HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO HỌC VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA
CÁC TRƯỜNG THIẾU SINH QUÂN VIỆT NAM CỘNG HÒA
(1967-1975)
Nguyễn Tấn Cường1
1. Lớp: CH21LS01
TÓM TẮT
Sau ngày 26/10/1955, sau khi lên nắm chính quyền, Ngơ Đình Diệm đã hủy bỏ chế độ
“Hồng triều cương thổ” và tiến hành chính sách “Đồng hóa đồng bào Thượng” chính sách
trên đã đi ngược lại phong tục tập quán của người đồng bào dân tộc thiểu số, dẫn đến sự mất
bình đẳng giữa người đồng bào dân tộc thiểu số với người Kinh. Cuối cùng, dẫn đến phong
trào nổi dậy tự vệ và đòi quyền lợi của người Thượng ở Tây Nguyên: phong trào BaJaRaKa
(1957-1958). Đến tháng 11/1963, chính quyền Ngơ Đình Diệm bị lật đổ, tuy nhiên, các phong
trào của đồng bào Thượng vẫn liên tiếp diễn ra, nổi bật là phong trào FULRO (1964) ở Tây
Nguyên. Nhận thức được nguồn gốc sự nổi dậy của đồng bào dân tộc thiểu số ở miền Nam Việt
Nam, các Tướng lĩnh cấp cao của Hội đồng quân nhân Cách mạng, liên tiếp thay nhau nắm
chính quyền (1963-1967) đã phóng thích và trọng dụng các lãnh đạo của người đồng bào Thiểu
số. Đến khi chính quyền nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa được thiết lập, đã giải quyết một cách
triệt nguồn gốc trên, ngoài ra, còn ban hành nhiều quy chế riêng biệt để nâng đỡ phát triển cho
đồng bào dân tộc thiểu số ở miền Nam Việt Nam. Trong đó, chính sách đào tạo qn sự cho
con em đồng bào dân tộc thiểu số tại các trường Thiếu Sinh Quân, là một hình thức chiến lược
cai trị và đàn áp kiểu mới, đào tạo ra một lực lượng Sĩ quan và binh sĩ “nguồn” trong việc phát
triển quân đội Việt Nam Cộng hòa và góp phần giữ vững địa bàn chiến lược ở Tây Nguyên và
tồn lãnh thổ miền Nam Việt Nam.
Từ khóa: Đồng bào thiểu số, người Thượng, Ngơ Đình Diệm, Đệ Nhị Việt Nam Cộng hòa,
Thiếu Sinh Quân.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chính quyền nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa sau khi được thiết lập, do Nguyễn Văn
Thiệu đứng đầu, thấy được tầm quan trọng và những bất ổn trên địa bàn Tây Nguyên tác động
đến tình hình miền Nam Việt Nam. Nguyễn Văn Thiệu đã khích lệ, động viên các đồng bào
Thiểu số và tuyên truyền về vai trò của họ trong cộng đồng của Quốc gia. Ngày 01-04-0967,
Nguyễn Văn Thiệu đã công bố đường lối của chính sách “Đại đoàn kết dân tộc” được thông
qua trong Hiến Pháp của chính phủ Việt Nam Cộng hịa, trong đó nổi bật là các điều khoản: 2,
24, 97, 98. Ngoài ra, chính quyền nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa “Ban hành sắc luật 033/67”
đây là những quy chế riêng biệt cho đồng bào Thượng, cơng nhận người đồng bảo dân tộc thiểu
số có đủ tất cả quyền lợi như người Kinh và quan trọng còn được hưởng các biện pháp hỗ trợ
và nâng đỡ đặc biệt. Quan trọng, việc người đồng bào dân tộc thiểu số có đủ quyền lợi như
105
người Kinh, thì bản thân người đồng bào dân tộc thiểu số cũng phải có trách nhiệm bảo vệ Quốc
gia, đứng trước việc quân đội Hoa Kỳ và quân đồng minh từng bước rút dần lực lượng, để lại
một khoảng trống khơng hề nhỏ. Trước những tình hình trên, Bộ quốc phòng của chính quyền
Việt Nam Cộng hòa, đã tổ chức thăm, gặp gỡ, các đơn vị “Lực lượng Dân sự chiến đấu” hay
còn được gọi tắt “Biệt kích CIDG” đây là các đơn vị bán quân sự chính quy của cộng đồng các
dân tộc thiểu số ở miền Nam Việt Nam, khuyến khích các thanh thiếu niên người Thượng tham
gia học tập đào tạo tại các trường quân sự chiến đấu và đào tạo cấp chỉ huy quân sự, thành lập
trường “Quốc gia Nghĩa Tử”, “Thiếu Sinh quân” ở Tây Nguyên, dành riêng cho con em các Sĩ
tử đồng bào dân tộc thiểu số, tổ chức thu nhận và đào tạo một cách chính quy,…Với việc động
viên và khích lệ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, đã thu hút một lực lượng lớn thanh thiếu
niên người đồng bào dân tộc thiểu số gia nhập và theo học tại các trường quân sự và bán quân
sự, qua đó đã hình thành một lực lượng quân sự và bán quân sự từ cấp đơn vị địa phương đến
cấp Sư đoàn. Đây được xem như hình thức cụ thể hóa “chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh”,
chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở Tây Nguyên, xây dựng một lực lượng “quân sự hóa” đến
đồng bào dân tộc thiểu số, bắt buộc họ chiến đấu chống lại Cách mạng, đây là một hành động
hết sức thâm độc của chính quyền Việt Nam Cộng hịa.
