
cầu cụ thể của các nghề ấy là gì? Đây là những vấn đề đặt ra để qua đó chúng ta thấy được bức
tranh tồn cảnh về công tác tư vấn nghề nghiệp cho hssv tại trường như thế nào.
2.4.3. Công tác tư vấn nghề nghiệp giúp học sinh lựa chọn nghề và trường theo học
Trong giai đoạn này các em lựa chọn nghề và đến với trường nghề có rất nhiều nguyên do
Hầu hết những học sinh sinh viên đang theo học tại trường là những học sinh vừa mới tốt
nghiệp THCS (đối với hệ trung cấp) và vừa mới tốt nghiệp THPT (đối với hệ cao đẳng). Khi
đang còn ngồi học ở các trường phổ thơng thì các em chỉ được tham gia tư vấn hướng nghiệp
chỉ có một vài tiết học để gọi là có trong chương trình học, điều này cho thấy cơng tác tư vấn
hướng nghiệp, tuyển sinh ngay từ buổi sơ khai đã quá sơ sài để giúp cho người học có thể định
hướng cho mình một ngành nghề phù hợp.
Hầu hết học sinh trung cấp của chúng ta cơ bản định hướng đi học nghề theo chủ trương

phân luồng. Các em vào trường nghề vì khơng thể học tiếp lên bậc THPT, các em đi học theo
nguyện vọng của gia đình, khơng phải do sở thích hay nguyện vọng của cá nhân. Học sinh sinh
viên gặp đầy rẫy khó khăn khi chọn nghề vì các thơng tin về các nghề gắn với ngành học còn
khiếm khuyết nghiêm trọng hoặc cũng khơng có chương trình hướng nghiệp nào trong trường
phổ thơng nói cho từng người biết rằng, với đặc điểm tâm li hay nhân cách của từng học sinh
thì họ thích hợp với những nghề gì. Thêm vào đó, thơng tin về sự tiến triển hay biến đổi của thị
trường lao động cũng vừa thiếu lại vừa yếu. Do vậy, rất ít học sinh sinh viên năm được những
nghề gì là xã hội đang cần, sẽ cần và sự biến chuyển quy mô cơ cấu của các nghề như thế nào.
210


Mặc dù có sự kết hợp chặt chẽ giữa cơng tác tuyển sinh giữa các trường nghề nói chung
(Trường CĐN Việt Nam –Singapore nói riêng) và các trường phổ thơng nhưng điều đó chỉ mới
là phần nào giúp các em hiểu rõ hơn về việc định hướng cho mình một ngành nghề phù hợp.
Hàng năm, các trường Trung học cơ sở trong và ngồi tỉnh đều có tổ chức những buổi cho học
sinh tham quan Trường chúng ta, nhưng dường như các em chỉ mới bước đầu làm quen với môi
trường học tập của trường nghề mà vẫn chưa được tiếp cận và hiểu rõ hơn từng ngành nghề cụ
thể và đặc biệt là chưa thể biết được bản thân mình phù hợp với ngành nghề nào.
Do cơng tác hướng nghiệp chưa hiệu quả, chưa sát với nhu cầu của xã hội mà áp lực phân
luồng học sinh của ngành giáo dục lại rất lớn dẫn đến tình trạng học sinh có xu hướng chọn
nghề theo phong trào, theo sự rủ rễ của bạn bè, thiếu sự định hướng của cơ quan có chức năng.
Do vậy, sau một thời gian theo học các em cảm thấy không phù hợp với nghề nên bỏ học, chờ
năm sau đăng ký học nghề khác. Đây là nguyên nhân khá phổ biến dẫn đến tình trạng bỏ học
trong học sinh sinh viên tại Trường Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore hiện nay.
Khi những dạng thơng tin “ngồi mình” như vậy vừa thiếu lại vừa yếu, người học chỉ còn
biết cách dựa vào chủ nghĩa kinh nghiệm, dựa vào gia đình hay mạng lưới bạn bè...để đưa ra cho
mình một quyết định chọn nghề “phù hợp nhất” phối hợp với cảm quan và trực giác của họ.
2.4.3.1. Tư vấn nghề nghiệp trong quá trình học tại trường
Khi khảo sát về công tác tư vấn nghề nghiệp trong q trình học tập tại trường thơng qua
giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, thông qua các buổi sinh hoạt của nhà trường vào đầu

các học kỳ/ năm học, thơng qua sinh hoạt Đồn- Hội và thơng qua q trình thực hành, thực tập
tại doanh nghiệp có ảnh hưởng đến mức độ yêu nghề và gắn bó với nghề đã chọn như thế nào?
Bảng 3.2 Kết quả khảo sát được thể hiện qua bảng như sau:
Giáo viên chủ
nhiệm tư vấn về
nghề và phương
pháp học tập
14
21,9%

