Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Giáo dục trung học cơ sở thành phố Thủ Dầu Một giai đoạn 2015-2020

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (382.82 KB, 8 trang )

GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
GIAI ĐOẠN 2015 - 2020
Đặng Vũ Hồi An1
1. Lớp CH20LS01
TĨM TẮT
Ở vị trí dẫn đầu trong việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương, thành phố
Thủ Dầu Một (TPTDM) rất chú trọng phát triển giáo dục (GD), trong đó có GD trung học cơ
sở (THCS). Dựa vào bối cảnh quốc tế, Việt Nam, tỉnh Bình Dương nói chung và trên cơ sở
những số liệu thống kê về giáo dục THCS TPTDM nói riêng, bài viết khái quát tình hình hình
cũng như đưa ra những nhận xét về GD THCS trên địa bàn TPTDM giai đoạn 2015 – 2020.
Từ khóa: Giáo dục, Thủ Dầu Một, trung học cơ sở.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
“Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, là những lời căn dặn của
Bác Hồ về vai trò của GD trong sự phát triển bền vững của đất nước. Trong sự nghiệp cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn đặt GD ở vị trí ưu tiên và đầu tư cho
GD chính là đầu tư cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong hệ thống GD quốc dân
theo luật GD năm 2019, GD THCS thuộc GD phổ thơng có vai trị trong việc kết nối GD tiểu học
với GD phổ thông trung học và phân luồng học sinh (HS) sau tốt nghiệp đi vào GD nghề nghiệp.
GD THCS nói riêng cùng với ngành GD nói chung có đóng góp quan trọng trong việc phát triển
nhân tố “con người” – là mục tiêu và động lực để đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Trong xu thế tồn cầu hóa, sự phát triển của nền kinh tế tri thức cùng sự phát triển nhanh
chóng và mạnh mẽ của cơng nghệ thơng tin đã mang lại những cơ hội cũng như những thách
thức cho các nền GD trên thế giới trong đó có Việt Nam. Là một tỉnh thành nằm trong vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam và là một trong những địa phương phát triển kinh tế - xã hội hàng
đầu của cả nước, tỉnh Bình Dương ln giành sự ưu tiên đầu tư cho GD và xác định nhiệm vụ
của GD khơng những phải bắt kịp mà cịn phải đi trước, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh ở mức cao hơn.
Với vị trí và vai trị là trung tâm trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa của tỉnh
Bình Dương, giai đoạn 2015 – 2020, TPTDM đã ghi những cột mốc mới trong chặng đường
phát triển trong đó có việc được công nhận là đô thị loại I. Để giữ vững vị trí đi đầu trong việc
phát triển kinh tế - xã hội đồng thời là một hình mẫu trong việc phát triển đơ thị của tỉnh Bình


Dương, ngồi việc đầu tư cho phát triển hạ tầng, áp dụng công nghệ mới, TPTDM rất chú trọng
phát triển GD, trong đó có GD THCS. Dựa vào cơ sở phương pháp luận là lý luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam về GD, bài viết sử dụng phương pháp lịch sử để làm cơ sở đánh giá
tình hình GD THCS TPTDM một cách khách quan trước trước những yêu cầu mới của tình
115