2. NỘI DUNG
2.1. Khái qt chính sách đối với các dân tộc thiểu số của chính quyền Việt Nam Cộng
hòa (1967 - 1975)
2.1.1. Khái quát về cộng đồng các dân tộc thiểu số ở miền Nam Việt Nam (1967 – 1975)
Lãnh thổ miền Nam Việt Nam (1954 – 1975) từ vĩ tuyến 17 cầu Hiền Lương sông Bến
Hải trải dài đến tận mũi Cà Mau, dân số miền Nam Việt Nam từ 1954 – 1975, có hơn 33 triệu
người. Trong đó, có hơn 3,5 triệu người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trải dài trên lãnh
thổ miền Nam Việt Nam:
Đồng bào Thượng miền Nam Việt Nam: cư trú ở địa bàn Cao Nguyên Trung phần và
vùng Thượng du các tỉnh Trung phần. Được chia thành hai nhóm theo ngơn ngữ:
- Nhóm ngơn ngữ mơn Khmer khoảng 550.000 người gồm các sắc tộc từ Komtum, Bình
Định trở ra Quảng Trị và từ Quảng Đức trải dài đến hết ranh giới Cao Nguyên gồm có:
“ + Bru hay Pacoh tại Quảng Trị - Thừa Thiên.
+ K’Tu tại Quảng Nam – Quảng Tín.
+ Hré và Cua tại Quảng Ngãi.
+ Bahnar, Sédang, Dié, Halang tại Komtum – Bình Định.
+ Cil, Kaho tại Tuyên – Đức, Lâm – Đồng.
+ Maa tại Lâm – Đồng, Tuyên – Đức.
+ M’ Nong tại Quảng – Đức, Darlac, Lâm – Đồng.
+ Chroo tại Long – Khánh, Bình – Tuy.
+ Stiêng tại Bình – Long, Phước – Long, Tây – Ninh” (Nguyễn Trắc Dĩ, 1972).
106
- Nhóm Malayo – Polynesien chừng 450.000 người gồm các sắc tộc chịu ảnh hưởng của
Chàm tại Pleiku, Phú Bổn và các sắc tộc ở vùng Thượng du từ Phú n trải dài xuống đến Bình
Thuận gồm có:
“+ Sắc tộc Jarai ở Pleiku, Phú – Bổn.
+ Sắc tộc Rhadé, Bih, K’Tul ở Banmêthuột, Darlac và Khánh – Hòa.
+ Sắc tộc Hroi ở Phú – Yên.
+ Sắc tộc Chăm ở quận Vân – Canh, Bình – Đinh.
+ Sắc tộc Raglai hay Roglai ở Ninh – Thuận, Bình – Thuận.
+ Sắc tộc Churu ở Tuyên – Đức” (Nguyễn Trắc Dĩ, 1972).
Đồng bào Thượng du Bắc Việt: dân số khoảng 100.000 người di cư từ Bắc Vào Nam
trong cuộc di cư năm 1954. Sinh sống và định cư tại các tỉnh: Cam – Ranh, Bình – Thuận,
Darlac, Tuyên – Đức, Lâm – Đồng, Long – Khánh, Bình – Tuy, Đơ thành Sài gịn, Gia – Định,
Biên – Hòa và Kiên – Giang.
Sắc tộc Chàm: dân số chừng 70.000, sử dụng ngôn ngữ Malayo – Polynesien, cư ngụ tại các
tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Châu Đốc, Tây Ninh và một số nhỏ ở Bình – Tuy và Bình – Long.