Giáo bộ môn tư vấn
về nghề và phương
pháp học tập

Sinh hoạt của nhà
trường vào đầu các
học kỳ/ năm học

Sinh hoạt của tổ
chức Đồn – Hội

Q trình thực
hành, thực tập tại
doanh nghiệp

16
25,0%

8
12,5%


6
9,4%

20
31,3%

Qua khảo sát cho thấy vai trò của giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ mơn có ảnh hưởng
rất lớn trong việc tư vấn nghề nghiệp cho học sinh sinh viên. Người học có ý thức học tập tốt
hay khơng là do quá trình động viên, nhắc nhỡ, hướng dẫn về phương pháp học tập thích hợp
giúp người học vượt qua được những khó khăn ban đầu khi mới nhập học. Đây là nhân tố quan
trọng, quyết định đến việc duy trì sỉ số lớp. Qua quan sát nhiều năm cho thấy những lớp mà
giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ mơn quan tâm theo dõi ngay từ đầu thì các em nhanh chóng
đi vào nề nếp học tập, tình hình bỏ học được hạn chế.
Bên cạnh, việc quan tâm tư vấn, hỗ trợ hàng ngày của đội ngũ giáo viên thì quá trình thực
hành, thực tập tại doanh nghiệp cũng góp phần quan trọng cho người học trong việc định hướng
phát triển nghề nghiệp tương lai. Qua quá trình tham gia làm việc thực tế tại các doanh nghiệp
thì người học dần có cái nhìn rõ nét hơn về nghề mình đã chọn, những yêu cầu cụ thể cho từng
vị trí cơng việc mà nghề phải thực hiện. Từ đó người học có ý thức hơn về việc trau dồi kiến
thức, kỹ năng và tác phong làm việc, trang bị thêm cho mình những nội dung cịn khiếm khuyết,
chuẩn bị tốt cho công việc sau này.
211


Công tác sinh hoạt đầu năm học của nhà trường đối với tồn thể học sinh sinh viên ln
được duy trì. Qua đó, giúp người học nắm vững các nội qui, qui chế của nhà trường trong quá
trình học tập, sinh hoạt tại trường. Nội dung sinh hoạt còn cứng nhắc, chưa phong phú về mặt
nội dung để tạo sự hấp dẫn đối với người học. Hiện tại, sinh hoạt Đồn- Hội trong nhà trường
vẫn chưa có sức hấp dẫn thực sự đối với đông đảo người học do các hoạt động phong trào cịn
nhiều hình thức, chưa đi sâu vào các nội dung có liên quan đến nghề nghiệp.