hình thế giới, trong nước và định hướng phát triển của thành phố. Phương pháp logic cũng được
dùng để rút ra nhận xét về tình hình GD THCS TPTDM trong giai đoạn 2015 – 2020. Ngồi ra,
bài viết cịn vận dụng các phương pháp tổng hợp hệ thống hóa bằng bảng biểu để bài viết có
cái nhìn tổng qt hơn.
2. NỘI DUNG
2.1. Bối cảnh
Trong thế kỉ XXI, tình hình thế giới đã có những thay đổi tác động đến sự phát triển kinh
tế - xã hội của các quốc gia trên giới. Đầu tiên, đó chính là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ
tư hay Công nghiệp 4.0. Xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2013, từ khóa “Cơng nghiệp 4.0” dần trở
nên phổ biến và là một trong những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đến lĩnh vực GD. Bắt nguồn
từ cuộc cách mạng này, nền GD 4.0 xuất hiện với những công nghệ GD mới cùng những cơ hội
để phát triển GD. Năm 2020, sự bùng phát của đại dịch Covid 19 đã tác động mạnh đến việc dạy
học truyền thống khi các lớp học trực tiếp được thay thế bởi các lớp học trực tuyến; sự giao tiếp
vật lý bị hạn chế nhưng không gian tri thức lại mở rộng. Ngoài ra, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế đã tạo mơi trường thuận lợi để GD trong nước và địa phương tiếp cận với những mơ hình
hiện đại và tranh thủ những nguồn lực bên ngồi để phát triển.
Trong nước, để thích ứng với tình thế giới cũng những yêu cầu của xã hội, GD Việt Nam
bước vào quỹ đạo được định danh là “đổi mới căn bản và toàn diện” theo Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011) và Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 theo Quyết định
số 711/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ tháng 6 năm 2012. Theo đó, GD được xác định đứng
ở vị trí trung tâm của sự phát triển và được nhìn nhận như chìa khóa để vượt qua những thách
thức của thời đại (Bùi Minh Hiển và nqt.,2019). Năm 2013, Nghị quyết số 29 NQ/TW khóa 11

với việc cụ thể hóa các chủ trương, định hướng đổi mới GD mà Đảng và Nhà nước xác định được
thông qua đã mở ra cục diện mới cho phát triển GD Việt Nam. Trong tiến trình đẩy mạnh cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và tác động của công nghệ thông tin, Đại hội Đảng lần
thứ 12 (2016) xác định nhiệm vụ của GD trong 5 năm 2016 – 2020 là: Đổi mới căn bản và toàn
diện GD, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển, ứng
dụng khoa học, công nghệ; phát huy vai trò quốc sách hàng đầu của GD, đào tạo và khoa học,
công nghệ đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước (Bộ Quốc phòng, 2016, tr39). Đây là
định hướng không chỉ phù hợp với chủ trương xuyên suốt của Đảng về GD là “Giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu”, đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho sự phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước, mà nó cịn nhấn mạnh đến sự linh hoạt, thích ứng trước tình hình thế giới.
Đối với TPTDM, những năm 2015 – 2020, ngoài việc triển khai thực hiện những chủ
trương, chính sách về GD của Đảng và Nhà nước, ngành GD – ĐT tích cực triển khai nhiều
giải pháp nhằm thực hiện các chỉ tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TPTDM lần thứ XI
nhiệm kì 2015 - 2020 đã đề ra cho GD THCS: Xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên, giữ
vững; tạo quỹ đất, xây dựng cơ sở vật chất; nâng cao chất lượng đạt chuẩn quốc gia về phổ cập
GD; hoàn chỉnh hệ thống trường trên địa bàn thành phố (Đảng bộ TPTDM, 2015).
2.2. Hoạt động của giáo dục trung học cơ sở giai đoạn 2015 - 2020
2.2.1. Hệ thống trường lớp, giáo viên và học sinh: Là địa bàn phát triển nên dân số của
116


TPTDM tăng đều qua các năm với tốc độ gia tăng cao hơn trung bình của cả nước. Dân số
TPTDM đã tăng thêm 57.649 người từ 284.181 người năm 2015 lên 341.830 người năm 2020
(Chi cục thống kê tỉnh Bình Dương, 2021). Để đảm bảo 100% con em sinh sống trên địa bàn
có đủ chỗ học, TPTDM đã tạo nhiều điều thuận lợi để phát triển hệ thống trường học điển hình
là việc xây dựng thêm trường lớp. Tính đến năm học 2019 – 2020, trên địa bàn thành phố đã có
12 trường THCS cơng lập trên tổng số 14 phường. Ngoài ra, mạng lưới cơ sở vật chất, trang
thiết bị phục vụ giảng dạy cũng liên tục được quan tâm đầu tư, cải thiện. Trong các năm học,
bên cạnh cho sửa chữa, nâng cấp các trường hiện có, thành phố cũng cho xây dựng và đưa vào
sử dụng những ngơi trường mới như THCS Tương Bình Hiệp ở phường Tương Bình Hiệp,