2.2. Khái qt chính sách của chính quyền Việt Nam Cộng hịa đối với các dân tộc
thiểu số (1967 – 1975)
Ngày 08/03/1965, sự kiện 02 Tiểu đoàn Lính Thủy quân Lục chiến của Quân đội Hoa Kỳ,
đang đóng quân trên quần đảo Okinawa Nhật Bản, đã đổ bộ vào bãi biển Đà Nẵng đã đánh dấu
sự thất bại của Chủ nghĩa Thực dân mới của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam, với sức mạnh về
Binh lực và Hỏa lực của quân đội Hoa Kỳ và quân Đồng minh, quân đội Việt Nam Cộng hòa
đã mở các cuộc hành quân tập trung vào các vùng nông thôn và rừng núi, là nơi mà cơ sở hạ
tầng của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa
dùng để tập kết vũ khí và nhu yếu thẩm thiết yếu phục vụ cuộc chiến. Tuy nhiên trước tình hình
thực tế gây ra rất nhiều khó khăn cho chính phủ Việt Nam Cộng hòa, ở khu vực Tây Nguyên
địa bàn thuộc Vùng II chiến thuật, Tây Nguyên được xem là “Nóc nhà của Đơng Dương” lực
lượng nào kiểm sốt được khu vực này được sẽ có nhiều thuận lợi cho cuộc chiến. Trước những
chính sách mà Nguyễn Văn Thiệu đã đưa ra trong Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa và được cơng
nhận ngày 01/04/0967, đây như một làn sóng đã xoa dịu làm giảm bớt tình hình phức tạp ở
miền Nam Việt Nam. “Quốc gia chủ trương sự bình đẳng giữa các công dân không phân biệt
nam, nữ, tôn giáo, Sắc tộc, đảng phái. Đồng bào dân tộc thiểu số được đặc biệt nâng đỡ để kịp
theo đà tiến bộ của dân tộc” (Điều 2, Bộ PTST), “Quốc gia công nhận sự hiện hữu của các Sắc
tộc thiểu số trong cộng đồng Việt Nam. Quốc gia tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào
Thiểu số và một đạo luật sẽ quy định những quyền lợi đặc biệt để nâng đỡ đồng bào Thiểu số”
(Điều 24, Bộ PTST). Bên cạnh đó, những nội dung của Điều 97 và 98 của Hiến pháp là dự trù
thành lập một Hội đồng Sắc tộc, đảm nhận trọng trách quan trọng làm cố vấn cho chính phủ
Việt Nam Cộng hòa những vấn đề liên quan đến đồng bào dân tộc Thiểu số.
Không dừng lại, chính phủ Việt Nam Cộng hịa đã pháp lý hóa Hiến pháp về vấn đề nâng
đỡ đồng bào Sắc tộc với khẩu hiệu; người Kinh và người Thượng điều là công dân trong cộng
đồng Quốc gia, như vậy người Thượng từ đây có đủ quyền lợi như người Kinh, vì cịn chậm
phát triển nên cần được các biện pháp nâng đỡ đặc biệt.
107
Ngày 19/04/1967, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban hành pháp
Trung ương và kiêm Tư lệnh Khơng qn của Qn đội Việt Nam Cộng hịa đã công bố trước quốc
dân của cộng đồng Quốc gia, Tun cáo của chính Việt Nam Cộng hịa, cơng bố đường lối và chính
sách đại đoàn kết dân tộc. Ngày 25 - 26/06/1967, tại Pleiku đã tổ chức đại hội các Sắc tộc thiểu số
trong cộng đồng Quốc gia và khi kết thúc đại hội đã đưa lên Chủ tịch Ủy ban hành pháp Trung
ương một bản thỉnh nguyện về các quy chế riêng biệt, một bản kiến nghị và một bản tuyên cáo.
Đến ngày 29/08/1967, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu hiện đang là Chủ tịch Ủy ban lãnh
đạo Quốc gia đã lên Ban Mê Thuột và phê duyệt sắc luật số 033/67 đây là những Quy chế riêng
biệt cho các Sắc tộc Thiểu số. Trong Sắc luật 033/67 đã ban hành các quy chế riêng biệt cho
đồng bào Thiểu số gồm các điều:
“Điều 1: Xúc tiến thành lập Hội đồng Sắc tộc.
Điều 2: Công chức người thiểu số bổ nhiệm vào các chức vụ tương xứng. với khả năng
và được hưởng các điều kiện rộng rãi trong các kỳ thăng thưởng, nhập ngạch.
Điều 3: Thanh niên Thiểu số được gia nhập những lực lượng an ninh địa phương và được
giảm điều kiện văn bằng để theo học các trường sĩ quan, thành lập Trường Thiếu Sinh Quân
Cao Nguyên thâu nhận trẻ em người Thiểu số.
Điều 4: Tôn trọng quyền sở hữu đất đai của đồng bào Thượng. Phát triển nông nghiệp,
thương nghiệp, công kỹ nghệ.
Điều 5: Thực hiện chương trình cải tiến dân sinh.
Điều 6: Phát triển giáo dục bằng cách nâng đỡ học sinh và sinh viên Thiểu số trong vấn
đề ăn học và trong các kỳ thi lấy văn bằng dạy thổ ngữ tại bậc tiểu học.
Điều 7: Thành lập viện bảo tàng nhân chủng và viện nghiên cứu Sắc tộc.
Điều 8: Tái lập tòa án phong tục.” (Hồ sơ TTLTQGII, số 2566, phông BPTST).