2.4.3.2. Tư vấn nghề nghiệp cho học sinh sinh viên tốt nghiệp
Tư vấn nghề nghiệp cho học sinh sinh viên tốt nghiệp thông qua các kênh như: sinh hoạt
chuyên đề phát triển nghề nghiệp tương lai, lập nghiệp có sự tham gia của doanh nghiệp; Tổ
chức ngày hội việc làm/ Giới thiệu việc làm; Thiết lập diễn dàn của cựu học sinh sinh viên trao
đổi kinh nghiệm nghề nghiệp; Tư vấn trang bị các kỹ năng cần thiết cho công việc tương lai.
Qua khảo sát cho thấy hiện nay công tác tư vấn, giới thiệu việc làm cho người học được
thực hiện tương đối tốt. Đa số người học ra trường đều có việc làm. Tuy nhiên, mức độ phù hợp
của công việc khi người học ra trường đi làm tại các công ty do nhà trường giới thiệu đến mức
độ nào thì chưa thể khẳng định được, người học có gắn bó lâu dài với doanh nghiệp hay khơng
thì chưa có kênh thơng tin khảo sát nào của trường nhằm đánh giá về vấn đề này. Điều này thể
hiện qua việc điều tra theo dấu vết của người học tốt nghiệp được thực hiện chưa tốt, chưa đồng
bộ qua các kênh thơng tin.
2.5. Biện pháp hạn chế tình trạng học sinh sinh viên nghỉ học
2.5.1. Tư vấn nghề nghiệp cho học sinh sinh viên sớm
Cần định hướng cho học sinh sinh viên theo từng độ tuổi để hình thành, phát triển nhận
thức về các kỹ năng có liên quan đến nghề nghiệp tương lai. Hiện nay, công tác giáo dục hướng
nghiệp ở các trường phổ thông chủ yếu tập trung vào lớp 9 và lớp 12 – là những đối tượng
chuẩn bị bước vào thị trường lao động hoặc chuyển lên giáo dục đại học hoặc giáo dục nghề
nghiệp. Tư vấn nghề nghiệp là một quá trình, phải chuẩn bị cho học sinh sinh viên ngay từ khi
bước vào cánh cổng nhà trường. Trước mùa tuyển sinh, nhà trường có thể đến các trường phổ
thông tổ chức đưa các em đến tham quan quá trình đào tạo tại trường, qua đó giúp các em sớm
xác định được nghề mình u thích, phù hợp với năng lực của bản thân . Xác định sớm nghề
nghiệp phù hợp với năng lực, sở thích của học sinh sẽ đem lại sự lựa chọn đúng đắn trong việc
chọn nghề, chọn trường cho người học.
2.5.2. Tăng cường tích hợp tư vấn nghề nghiệp vào các môn học, mô đun
Mục tiêu đặt ra đối với mỗi môn học, mô đun là phải chỉ ra cho người học thấy được sự cần
thiết của môn học, mô đun đó, việc áp dụng kiến thức của mơn học, mơ đun đó vào thực tiễn cơng
việc như thế nào là một trong những điều quan trọng. Vấn đề đổi mới kiểm tra, đánh giá theo
hướng tiếp cận năng lực sinh viên khá gần gũi với tích hợp tư vấn nghề nghiệp vào các mơn học.
Q trình này đã hướng đến năng lực áp dụng những kiến thức đã học của sinh viên vào cuộc sống.

2.5.3. Nâng cao chất lượng tư vấn chọn nghề cho người học
Tư vấn chọn nghề ở các trường hiện nay mới dừng lại ở mức giới thiệu nghề nghiệp. Cần
chú trọng, nâng cao chất lượng của công tác này, nhằm giúp người học hiểu sâu sắc về những
cơ hội, thách thức cũng như rủi ro gặp phải trong nghề nghiệp. Đặc biệt, việc phát hiện ra sự
phù hợp giữa trí thơng minh, năng lực, sở thích của sinh viên với nghề nhóm nghề tương ứng
212


là hết sức quan trọng. Nó sẽ giúp định hướng tốt cho người học có thể học tập, lập kế hoạch
nghề nghiệp cũng như sẵn sàng để tham gia vào thị trường lao động tốt hơn.
2.5.4. Tư vấn nghề nghiệp phải kết hợp giữa lý thuyết và thực hành
Tư vấn nghề nghiệp phải kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Tư vấn tuyển sinh phải kết
hợp với việc tham quan, tìm hiểu thực tiễn đào tạo tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Tư vấn chọn
nghề đòi hỏi thực địa, tìm hiểu những khó khăn và thuận lợi của nghề nghiệp để người học hiểu
rõ và có sự yêu thích đối với nghề. Các kỹ năng mềm phải được thực hành thường xun thì
mới có thể thành thạo. Điều đó địi hỏi các bên liên quan phải nhập cuộc, đặc biệt là phát triển
mối quan hệ giữa nhà trường và các cơ sở sử dụng lao động. Nhà trường phải có kế hoạch đón
học sinh phổ thơng đến tham quan và qua đó tư vấn ngành nghề cho họ. Có như thế học sinh
mới có ấn tượng mạnh về nghề mà mình quyết tâm theo học.
2.5.5. Phát triển nhân sự tư vấn nghề nghiệp
Cán bộ làm công tác tư vấn nghề nghiệp phải là người am hiểu công tác hướng nghiệp,
nắm được các quy trình hướng nghiệp, trong đó có quy trình tư vấn nghề, có khả năng tổ chức
các khâu tư vấn nghề một cách khoa học và có hiệu quả. Có thể có mạng lưới những cộng tác
viên, giúp vào việc tư vấn cho từng ca cụ thể.
Cán bộ làm công tác tư vẫn nghề nghiệp cũng cần am hiểu về kỹ thuật làm các test hoặc
phụ trách về chiếu phim, chiếu các băng hình hoặc chỉ dẫn cách tìm tư liệu tra cứu, tham khảo.
2.5.6. Đầu tư cơ sở vật chất - kỹ thuật đối với tư vấn nghề nghiệp
Trước hết cần có máy tính nổi mạng Intemet để có thể truy cập những thơng tin về các
ngành nghề đang đảo tạo, những công nghệ đang thịnh hành trong sản xuất, những kỹ thuật mới
nhất rong thực tiễn sản xuất...