trường THCS Nguyễn Thị Minh Khai trên địa bàn phường Phú Thọ và xây dựng mới trường
THCS Hiệp An ở phường Hiệp An. Với sự đầu tư đó, từ tỉ lệ lầu hóa chỉ đạt 80,4 % trong năm
học 2015 – 2016, đến năm năm học 2019 -2020, 100% trường lớp THCS trên địa bàn thành
phố đã được lầu hóa và xây dựng kiên cố. Vì vậy, tuy số lượng HS tăng đều qua các năm học,
thành phố đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu học tập của HS và duy trì tỉ lệ HS/lớp qua các năm đều
không vượt quá 37 HS, phù hợp với điều lệ trường học của Bộ GD-ĐT.
Năm học
2015 - 2016
2016 - 2017
2017 – 2018
2018 – 2019
2019 - 2020
Trường
12
12
12
12
12
Lớp
415
440
446
466
502
Giáo viên
839
857
937
968
956

Học sinh
15207
16339
17439
18218
19361
Bảng thống kê số lượng trường, lớp, học sinh và giáo viên các trường THCS công lập ở TPTDM qua
các năm học từ năm 2015 - 20203

“Trong công tác và đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới GD, đội ngũ giáo viên và cán bộ
GD là nhân tố quyết định đối với chất lượng GD” là lưu ý của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi
đề cập đến vấn đề phát triển khoa học – GD Việt Nam. Một trong những giải pháp để thực hiện
thành công đổi mới trong Chiến lược phát triển GD giai đoạn 2011 – 2020 là phát triển nguồn
nhân lực cho ngành GD hay phát triển đội ngũ nhà giáo. Vì vậy, trong các hoạt động GD, thành
phố luôn tạo điều kiện để đội ngũ giáo viên và các cán bộ quản lý được bồi dưỡng, nâng cao
chuyên mơn nghiệp vụ của mình. Hàng năm, Sở GD-ĐT Bình Dương và phịng GD-ĐT
TPTDM ln tổ chức các lớp học bồi dưỡng thường xuyên hè để giáo viên trao đổi chun mơn
và mời những những giảng viên có kinh nghiệm đến từ các trường Đại học Sư phạm lớn trên
cả nước đến tập huấn. Hơn nữa, thực hiện chủ trương chung của tỉnh, phòng GD-ĐT TPTDM
cũng tạo điều kiện cho các giáo viên nâng cao trình độ bằng việc tạo điều kiện, hỗ trợ học phí
cho giáo viên học liên thông lên đại học hay học nâng cao ở bậc thạc sĩ. Tỉ lệ giáo viên đứng
lớp và cán bộ quản lý đạt chuẩn mỗi năm học luôn là 100%, trong đó tỉ lệ vượt chuẩn tăng dần
qua các năm. Hàng năm, cùng với giáo viên các bậc học, giáo viên THCS cũng tham gia các
hội thi giáo viên giỏi của thành phố, giải thưởng Võ Minh Đức của tỉnh và đạt được nhiều thành
tích cao4. Để nâng cao hơn nữa chất lượng giảng dạy của giáo viên, thực hiện theo chủ trương
của ngành GD – ĐT tỉnh, phòng GD-ĐT TPTDM đã tổ chức thi tuyển viên chức thay cho hình
thức xét tuyển, đây là một sự thay đổi phù hợp vừa tạo nên tính cơng bằng trong việc tuyển
Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương năm trong các năm từ năm 2015 đến năm 2020, Chi cục thống kê tỉnh
Bình Dương.
4

Trong 2 năm học liên tiếp 2016 – 2017 và 2017 – 2018, có 2 giáo viên thuộc Phịng GD - ĐT đạt giải nhất giải
thưởng Võ Minh Đức.
3