Đến năm 1972, chính quyền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa, đã ban hành quyết định cho Hội
đồng văn hóa giáo dục lên kế hoạch xây dựng các dự án, trong đó nổi bật là “Chính sách văn
hóa giáo dục”, đến năm 1973 được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ban hành và đưa chính sách
văn hóa giáo dục lên hàng quốc sách. Chính sách văn hóa giáo dục gồm có 03 phần:
Phần thứ nhất: chính sách văn hóa giáo dục trong chính sách chung của cộng đồng Quốc gia.
Phần thứ hai: chính sách văn hóa.
Phần thứ ba: chính sách giáo dục.
Trong “Chính sách văn hóa” gồm có 5 chương giới thiệu về tồn bộ nội dung của “Chính
sách văn hóa” trên tất cả các lĩnh vực hoạt động. Năm 1974, với việc phổ biến văn hóa và trao
đổi văn hóa trong và ngồi nước, Hội đồng các sắc tộc đã xây dựng một dự án: Chính sách sắc
tộc điển hình trong đó nội dung Chương IV bảo đảm phù hợp trên các nguyên tắc chung và
chính sách cụ thể về việc bảo tồn và phát huy văn hóa của các dân tộc thiểu số, dự án này chỉ
phù hợp và dành riêng cho văn hóa của các sắc tộc thiểu số.
Như vậy, trước các phong trào nổi dậy đấu tranh của đồng bào dân tộc thiểu số điển hình
ở khu vực Tây Nguyên thuộc Vùng II chiến thuật, đã gây ra nhiều khó khăn cho chính phủ Việt
Nam Cộng hòa, qua các giai đoạn. Đến khi chính phủ nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa do
108
Nguyễn Văn Thiệu lên nắm chính quyền, đã ban hành nhiều chính sách mềm mỏng và linh hoạt
để xoa dịu mâu thuẫn dẫn đến đấu tranh giữa đồng bào Thượng với chính phủ Việt Nam Cộng
hịa, trong đó nổi bật là ban hành “Hiến pháp hóa” Việt Nam Cộng hịa, ban hành các quy chế
riêng biệt cho đồng đồng bào Thượng.
Chính phủ nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa, đã nhìn thấy được nguồn gốc của vấn đề, đó
là vấn đề tôn trọng giữa các dân tộc với nhau, nên đã đề ra các chính sách nâng đỡ đồng bào
Thượng và cơng nhận người Thượng. Từ đây, người Thượng có đủ quyền lợi như người Kinh,
nhưng thật ra, bản chất của vấn đề sâu xa là chính phủ Việt Nam Cộng hòa, muốn chuyển hướng
từ đàn áp các phong trào nổi dậy của đồng bào Thượng sang một hướng mới, đó là đấu tranh,
đối phó và dần dần thu phục họ trên mặt tư tưởng, cuối cùng sẽ ngã về phía chính phủ Việt Nam
Cộng hòa. Và xa hơn nữa là kiểm sốt được Tây Ngun một vị trí khơng những rất quan trọng
của Vùng II chiến thuật, mà nó cịn tác động trực tiếp đến tình hình tồn lãnh thổ miền Nam
Việt Nam, để chống lại lực lượng Cách mạng.
2.3. Hoạt động đào tạo học viên người dân tộc thiểu số của chính quyền Việt Nam
Cộng hịa
2.3.1. Trường Thiếu Sinh quân Vũng Tàu và Cao Nguyên
2.3.1.1. Trường Thiếu Sinh quân Vũng Tàu
Sau Hiệp ước Giáp Thân năm 1884, đất nước Việt Nam chính thức trở thành thuộc địa của
thực dân Pháp, trong chương trình khai thác thuộc địa tại Việt Nam đem về phục vụ cho chính
quốc, thực dân Pháp đã nhận thấy được các phong trào nổi dậy đấu tranh của dân tộc Việt Nam
chống lại chính quyền nhà nước thực dân, bên cạnh đó thực dân Pháp gặp phải nhiều cuộc nổi dậy
đấu tranh của người Thượng ở Cao Ngun. Năm 1899, Tồn quyền Đơng Dương Paul Doumer
cho thành lập 02 đơn vị quân đội Bảo hộ Pháp tại Hà Nội và Sài Gòn và sau này được lập thành
02 toán Thiếu Sinh quân, trong giai đoạn đầu mỗi Toán Thiếu Sinh quân chỉ gồm 10 người. Sau
cùng, với việc không ngừng phát triển tăng lên 20 người và 50 người, về sau với việc Toán Thiếu
Sinh quân tăng lên đã buộc chính quyền người thực dân Pháp đổi thành Trường Thiếu Sinh quân.