Cần có một tủ sách như một thư viện nhỏ mang tính chuyên đề về thế giới nghề nghiệp
và thế giới lao động.
Xây dựng những cơ sở dữ liệu về những sản phẩm của quá trình đào tạo, những chuyên
môn được các khoa đang giảng dạy.
Xây dựng hệ thống hồ sơ tư vấn nghề, danh sách những người đã đến để được thụ hưởng
dịch vụ tư vấn, nội dung tư vấn cho từng người, cập nhật thông tin về việc học tập, phấn đấu
của những người đã qua tư vấn.
Xây dựng bộ trắc nghiệm phục vụ cho công tác tư vấn và hệ thống phương pháp cụ thể
để giúp vào việc điều tra, phát triển những gì cần phải biết nhằm làm cho những lời khuyên
chọn nghề có độ chính xác và độ tin cậy cần thiết.
Lập mạng lưới liên hệ giữa phòng tư vấn với những “khách hàng” cần dịch vụ tư vấn như
mở những trang Web, những hòm thư điện tử v.v…
3. KẾT LUẬN
Để nâng cao công tác tuyển sinh và định hướng cho học sinh sinh viên chọn được một
ngành học phù hợp với bản thân tôi rút ra một số kinh nghiệm như sau:
213


Một là, Ngay từ khâu tuyển sinh, phải bố trí người am hiểu tư vấn nghề nghiệp rõ ràng
để các em xác định mục đích học tập, học xong làm được việc gì? Hoặc thơng tin cho các em
rõ về nghề nghiệp các em theo học như mức lương, vị trí việc làm…trong các buổi sinh hoạt
đầu khóa. Khơng chỉ tư vấn cho học sinh, chúng ta cần phải tư vấn cho phụ huynh nữa, bởi
phần lớn các em lựa chọn nghề nghiệp là do cha mẹ định hướng. Đúng như Thứ trưởng Nguyễn
Trọng Đàm đã nhấn mạnh: “Làm sao đẩy mạnh truyền thông để thay đổi nhận thức của khơng
chỉ học sinh mà cịn cả phụ huynh và xã hội về việc chọn nghề. Đồng thời tạo ra sự ràng buộc
để giữ học sinh.
Hai là, Phân loại lực học sinh ngay từ đầu để chia lớp, chọn giáo viên có trình độ chun
mơn và nghiệp vụ sư phạm tốt để chủ nhiệm, giảng dạy lớp có học sinh yếu, kém. giáo viên bộ
môn kết hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm lớp để nắm tình hình các em ở các khóa trước
xem các em đã thật sự ổn định học tập hay chưa đồng thời tìm hiểu, lập danh sách các đối tượng