117


chọn vừa tạo được nguồn giáo viên có chất lượng tốt hơn, cao hơn đáp ứng mục tiêu đổi mới
GD của thành phố. Ngoài ra chính sách thu hút nhân tài cũng là một trong những điểm đáng
chú ý góp phần nâng cao chất lượng GD trong những năm học vừa qua.
2015 - 2016
2016 - 2017
2017 – 2018 2018 – 2019 2019 - 2020
Tỉ lệ HS khá – giỏi
61,7% 60.98 %
63,68 %
62,17 %
63 %
Tỉ lệ HS yếu - kém
8,5 % 8,72 %
7,4 %
8,1 %
6,06 %
Tỉ lệ HS tốt nghiệp THCS
94,7 %
94,7 %
94,8 %
94,9 %
96,15 %
Bảng tổng hợp kết quả xếp loại học lực cuối năm học và kết quả xét tốt nghiệp THCS từ năm 2015 đến

năm 20205

Với đội ngũ giáo viên đảm bảo số lượng và chuẩn hóa về trình độ đào tạo, chất lượng
việc dạy – học được duy trì. Tỉ lệ HS khá - giỏi, tỉ lệ HS hồn thành chương trình THCS được
giữ vững qua các năm học. TPTDM luôn đứng đầu các huyện, thị trong tỉnh Bình Dương về
kết quả thi tuyển sinh lớp 10 và kết quả hội thi Olympic cho HS lớp 9. Đặc biệt, trong việc nâng
cao chất lượng và hiệu quả dạy học, các trường THCS rất chú trọng cho HS nghiên cứu khoa
học. Hàng năm, ở các trường đều tổ chức hội thi khoa học kĩ thuật cho HS để tạo môi trường
cho HS nghiên cứu, vận dụng những kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Năm
học 2019 – 2020, sản phẩm dự thi Khoa học kĩ thuật cấp tỉnh của các trường THCS đã giành
được 1 giải nhì và 1 giải khuyến khích. Có thể nói trong những năm học vừa qua, TPTDM đã
khơng ngừng đầu tư cơ sở vật chất, đội ngũ GV nhằm đáp ứng tình hình kinh tế - xã hội của
thành phố và nhu cầu học tập của HS trên địa bàn. Sự đầu tư này đã tạo nên một nền tảng vững
chắc cho sự phát triển của GD TPTDM nói chung và GD THCS nói riêng.
2.2.2. Giáo dục trung học cơ sở với việc thực hiện đổi mới giáo dục
Trong những năm học vừa qua, ngành GD của cả nước đã có những sự thay đổi mạnh mẽ
với phương châm GD “lấy người học làm trung tâm” hay gần nhất là chương trình giáo dục
2018 được ban hành, gắn liền với sự thay đổi sách giáo khoa giáo dục phổ thơng theo lộ trình
từ năm học 2019 – 2020. Để tích cực chuẩn bị các điều kiện triển khai đổi mới sách cùng với
sự thích ứng với phương châm GD mới, những đổi mới về về phương pháp dạy, học và kiểm
tra đánh giá đã được áp dụng trong toàn ngành GD. Giáo viên bậc THCS đã áp dụng những
phương pháp dạy học theo hướng tích cực nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của
HS. Ngồi ra, ở các trường còn triển khai GD đạo đức, lối sống, kĩ năng sống và tăng cường
hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cho HS.
Với vị trí là trung tâm của của tỉnh Bình Dương, trong quá trình thực hiện đổi mới, ngành
GD-ĐT TPTDM đặc biệt quan tâm đến mục tiêu hội nhập và hợp tác quốc tế. Vì vậy, việc dạy
học ngoại ngữ rất được chú trọng, nhất là môn tiếng Anh. Bên cạnh trường THCS Chu Văn An
luôn là một hình mẫu về việc giảng dạy ngoại ngữ, trên địa bàn thành phố cịn có 03 trường
THCS thực hiện dạy tiếng Anh tăng cường và có lớp tạo nguồn tiếng Anh là Nguyễn Thị Minh
Khai, Phú Cường và Định Hòa. Trong năm học 2015 – 2016, các trường chỉ tổ chức được mỗi