“Trước năm 1954, tại mỗi Quân khu điều có một Trường Thiếu Sinh quân:
- Trường Thiếu Sinh quân, Quân khu 4 được thành lập tại “Le Lac” Ban Mê
Thuột để huấn luyện các thiếu nhi Thượng
- Trường Thiếu Sinh quân, Quân khu 1 tại Mỹ Tho
- Trường Thiếu Sinh quân, Quân khu 2 tại Huế
- Trường Thiếu Sinh quân, Quân khu 3 tại Hà Nội
- Trường Thiếu Sinh quân, Nùng tại Móng Cái
- Trường Thiếu Sinh quân, Đông Dương tại Vũng Tàu.” (Đỗ Văn Tú, 1973)
Đến năm 1954, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành 02 khu vực giải giáp quân
đội của 02 chính phủ, đã gây ra những khó khăn cho các Trường Thiếu Sinh qn. Năm 1956,
Ngơ Đình Diệm chỉ đạo cho Trung tướng Lê Văn Tỵ đang giữ chức vụ Tổng tham mưu Trưởng
quân đội Việt Nam Cộng hòa, tập trung các Trường Thiếu Sinh Quân lại thành một khối duy
nhất tại Vũng Tàu, nhằm mục đích thống nhất việc huấn luyện và góp phần tăng thêm tiện nghi
109
để đáp ứng nhu cầu phù hợp với quân đội Việt Nam Cộng hịa, đang trên đà trưởng thành. Từ
đó các học viên Trường Thiếu Sinh quân Vũng Tàu được quốc gia Việt Nam Cộng hịa, ni
dưỡng đầy đủ hơn và được tổ chức huấn luyện một cách bài bản và chính quy, để đạt được
những kết quả tốt nhất.
2.3.1.2. Trường Thiếu Sinh quân Cao Nguyên
Ngày 21/05/1951, Quốc trưởng Bảo Đại của Quốc gia Việt Nam đã ban hành Dụ số
16/QT/TD, ban hành các quy chế riêng cho các Sắc tộc Thượng tại Cao Nguyên miền Nam gồm
10 quy chế. Trong đó về lĩnh vực quân sự với quy chế số 9 và 10.
“9. Đào tạo cán bộ Thượng các ngành y tế, quân sự, hành chính và giáo dục cung ứng
cho nhu cầu địa phương
10. Việc thi hành quân dịch không áp dụng gắt gao với đồng bào Thượng và các binh sĩ
Thượng được tổ chức thành những đơn vị sơn cước ưu tiên phục vụ tại Cao Nguyên” (Đắc Hữu
Thiên, 1972).
Qua đó, thấy được việc tập hợp và sử dụng lực lượng đồng bào sắc tộc không những được
các vương triều phong kiến Việt Nam chú trọng, mà ngay cả Quốc trưởng Bảo Đại tận dụng
một cách hết sức khôn khéo, để ổn định được khu vực Cao Nguyên.
Năm 1956, các Trường Thiếu Sinh quân được tập trung lại thành một khối ở Vũng Tàu
để đào tạo các học viên ở miền Nam Việt Nam, tuy nhiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vì
có những phong tục tập quán địa phương nên họ đã dần giảm bớt gửi con em theo học tại Vũng
Tàu. Nhận thấy được vấn đề trên, ngày 13/11/1964 theo tinh thần sự vụ văn thư số
1829/TTL/QH/2/K Trường Thiếu Sinh Quân Cao Nguyên được chính thức khởi công xây dựng
ở Pleiku và được khánh thành ngày 05/06/1965.
Đây là hành động mang tính chiến lược, xây dựng một lực lượng quân sự hóa, trong đó
người đồng bào dân tộc thiểu số nắm giữ vai trò chủ chốt, đào tạo ra một lực lượng “cán bộ
nguồn” để lãnh đạo đồng bào dân tộc thiểu, góp phần ổn định tình hình miền Nam Việt Nam
và chống lại lực lượng Cách mạng.
2.3.2 .Qúa trình tuyển chọn của các Trường Thiếu Sinh quân
Điều kiện nhập học: Trường Thiếu Sinh quân hàng năm thường tổ chức thu nhận các
học viên là con em của các đồng bào dân tộc thiểu số vào đầu tháng 08 dương lịch. Để bảo
đảm điều kiện nhập học ở trường, thì các Thiếu Sinh quân sắc tộc phải được chọn trong số
con chính thức và được thừa nhận hoặc con ni có giấy cơng nhận của Tịa án Qn Dân
Chính sắc tộc có cơng đối với Quốc gia và phải được thông qua các thứ tự sau đây:
“- Con của tử sĩ và thương phế binh thuộc quân lực Việt Nam Cộng hòa.
- Con của cơng chức và cán bộ đã bỏ mình vì Tổ Quốc hay bị phế tật vì cơng vụ.
- Con qn nhân, cơng chức và cán bộ có nhiều thẩm thâm niên quân vụ hay công vụ.
- Trường hợp đặc biệt do giới chức có thẩm quyền thâu nhận quyết định” (Đỗ Văn Tú, 1973).