lười học, vắng học thường xuyên, có nguy cơ bỏ học trong năm học mới rồi xác định nguyên
nhân, nắm bắt hoàn cảnh, điều kiện học tập.. để theo dõi, nhằm có giải pháp hỗ trợ, giúp đỡ kịp
thời. Hiện nay phịng cơng tác HS - SV đã có biện pháp theo dõi học sinh nghỉ học bằng báo
cáo tháng tuy nhiên cịn mang tính hình thức chưa mang lại hiệu quả.
Ba là, Nhà trường xây dựng kế hoạch hoạt động ngoại khóa nhiều hơn nữa để thu hút học
sinh đến trường. Bởi vì đối tượng của chúng ta là lứa tuổi rất nhạy cảm đặc biệt là hệ trung cấp
cho nên người giáo viên phải thương yêu, tôn trọng, gần gũi, ân cần, bao dung với thái độ nhẹ
nhàng nhưng nghiêm khắc trong việc giáo dục các em thơng qua các hoạt động ngoại khóa, các
hoạt động phải được tổ chức kết hợp đan xen trong chương trình học một cách hợp lý sao cho
phong phú, sinh động và hấp dẫn để giảm bớt mệt mỏi, căng thẳng cho học sinh do hằng ngày
các em phải tiếp thu một khối lượng kiến thức lớn khi đến trường, làm cho học sinh cảm nhận
được mỗi ngày đến trường là một ngày vui và ham thích đến trường. Các hoạt động bao gồm:
trò chơi tập thể, văn nghệ, phong trào cùng nhau đi học, phong trào cùng bạn học nghề giỏi, các
cuộc thi về chuyên môn... kết hợp tăng cường chú trọng việc tích hợp rèn luyện, giáo dục các
chuẩn mực đạo đức, kĩ năng sống, nhận thức xã hội cho học sinh.
Bốn là, Tất cả cán bộ giáo viên trong nhà trường phải cùng có ý thức hợp tác, phối hợp
đồng bộ trong các hoạt động bằng tất cả lịng u nghề, u cơng việc và tinh thần trách nhiệm,
tận tâm tận lực với nghề và hết lòng với học sinh. Hiện nay nhiều giáo viên, nhân viên các
phòng ban của chúng ta bây giờ vẫn cịn nói rất nặng lời, thái độ la mắng, cáu gắt học sinh khi
các em mắc lỗi thậm chí có những em bỏ học chỉ vì bị phê bình, các em tự ái nên nhất quyết
không chịu đến lớp nữa.
Năm là, Cần khuyến khích, khen thưởng những giáo viên sau một năm học đã có cơng
giáo dục học sinh cá biệt, học sinh yếu kém. Thực tế cho thấy, giáo dục một học sinh cá biệt,
có học lực yếu kém mất nhiều công sức, thời gian và chính họ là những người góp phần trực
tiếp làm giảm thiểu nguy cơ nghỉ học của học sinh.
Sáu là, Giáo viên chủ nhiệm liên lạc thường xuyên với phụ huynh học sinh để nắm tình
hình. Sự bng lỏng của gia đình là ngun nhân chủ yếu làm cho học sinh lơ là học tập. Sự
lười biếng học tập kéo dài sẽ dẫn đến hậu quả là thi lại, học lại nên chán nản bỏ học. Do đó giáo
214



viên chủ nhiệm lớp phải trực tiếp liên lạc với phụ huynh học sinh để trao đổi thông tin, nắm bắt
tình hình, cùng phụ huynh tìm ra các giải pháp phối hợp tốt nhất trong công tác quản lí và giáo
dục con em họ; góp phần duy trì tính chun cần, tích cực học tập của học sinh. Tích cực chủ
động liên lạc với phụ huynh học sinh nhất là những trường hợp học sinh cá biệt, thường xuyên
trốn học để phối hợp giáo dục. Đồng thời giáo viên chủ nhiệm phải thường xuyên trao đổi với
ban cán sự của lớp để theo dõi tình hình của lớp, kịp thời nắm bắt những thay đổi của lớp về
tình hình duy trì sĩ số học sinh để đề ra biện pháp và xử lý kịp thời khi có vấn đề xảy ra. Học
sinh chỉ cần vắng mặt một buổi học không lí do là giáo viên chủ nhiệm liên lạc với gia đình để
tìm hiểu nguyên nhân, vắng mặt 2 buổi không lí do là báo cáo ngay với bộ phận quản lý học
sinh - sinh viên để tìm biện pháp giải quyết kịp thời. Như vậy muốn làm tốt công tác này phải
có bộ phận chun làm cơng tác chủ nhiệm.
Bảy là, Nhà trường cần bổ sung trang thiết bị dạy học mới, những mơ hình thực tế đồng
thời chú trọng đổi mới phương pháp dạy học để giáo viên - học sinh hứng thú đam mê nghề hơn.
Ngoài ra, Quan tâm đời sống của học sinh như nhà vệ sinh, lớp học đẹp sạch sẽ, quạt điện
ở các phòng học lý thuyết nên bảo trì, sửa chữa thường xuyên, sắp xếp chỗ nghỉ trưa hợp lý cho
học sinh sinh viên ở cả 3 cơ sở.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Bảo Ngọc, “Tư vấn nghề nghiệp cho học sinh sinh viên- một trong những biện pháp góp
phần giảm thiểu học sinh sinh viên bỏ học”, sáng kiến kinh nghiệm .
2. Mạc Văn Tiến (TS), “Một số vấn đề hướng nghiệp trong lĩnh vực dạy nghề”, Ki yếu hội thảo quốc
tế Vấn đề và hướng đi cho giáo dục hướng nghiệp Việt Nam, Hà Nội, NXB. Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2005.
3. 5 nguyên tắc giáo dục học sinh chưa ngoan.
4. />5. />
215




×