khối/1 lớp tiếng Anh tăng cường. Năm học 2019 – 2020, con số đã tăng lên 3 lớp/mỗi khối. Ở
các trường cịn lại, mơn Tiếng Anh được tổ chức dạy tăng tiết để đảm bảo kiến thức và tăng cơ
hội rèn luyện ngoại ngữ cho HS. Trong các tiết học, HS được học tập và tăng cường rèn luyện
cả 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Một số trường còn liên kết với các trung tâm ngoại ngữ như
5

Kết quả tổng hợp từ các báo cáo tổng kết năm học của Phòng GD – ĐT TPTDM trong các năm học từ 2015-2020.

118


ILA, Bolt…để mời GV nước ngoài về giảng dạy nhằm tạo cơ hội cho HS giao tiếp với người
bản xứ. Bình Dương là tỉnh thu hút khá nhiều doanh nghiệp đầu tư từ Nhật Bản nên bên cạnh
tiếng Anh, tiếng Nhật đã được thí điểm đưa vào giảng dạy tại các trường phổ thông trên địa bàn
tỉnh từ năm học 2014 – 2015. Tại TPTDM, trường THCS Nguyễn Viết Xuân được lựa chọn để
triển khai việc dạy tiếng Nhật với sự đăng kí tham gia ban đầu của khoảng 200 HS khối 6,7.
Đầu tư cho việc dạy học ngoại ngữ khơng chỉ giúp ích cho việc học tập của HS mà cịn mang
lại nhiều lợi ích cho việc phát triển nghề nghiệp của các em sau này. Sự đầu tư của ngành GD
cho việc dạy học ngoại ngữ không chỉ giúp trang bị cho HS công cụ đầu tiên trong hành trình
trở thành cơng dân tồn cầu mà cịn góp phần chuẩn bị nguồn nhân lực có trình độ cho quá trình
hội nhập quốc tế của TPTDM và tỉnh Bình Dương.
Triển khai thực hiện Đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong quản
lý và hỗ trợ hoạt động dạy và học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng GD và
đào tạo giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2025 theo quyết định số 117/QĐ-TTg ngày
25/1/2017 của Thủ tướng Chính phủ và kế hoạch của tỉnh Bình Dương, bên cạnh ngoại ngữ,
CNTT cũng được đẩy mạnh trong dạy, học và công tác quản lý. Trong giảng dạy, các giáo viên
đều tăng cường ứng dụng CNTT vào công tác. Dưới sự đầu tư về cơ sở vật chất của thành phố,
các trường THCS đều được trang bị bảng tương tác, phịng học có máy chiếu hoặc màn hình
tivi để hỗ trợ hoạt động dạy - học. 100% các tiết dạy dự thi, thao giảng trong các năm học đều
ứng dụng CNTT, đặc biệt là sử dụng bảng tương tác trong các cuộc thi giáo viên giỏi của thành