Nhằm bảo đảm số lượng học viên, nên mỗi gia đình chỉ được gửi tối đa 02 con em theo học
tại trường. Ngoài ra, độ tuổi của các học viên được Trường thu nhận phải từ 12 - 15 tuổi tính đến
ngày 01/08 Dương lịch. Về hồ sơ nhập học đối với Học viên Thiếu Sinh quân Sắc tộc bao gồm:
110
“- Đơn xin do cha mẹ đứng tên (có mẫu).
- Chứng chỉ học trình của Thiếu Sinh quân.
- Tờ cam kết bồi thường số tiền ni dưỡng và học phí (có mẫu).
- Bản tướng mạo quân vụ của người cha.
- Chứng chỉ hạnh kiểm và trung thành với Chính phủ của phụ huynh và của Tân Thiếu
Sinh quân.
- Chứng chỉ sắc Tộc chứng nhận là:
- Thượng miền Nam.
- Thượng miền Bắc di cư.
- Sắc dân Chàm (do Bộ phát triển Sắc tộc cấp).
- Chứng minh thư thâm niên công vụ (nếu người cha là công chức)
- Giấy bảo đảm cho Thiếu Sinh quân đi phép (có mẫu)
- Đơn xin cho Thiếu Sinh quân được tham dự các tổ chức giải trí và đi phép miễn rước
(có mẫu)” (Đỗ Văn Tú, 1973).
Trong thời gian thu nhận hồ sơ:
“- Hồ sơ được lập đầy đủ, gửi đến Ty phát triển sắc tộc địa phương hoặc Tiểu khu theo
thời gian ấn định trong thông cáo.
- Ty phát triển sắc tộc địa phương hoặc Tiểu khu chuyển lên Bộ Tư lệnh Quân khu liên hệ.
- Bộ Tư lệnh Quân khu liên hệ chuyển tất cả hồ sơ về Bộ Tổng tham mưu (Tổng cục Quân
huấn) để cứu xét” (Đỗ Văn Tú, 1973).
Đối với các trường hợp Thiếu Sinh quân sắc tộc mà hồ sơ bị rớt trong quá trình tuyển
chọn, thì Trường Thiếu Sinh quân sẽ tiến hành cứu xét hồ sơ:
“a. Trường Thiếu Sinh quân Cao Nguyên đề cử I Sĩ quan về Bộ TTM/TCQH để tham dự
xét hồ sơ và tuyển thâu Thiếu Sinh quân Cao Nguyên.
b. Bộ TTM/TCQH sẽ ban hành quyết định thâu nhận TSQ/CN, Quyết định này được phổ
biến trực tiếp đến Ty phát triển Sắc tộc để nơi đây gọi và đưa Thiếu Sinh quân đến nhập học
Trường TSQ/CN.
c. Trường Thiếu Sinh quân Cao Nguyên liên lạc với Ty phát triển Sắc tộc để phổ biến và
giải thích thêm và các thủ tục nêu trên” (Đỗ Văn Tú, 1973).
2.3.3. Qúa trình đào tạo
2.3.3.1. Chương trình giáo huấn văn hóa
“Trường Thiếu sinh quân và Trung tâm Thiếu Sinh quân, có nhiệm vụ rèn luyện các Thiếu
Sinh quân về Đức – dục, Trí – dục, Thể - dục và hướng dẫn các em về binh nghiệp hầu trở thành các
cán bộ ưu tú của Quân lực sau này.” (Hồ sơ TTLTQG II, số 7166, phông: Phủ Thủ tướng VNCH).
“Điều thứ 22: Văn hóa
a. Phần Văn hóa đức – dục và thể dục áp dụng theo chương trình của Bộ Giáo dục. Riêng
Thiếu Sinh qn gốc thiểu số, chương trình có thể gia giảm sao cho thích hợp trình độ thiếu sinh.
111
b. Các lớp văn hóa được mở tại Trường: từ lớp Bốn đến lớp Mười Hai (lớp Nhì đến Đệ
Nhất theo danh hiệu cũ). Riêng tại Trung tâm Thiếu Sinh quân/ Cao Nguyên, các lớp học được
mở tùy theo trình độ và sự tiến triển của Thiếu Sinh” (Hồ sơ TTLTQG II, số 7166, phơng: Phủ
Thủ tướng VNCH)
2.3.3.2. Chương trình giáo huấn quân sự
“a. Khi mới nhập Trường, Thiếu Sinh quân sẽ được huấn luyện thuần túy quân sự trong
thời gian tối thiểu 02 tuần lễ về quân kỷ đại cương và cơ bản thao diễn không súng.
b. Từ 12 tuổi đến 17 tuổi, Thiếu Sinh quân phải học hết chương trình căn bản quân sự.