phố và tỉnh. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên đã biết khai thác sức mạnh của CNTT để tăng
tính hấp dẫn cho bài học và thu hút sự chú ý của HS. Ngoài ra, CNTT được tăng cường trong
công tác quản lý HS và cán bộ. Giai đoạn đầu tiên là đẩy mạnh tin học hóa trong cơng tác quản
lý, tập trung xây dựng hệ thống thông tin kết nối thông suốt giữa Sở GD-ĐT và Ủy ban Nhân
dân TPTDM với Phòng GD-ĐT. Hiện nay, thực hiện đề án xây dựng TPTDM thành đô thị
thông minh, ngành GDĐT TDM đã vận hành cổng thông tin điện tử với trang thông tin của tất
cả các THCS trên địa bàn. Ngoài ra, để tạo mối liên hệ thường xuyên, liên tục giữa nhà trường
với phụ huynh HS, sổ liên lạc điện tử đã được triển khai thông qua ứng dụng trên điện thoại
thông minh. Từ năm học 2019 – 2020, phương thức thanh tốn khơng dùng tiền mặt cũng đã
được áp dụng trong việc thu học phí và các khoản thu hộ. Đặc biệt, trong bối cảnh của đại dịch
Covid 19, với phương châm “Tạm dừng đến trường, không dừng học”, việc dạy học trực tuyến
đã được triển khai nhanh chóng đến các trường, giáo viên và HS được tập huấn để sử dụng các
ứng dụng trong việc dạy, học trực tuyến. Nhờ vậy, năm học 2019 – 2020 vẫn kết thúc đúng thời
gian quy định theo khung kế hoạch năm học của Bộ GD-ĐT.
2.3. Hoạt động xã hội hóa giáo dục:
Trong tiến trình đổi mới GD, xã hội hóa (XHH) được xem là nội dung quan trọng và là
một trong ba tiêu chí của GD Việt Nam. Đại hội XI của Đảng xác định “phát triển GD – ĐT
là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân, là quốc sách hàng đầu. Do vậy, phải tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng, huy động cả hệ thống chính trị, phát huy đóng góp của mọi
tầng lớp nhân dân chăm lo cho phát triển sự nghiệp GD – ĐT”. Nghị quyết số 29 NQ/TW
cũng xác định: “Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường,
bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Phát triển hài
hịa, hỗ trợ giữa giáo dục cơng lập và ngồi cơng lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư
119


phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên
giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội
hóa giáo dục và đào tạo”. Tại TPTDM, thực hiện Chương trình số 10-Ctr/TU của Thành ủy
về phát triển XHH trên các lĩnh vực văn hóa, GD, y tế giai đoạn 2016 – 2020 và Kế hoạch

74/KH-UBND ngày 22/5/2017 của UBND TPTDM về công tác XHH đã tạo điều kiện cho
công tác XHH GD có nhiều chuyển biến tích cực. Trước hết, các trường ngồi cơng lập được
khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư và phát triển. Bên cạnh 12 trường THCS cơng
lập, cịn có 5 trường có cấp THCS trong thành phố6 với số lượng HS không ngừng tăng lên
qua các năm học. Ngoài ra, việc thực hiện vận động đầu tư các cơng trình XHH thuộc lĩnh
vực GD trên địa bàn thành phố cũng được tạo điều kiện. Hàng năm, ngành GD-ĐT TPTDM
luôn thực hiện rà sốt, dự báo quy mơ phát triển GD để từ đó tạo điều kiện cho các tổ chức,
cá nhân tham gia XHH GD ở các cấp học. Các trường THCS cùng với mầm non, tiểu học mỗi
năm đều huy động các nguồn lực xã hội đóng góp cho hoạt động giáo của nhà trường nói
riêng và của thành phố nói chung. Năm học 2015 – 2016, công tác vận động xã hội hóa ở các
trường đã huy động được 6.055.886.000 đồng (Phòng GD-ĐT, 2016), năm học 2016 – 2017
là 4.495.162.000 đồng (Phòng GD-ĐT 2017). Nguồn thu từ chủ trường XHH GD được sử
dụng để mua sắm trang thiết bị, nâng cấp cơ sở vật chất và khuyến khích các hoạt động dạy
– học của GV và HS. Xuyên suốt các năm học, thực hiện cuộc cuộc vận động “Tiếp bước cho
em đến trường”, Hội khuyến học thành phố với nhiều hình thức vận động đã xây dựng được
các quỹ khuyến học với sự tham gia của các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, góp phần giúp
đỡ cho những HS nghèo, có hồn cảnh khó khăn tiếp tục việc đến trường. Năm học 2019 –
2020, phòng GD-ĐT cùng Hội khuyến học đã vận động các lực lượng xã hội đóng góp cho
phong trào khuyến học, khuyến tài trên địa bàn thành phố với tổng kinh phí là 3.841.509.800
đồng (Phịng GD-ĐT, 2020). Các chi hội khuyến học cũng được thành lập ở 12/12 trường
THCS công lập của thành phố với sự tham gia của toàn thể phụ huynh HS và cán bộ nhân
viên nhà trường. Các chi hội khuyến học tại các trường đã triển khai nhiều hình thức hỗ trợ
kịp thời về chi phí học tập cho học sinh có hồn cảnh khó khăn, chi phí điều trị cho các em
bị bệnh nặng…để các em có thể tiếp tục việc học của mình. Tuy hoạt động XHH GD ở
TPTDM khơng phải diễn ra mạnh nhất ở bậc THCS, nhưng quá trình huy động các nguồn lực
xã hội ở bậc học này cũng đã góp phần vào kết quả chung trong sự thành công của hoạt động
XHH GD của thành phố.
3. KẾT LUẬN
Trong giai đoạn 2015 – 2020, tuy có nhiều thử thách do ảnh hưởng của tình hình thế giới
cũng như chủ trương đổi mới GD trong nước, với sự quan tâm và đầu tư cho GD ngày càng cao

của TPTDM, GD THCS đã đạt được những thành tựu sau:
Thứ nhất, quy mô GD và mạng lưới cơ sở GD THCS phát triển với cở sở hạ tầng được
đầu tư thích đáng. Tính cả trường THCS Hiệp An được đưa vào sử dụng từ năm học 2020 –
2021, mỗi phường đều có một trường THCS với 100% các trường đã được lầu hóa. Một số
trường được xây dựng mới để đảm bảo tăng số lớp học, đáp ứng nhu cầu học tập của HS trên
6

Trường Nguyễn Khuyến, trường Petrús Ký, trường Việt Anh, trường Ngô Thời Nhiệm, trường Thế giới trẻ em

120


địa bàn như trường THCS Nguyễn Thị Minh Khai, trường THCS Phú Hịa, trường THCS
Tương Bình Hiệp. Đặc biệt, cơ sở vật chất, các thiết bị hỗ trợ dạy học được đầu tư và quan tâm.
Các trường đều có phịng học trang bị bảng tương tác thông minh, bàn ghế học tập đảm bảo
chuẩn và được thay thế hư hỏng mỗi năm.
Thứ hai, chất lượng GD được nâng lên và có bước phát triển. Ngồi kết quả học tập cuối
năm đều có sự tăng lên qua từng năm học, GD THCS đã có nhiều đóng góp cho thành tích
chung của GD TPTDM. Năm học 2019 – 2020, kết quả xét tốt nghiệp THCS đạt tỉ lệ 96,15%
(tăng 1,25% so với năm học 2018 – 2019) và kết quả HS dự thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT
đứng đầu tỉnh. Trong các cuộc thi cấp tỉnh, các trường THCS trên địa bàn đều đạt được thứ
hạng cao, khẳng định vị trí dẫn đầu của GD thành phố. Năm học 2019 – 2020, 12/12 trường
THCS đều đã đạt trường chuẩn quốc gia và 14/14 phường đều đạt chuẩn phổ cập bậc trung học
theo quyết định 3086 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương.
Thứ ba, có sự thích ứng nhanh chóng với tình hình mới. Đầu tiên đó là tăng cường việc
giảng dạy ngoại ngữ. Thứ hai là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy, học và
quản lý. Trong năm học 2019 – 2020, khi đại dịch Covid bùng phát, phương thức dạy học trực
tuyến được triển khai nhanh chóng. Các phương pháp, hình thức GD mới được thầy cơ, nhà
trường sáng tạo, linh hoạt, góp phần tạo tiền đề thúc đẩy chuyển đổi số mạnh mẽ trong ngành
GD của thành phố. Kết quả là việc dạy học vẫn đảm bảo và các mục tiêu chương trình năm học