Chương trình huấn luyện dựa theo chương trình huấn luyện tân binh với những sự sửa đổi cần
thiết cho phù hợp với thể chất của Thiếu Sinh quân.
c. Đến tuổi đầu quân, Thiếu Sinh quân sẽ được học khóa CC1 Bộ Binh tại Trường Thiếu
Sinh quân, Quân lực Việt Nam Cộng hòa” (Hồ sơ TTLTQG II, số 7166, phơng: Phủ Thủ
tướng VNCH)
2.3.4. Qúa trình hỗ trợ
2.3.4.1. Trong thời gian học tập tại Trường
Trong quá trình theo học tại trường, các Thiếu Sinh quân Sắc tộc sẽ được nhà trường hỗ
trợ các quyền lợi sau:
“- Ở nội trú.
- Lãnh quân trang.
- Lãnh tiền quà hàng tháng.
- Nghỉ phép vào ngày lễ hay bãi trường.
- Nuôi ăn theo giá biểu Binh sĩ.
- Lãnh học phẩm.
- Hớt tóc miễn phí.
- Học văn hóa đúng theo chương trình Bộ văn hóa giáo dục.
- Học quân sự khi đến gần tuổi ra Trường (18 tuổi)” (Đỗ Văn Tú, 1973).
2.3.4.2. Sau khi tốt nghiệp
Sau khi tốt nghiệp ra trường, các Thiếu Sinh quân sắc tộc sẽ được nhà trường hỗ trợ các
quyền lợi sau:
“- Sau khi đầu quân vào quân lực Việt Nam Cộng hòa sẽ được thăng Hạ sĩ I ngay khi ra
trường phục vụ và lên cấp Trung sĩ sau 06 tháng nếu có bằng CC1 Bộ binh.
- Theo học khóa Sĩ quan nếu học hết chương trình lớp 9 trở lên (do trường TSQCN cấp).
- Theo học khóa Hạ sĩ quan, nếu học từ lớp 5 đến lớp 8 (do trường TSQCN cấp)” (Đỗ
Văn Tú, 1973).
2.4. Kết quả đào tạo học viên người dân tộc Thiểu số của các trường Thiếu Sinh Quân
Việt Nam Cộng hòa
Sau khi chính phủ Việt Nam Cộng hòa, ban hành một số quy chế riêng biệt cho đồng bào
112
dân tộc thiểu số, trong đó đặt trọng tâm vào công tác giáo dục dân sự và quân sự cho học sinh,
sinh viên và học viên người đồng bào dân tộc thiểu số, thì đã được một số thành tựu đáng chú ý:
Trong khóa 1967, 1968 Tại các Trường Trung cấp, Cao đẳng chuyên nghiệp và các Viện đại học.
Ở lĩnh vực “Quân sự: 39 thiếu nhi được nhập học tại trung tâm Thiếu Sinh quân Cao
Nguyên và 21 Thiếu Sinh quân tại trung tâm Thiếu Sinh quân Cao Nguyên lập thủ tục đầu quân
vào Việt Nam Cộng hòa,....” (Lê Đình Chi, 1969).
Trong lĩnh vực đào tạo chuyên viên các ngành, chính phủ Việt Nam Cộng hòa, đã đào tạo
cán bộ các ngành để đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội Sắc tộc với sự trợ giúp khuyến khích và
cố gắng của các cấp chỉ huy trong Ty phát triển Sắc tộc đã mang lại nhiều thành tựu lo lớn; Theo
bảng thống kê tính từ 17/10/1964 đến niên học 1972-1973 về tình trạng sinh viên học sinh Sắc
tộc đang theo học và tốt nghiệp tại các Trường Đại học chuyên nghiệp Kỹ thuật và Quân sự (tính
đến tháng 12 năm 1972). Trong lĩnh vực quân sự học viên Sắc tộc thiểu số đang học tại trường
Thiếu Sinh quân Cao Nguyên: đồng bào Thượng miền Nam (86 Học viên), đồng bào Thượng
miền Bắc (272 Học viên), Sắc dân Chàm (9 Học viên). Trong lĩnh vực quân sự học viên đồng
bào dân tộc thiểu số tốt nghiệp tại trường Thiếu Sinh quân Cao Nguyên: đồng bào Thượng miền
Nam (206 Học viên), đồng bào Thượng miền Bắc (236 Học viên), Sắc dân Chàm (69 Học viên).
3. KẾT LUẬN
Chính phủ nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Phó
Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đã thay đổi tất cả những chính sách của chính quyền Ngơ Đình
Diệm, bằng chính sách “Đại đoàn kết dân tộc” làm xoa dịu đi sự bất mãn giữa người đồng bào
thiểu số với người Kinh và ban hành nhiều quy chế riêng biệt để nâng đỡ phát triển người đồng
bào dân tộc thiểu số. Nhưng thật ra đây chỉ là chiêu trò biện pháp mà Nguyễn Văn Thiệu và
Nguyễn Cao Kỳ, dùng để khai thác triệt để và lợi dụng người đồng bào thiểu số để ổn định tình
hình miền Nam Việt Nam ở các vùng rừng núi, nông thôn, nhất là địa bàn Vùng II chiến thuật,
và quan trọng nhất sử dụng đội ngũ người đồng bào Thiểu số chống lại chính quyền Cách mạng.