vẫn được hồn thành.
Thứ tư, Bình Dương là tỉnh phát triển công nghiệp, đô thị nhanh với trên 52% là người lao
động từ các nơi tới làm ăn, sinh sống nên nhu cầu về hạ tầng GD là rất lớn. Với đặc thù trung tâm
của cả tỉnh đồng thời là một hình mẫu của việc xây dựng đơ thị, ngồi nguồn kinh phí từ ngân sách
từ tỉnh, ngành GD TPTDM cũng đa dạng hóa nguồn lực đầu tư từ doanh nghiệp để mở rộng cơ
hội tiếp cận GD của HS trên địa bàn giải quyết bài toán về thiếu trường, thiếu lớp.
Xuyên suốt quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định GD là quốc
sách và đầu tư cho GD chính là đầu tư cho sự phát triển. Lãnh đạo của tỉnh Bình Dương nói
chung và TPTDM nói riêng đã có những chỉ đạo, chính sách ưu tiên cho GD để tạo nên tiền đề,
cho sự phát triển của ngành GD trong đó có GD THCS. TPTDM là trung tâm kinh tế - văn hóa
– chính trị của tỉnh Bình Dương, là đơ thị trung tâm và từng bước sẽ hướng tới trở thành một
đô thị hiện đại, thông minh trong tương lai. Những kết quả đạt được của GD THCS TPTDM
trong 5 năm qua đã minh chứng cho những chính sách đúng đắn trong đường lối chỉ đạo của
tỉnh và thành phố. Những thành tích trên vừa thể hiện sự kế thừa truyền thống GD ở Bình
Dương xưa nói chung, TPTDM nói riêng và vừa viết tiếp những thành tựu của TPTDM trong
tiến trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Ngọc Ánh và Nguyễn Kiều Lan Hương (2018). Giáo dục Việt Nam: Thực trạng, cơ hội và
thách thức. Tạp chí Giáo dục lý luận, số 279, 54 - 60
2. Bộ quốc phòng (2016). Quan điểm của Đảng về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ trong
Văn kiện Đại hội XII. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia sự thật, 2016
3. Cục thống kê tỉnh Bình Dương. Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương các năm 2015, 2016, 2017,
2018, 2019, 2020.

121


4. Đảng Bộ thành phố Thủ Dầu Một (2015). Văn kiện Đại hội đại biểu của Đảng bộ thành phố Thủ
Dầu Một lần thứ XI nhiệm kì 2015 -2020.
5. Đảng Bộ thành phố Thủ Dầu Một (2020). Văn kiện Đại hội đại biểu của Đảng bộ thành phố Thủ

Dầu Một lần thứ XI nhiệm kì 2020 – 2025.
6. Nguyễn Văn Hiệp – Phạm Văn Thịnh (2014). Những chặng đường phát triển của ngành giáo dục
tỉnh Bình Dương (1945 – 2014). Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, 3(16), 68 – 77.
7. Bùi Minh Hiển và Nguyễn Quốc Trị (2019). Lịch sử giáo dục Việt Nam. Hà Nội: NXB Đại học
Sư phạm.
8. Nguyễn Thị Thanh Hương (2012). Phát triển hệ thống giáo dục phổ thông ở Việt Nam từ năm 1975
đến nay. Tạp chí khoa học xã hội, 11(171), 25-34
9. Nguyễn Bách Thắng (2018), Kinh nghiệm một số nước về phát triển nguồn nhân lực và vận dụng
vào Việt Nam. Tạp chí khoa học giáo dục Việt Nam, số 3, 117 – 120.
10. Bùi Kiên Trung – Nguyễn Đức Hòa – Lê Thu Thủy. Giáo dục 4.0 – Tầm nhìn mới cho giáo dục
tương lai, />
11. Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Thủ Dầu Một. Báo cáo tổng kết các năm học 2014 – 2015,
2015 – 2016, 2016 – 2017, 2017 – 2018, 2018 -2019, 2019 – 2020.

122



×