Việc thành lập các trường Thiếu Sinh quân và ra sức tạo điều kiện cho con em đồng bào
các dân tộc thiểu số đi học tại các trường quân sự và dân sư, là một trong những hình thức,
chiêu trị, mang tính quy mơ và hết sức rõ ràng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, với việc
tuyên truyền những tư tưởng chống phá lại lực lượng Cách mạng và sử dụng những kỷ luật
trong quân đội để ra lệnh, áp đặt và bắt buộc phải thực thi vào các Sĩ quan trong tương lai này,
thực hiện công việc đàn áp và cai trị các Sắc tộc của chính bản thân các Sĩ quan tương lai này,
xây dựng một lực lượng “quân đội miền sơn cước” để chống, phá, và đàn áp các tổ chức hoạt
động của chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt
Nam, trên địa bàn vùng rừng núi và nơng thơn.
Đây là một hình thức chiến lược đàn áp kiểu mới của chính quyền nền Đệ nhị Việt Nam
Cộng hòa, sau những kinh nghiệm được rút ra từ chính quyền Ngơ Đình Diệm, thất bại trong việc
“đồng hóa” và cai trị người đồng bào dân tộc thiểu số, chính quyền nền Đệ nhị Việt Nam Cộng
hòa, thấy được nguồn gốc sâu xa “cơn thịnh nộ của người Thượng” nên đã đề ra hướng giải quyết
tận gốc rễ và thuận lợi cho việc cai trị người đồng bào dân tộc thiểu số, để tạo ra một phòng tuyến
hết sức vững chắc bảo vệ Tây Nguyên nằm trong địa bàn Vùng II chiến thuật, nơi được xem là
cái nôi của đồng bào dân tộc thiểu số ở miền Nam Việt Nam, và lãnh thổ miền Nam Việt Nam.
113
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ phát triển sắc tộc, “Chính sách phát triển sắc tộc của chính phủ Việt Nam Cộng hòa”, VN271,
Trung tâm lưu trữ Quốc gia II.
2. Lê Đình Chi (1969), Vấn đề đồng bào Thiểu số tại Việt Nam. Sài Gòn: Luận văn tốt nghiệp Cao học
hành chánh.
3. Nguyễn Trọng Chóng (1972). Vấn đề các Sắc tộc thiểu số trong cộng đồng Quốc gia Việt Nam. Sài
Gòn: Luận văn tốt nghiệp Học viện quốc gia hành chánh.
4. Nguyễn Trắc Dĩ (1972). Đồng bào các sắc tộc thiểu số Việt Nam (nguồn gốc và phong tục). Sài Gòn.
5. Đỗ Hữu Long (1968). Vấn đề dân tộc Thiểu số tại Việt Nam. Sài Gòn: Luận văn tốt nghiệp Học viện
Quốc gia hành chánh.
6. Pall Nưr (1966). Sơ lược về Chính sách Thượng vụ trong lịch sử Việt Nam. Trung tâm lưu trữ Quốc
gia II.
7. Sắc luật 033/67: Quy chế riêng biệt cho đồng bào Thượng. phông BPTST, hồ sơ 2566. Trung tâm
lưu trữ Quốc gia II.
8. Phạm Thúc Sơn (2019). Chính sách của chính quyền VNCH đối với phong trào đấu tranh của Fulro
(1958 - 1969). Tạp chí Xưa nay, số 505, Tr. 33-39.
9. Phạm Thúc Sơn (2020). Chính sách ruộng đất của chính quyền VNCH đối với các dân tộc thiểu số
ở Tây Nguyên từ 1955 – 1975 (Luận án Tiến sĩ Lịch sử). Trường ĐHSP TP. HCM.
10. Đắc Hữu Thiên (1972). Chính sách Thượng vụ của nền Đệ nhị Cộng hòa. Sài Gòn: Luận văn tốt
nghiệp Học viện Quốc gia hành chánh.
11. Đỗ Văn Tú (1973). Vấn đề giáo dục sinh viên học sinh các Sắc tộc. Trung tâm lưu trữ Quốc gia II.
12. Nguyễn Văn Tiệp (2013). Chính sách dân tộc của chính quyền VNCH và tác động của nó đối với
vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên (1954 - 1975). Đại học KHXH&NV TP.HCM.
13. Tài liệu của BQP về tổ chức “Trường xã hội Quân đội”, “Trường Thiếu Sinh quân”, “Trường Quốc
gia Nghĩa Tử” từ năm 1970 – 1971. phông: Phủ Thủ tướng VNCH, hồ sơ số 7166. Trung tâm lưu
trữ Quốc gia II.
14. Cao Viễn (1974). Bộ phát triển Sắc tộc và vấn đề huấn luyện Viên chức xã ấp Thượng. Sài Gòn:
Luận văn tốt nghiệp Trường Quốc gia hành chánh.
114